Head

 

 

Benh Tat cua Nguyen Du

Cảnh nghèo khó và bệnh tật của thi hào Nguyễn Du (1765 - 1820)

Cỏ cây trong Truyện Kiều

Ngày giờ nàng Kiều bị bắt

Cái ghen của Hoạn Thư

Cù lao chín chữ

Mối tình của Hồ Xuân Hương


:: Cảnh nghèo khó và bệnh tật của thi hào Nguyễn Du:


1) Khi Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ kéo đại binh ra Bắc đánh tan hơn hai mươi vạn quân Thanh. Tôn Sĩ Nghị hoảng hốt bỏ cả ấn tín thoát thân về nước, vua Chiêu Thống chạy theo sang Tàu. Nhà Lê cáo chung. Thời thế thay đổi, chỉ mới đỗ Tam Trường (Tú Tài) Nguyễn Du đã phải bỏ học trở về quê vợ, sống nhờ nhà người anh vợ ở Quỳnh Côi, Thái Bình. Ðoạn đời mười năm gió bụi bắt đầu khi ông mới 22 tuổi (1786 - 1795).

Thời gian này ông sống cảnh "ăn gởi nằm nhờ" nay ở bờ sông mai bãi bể (lữ thực giang tân hựu hải tân); sinh kế cùng quẫn, thân lại mang bệnh tật liên miên hành hạ ông đến cả mùa xuân, đã vậy lại nghèo quá không có thuốc uống (tam xuân tích bệnh bần vô dược); trời mới chớm thu, khí trời hơi se lạnh ông đã thấy khổ vì không áo (tảo hàn dĩ giác vô y khổ), mới ba mươi tuổi mà tóc đã bạc trắng: 

Thập tải phong trần khứ quốc xa,

Tiêu tiêu bạch phát ký nhân gia.

(U cư - Thanh Hiên thi tập)

(Mười năm gió bụi bỏ quê hương đi xa,

Bơ phờ đầu bạc ở nhờ nhà người)

(Ở nơi u tịch)


2) Sau khi khởi nghĩa chống Tây Sơn thất bại (1796), lúc này ông đã 31 tuổi, vợ chết để lại một đứa con. Ra khỏi tù ông quyết định trở về quê nhà ở ẩn dưới chân núi Hồng Sơn (1796 - 1802) bên bờ sông Lam. Ðời sống cũng không khá gì hơn, cái nghèo đói vẫn giày vò, thiếu ăn thiếu mặc, thân mình xương bọc da (phong trần đội lý hưu bì cốt), bếp lạnh tro tàn suốt ngày không đỏ lửa (táo đầu chung nhật vô yên hỏa), bệnh cũ lại tái phát đến nỗi ông phải nằm liệt giường mấy tháng trời phó mặc cho chuột đói leo lên giường gặm sách:


Ða bệnh đa sầu khí bất thư,

Thập tuần khốn ngọa Quế giang cư.

Lệ thần nhập thất thôn nhân phách,

Cơ thử duyên sàng khiết ngã thư. 

(Ngọa bệnh)

(Lắm bệnh nhiều buồn khí không thư thái,

Mười tuần nằm liệt bên bờ Quế giang.

Thần dịch lệ vào nhà bắt hồn vía người,

Chuột đói leo lên giường gặm sách vở ta)

(Nằm bệnh) (1)


3) Cảnh sống ẩn dật chung quanh toàn là núi xanh (xử sĩ môn tiền thanh giả sơn), chẳng có ai thăm hỏi (thập niên túc tật vô nhân vấn), cạnh gối chỉ có chồng sách đỡ tấm thân bệnh tật (chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt); đã vậy cười khóc cũng phải tùy thời vì thân mình bị nghi kỵ (tiếu đề tuẫn tục can qua tế), tâm sự không biết ngỏ cùng ai (ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ); cuộc đời cô đơn buồn bã đến cùng cực (u cư sầu cực)! (2)

Ông cảm thấy sống chưa làm nên danh phận gì mà thân đã suy yếu (sinh vị thành danh thân dĩ suy) khiến ông lo nghĩ đến tóc bạc bơ phờ (tiêu tiêu bạch phát mộ phong xuy) và bị chứng mất ngủ (bất mị)"không sao tìm ra được nghiệm số cho các phương trình nhân sinh":


Bất mị thính hàn canh,

Hàn canh bất khẳng tận.

. . . . . 

Ám tụng Vấn thiên chương,

Thiên cao hà xứ vấn?

(Bất mị)

(Không ngủ nghe điểm canh lạnh,

Canh lạnh điểm mãi không thôi.hông thôi.

. . . . .

Thầm đọc Vấn thiên chương,

Trời cao biết đâu mà hỏi?)  (3)


4) Tóm lại cụ Nguyễn Du của chúng ta ngoài cảnh sống khốn khổ còn bị đủ các chứng bệnh hành hạ: đầu tóc bạc sớm, xương cốt đau nhức, cột sống biến dạng, tứ chi gầy còm, hệ miễn dịch suy yếu, mất ngủ...; vậy mà cụ có tới ba vợ và mười tám con (12 trai + 6 gái). Cụ mất khi chỉ mới 55 tuổi (16-9-1820) trong một nạn dịch.


Bác sĩ Trần Văn Tích định bệnh: thận cụ bị suy và cho toa: "các vị thuốc bổ thận bậc nhất là là Thục địa, Dâm dương hoắc (tên thuốc đủ nói rõ công năng), Bắc Ngũ vị, Câu kỷ; các vị thuốc bổ thận bậc nhì có Sinh địa, Ba kích thiên, Hà thủ ô (lại tên thuốc đầy ý nghĩa!), Ðỗ trọng, Qui bản, Hải sâm. Thang thuốc đắc dụng có thể là Hữu qui hoàn nếu thận dương bất túc có vẻ thiên thắng, là Tả qui hoàn nếu thận âm bất túc có vẻ thiên thắng. Hoặc đơn giản hơn, quen thuộc hơn, kinh điển hơn, có thể kê đơn Lục vị địa hoàng hoàn. Thang phương này trình bày dưới dạng đặc chế thuốc viên trên thị trường Trung dược Âu châu hiện thời mang tên Six Flavor Teapills, mỗi hộp 200 viên, mỗi viên 0,18 gr, giá bán sỉ 3,00 Âu kim, giá bán lẻ 4,77 Âu kim. Tính ra mỗi hộp giá chỉ chừng 5 Mỹ kim. Giá Nguyễn Du được tỵ nạn ở Ðức ... Và nghĩ mà thương Nguyễn Du quá chừng ..." (1)


1) Hồ sơ bệnh lý Nguyễn Du, Trần Văn Tích, Văn Học số 207, tháng 7/2003, trang 6.

2) Tìm Hiểu Nguyễn Du Và Truyện Kiều, Nguyễn Quảng Tuân, NXB KHXH, 2000, trang 19.

3) Chứng mất ngủ của Nguyễn Du, Trần Văn Tích, Văn Học số 208 & 209, tháng 8&9/2003, trang 65.


Mấy Nhịp Cầu Tre:


- Nghe lời chê bai mà giận là khiến cho người ta gièm pha. Nghe câu khen ngợi mà mừng là khiến cho người ta nịnh hót. (Vân Trung Tử)

- Bạn hãy nên coi như lời chê trách khi người ta ca ngợi bạn mà bạn không hề xứng đáng (A. Mercereau)

- Sự khiêm nhường luôn gắn với khoan dung và sự kiêu ngạo dính dáng với ghen tỵ. (Rivarol)

- Người khiêm tốn không phải là người thờ ơ với những lời khen, mà là người chăm chú nghe những lời chỉ trích. (Jean Paul Sartre)


- Trong tình bạn nếu không dung thứ nhau những khuyết điểm nhỏ thì khó mà kết thân với nhau lâu bền được. (La Bruyère)

- Tình bạn là một tâm hồn ở trong hai cơ thể và một cơ thể ở trong hai tâm hồn. (Aristote)

- Tình bạn chân thành là một cái cây mọc chậm và phải thử thách, phải chịu đựng nhiều nghịch cảnh trước khi được gọi bằng danh hiệu đó.(Washington)

- Trách bạn ở chỗ vắng, khen bạn ở chốn đông. (Syrus)


- Có lần nhà văn Moritj Saphir (1795 - 1858), nhà văn trào phúng nổi tiếng người Ðức, cãi nhau với một nhà thơ. Anh này vốn ghét ông, nói một cách hằn học:

- Thưa ngài Saphir, ngài viết chỉ vì tiền. Còn tôi thì viết vì danh dự. Saphir từ tốn đáp:

- Vâng! Mỗi chúng ta viết chính vì cái chúng ta thiếu.





:: Cỏ Cây trong Truyện Kiều:



1) Theo Giáo Sư Trần Văn Tích, cụ Nguyễn Du đã đề cập đến các loài thực vật sau đây qua hơn ba ngàn câu thơ lục bát trong Truyện Kiều:

Bách, bèo, bình bồng, bồ, bồ đề, bồ hòn, bối, cải, cát, cúc, dâu, dương, đào, hải đường, hạnh, hoè, hồng mai, la, lan, lau, lê, liễu, lựu, lý, mai, mận, mẫu đơn, mướp đắng, ngô đồng, phần, phỉ phong, phù dung, quân, quế, quít, râm, rêu, sen, sắn, thuần, thung, trà mi, tranh, trầm, trúc, tùng, tử, vi lô, xuân.


2) Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong. (Câu 332)

Câu trên mô tả gia cảnh thanh bạch của nàng Kiều, các cuốn Truyện Kiều chú giải, khảo đính, ...hiểu phỉ phong là rau phỉ và rau phong. Củ hẹ (củ nén) có tên chữ hán là phỉ tử (tử là củ). Mathew's Chinese-English Dictionary dịch là một loài radish. Phỉ và phong là hai loại rau cỏ, củ và cọng đều có thể ăn được; vậy có thể là củ hẹcủ kiệu của ta.


3) Cây phù dung chỉ xuất hiện một lần trong Truyện Kiều:

Một tay chôn biết mấy cành phù dung. (Câu 1160)


Nó cũng xuất hiện trong Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm và Bích Câu Kỳ Ngộ:

Vẻ phù dung một đoá khoe tươi. (CONK) 

Phù dung lại đã bên sông bơ sờ. (CPN)

Giải chăn thúy vũ, buông màn phù dung. (BCKN) 


- Phù dung dùng để chỉ nét mặt người đẹp xuất xứ từ thơ Nguyên Chẩn đời Ðường.

Phù dung có 2 loại:

- Mộc phù dung (mộc liên) mọc ở trên đất tức hoa dâm bụt (hibiscus).

- Thảo phù dung mọc ở dưới nước tức hoa sen (lotus).

Phù dung trong hai câu thơ Kiều và Chinh Phụ Ngâm kể trên không thể là hoa sen, vì sen chỉ có cuống lá, cuống hoa, không có cành. Vả lại sen nở hoa trong hồ, trong đầm, chứ không trên sông hay bên sông. Như vậy, phù dung trong Truyện Kiều là một loài hoa dâm bụt. Ðặc biệt hoa dâm bụt trồng ở nước ngoài, có nhiều cánh hoa chồng chất lên nhau như hoa hồng rất đẹp, thật đúng là phù dung diện.


4) Tiếc thay một đóa trà mi, (Câu 845)

Con ong đã tỏ đường đi lối về!

Giá trà mi đã ngậm gương nửa vành. (Câu 1092)


Hai câu đầu diễn tả một cách thanh nhã việc nàng Kiều bị thất thân với Mã Giám Sinh. Câu sau có nghĩa: Giàn hoa trà mi ngậm lấy vầng trăng hạ huyền. Ðó là đêm Thúy Kiều hẹn trốn đi với Sở Khanh, vầng trăng đi chầm chậm như đứng lại trên giá đồ mi nên ta có cảm tưởng là giàn hoa ngậm lấy vầng trăng.        

Hoa trà mi đúng ra là hoa đồ mi nhưng các cụ ta xưa đổi thành trà mi vì cho rằng chữ đồ không được thanh nhã lắm. Ðó là giống hồng leo, người ta phải làm giá cho nó leo lên, hoa chỉ nở bé như hoa tường vi. 


5) Sắm sanh nếp tử xe châu. (Câu 77)

Có khi gốc tử đã vừa người ôm. (Câu 1046)

Ðoái thương muôn dặm tử phần. (Câu 2235)


Cụ Ðào Duy Anh hiểu cây tử là cây thị trong Tự Ðiển Truyện Kiều. Thật ra, cây tử (Catalpa) cao trên 10m, mọc ở Bắc Mỹ, Trung Hoa và ở châu Âu hay trồng làm cảnh. Cây thay lá hàng năm, lá lớn hình tim, hoa hình loa kèn màu vàng nhạt lấm tấm đỏ tía tụ thành chùm nơi đầu cành, quả hình đũa dài 30 cm, khác với cây thị (Diospyros) trồng nhiều ở Việt Nam, chỉ cao vừa phải, chừng 5-6 m, phiến lá hình trứng thuôn, nhỏ, hoa màu trắng, họp thành xim, quả tròn hơi dẹt, khi chín màu vàng, rất thơm.


Tài liệu tham khảo:

- Cỏ cây Truyện Kiều, Trần Văn Tích, Văn Học số 185, tháng 9/2001, trang 26.

- Tìm Hiểu Nguyễn Du Và Truyện Kiều, Nguyễn Quảng Tuân, NXB/KHXH, 2000, trang 435.


Kim Kiều Tái Hợp (Tranh của Họa sĩ Hồ Thành Ðức):



- Hạnh phúc, trước tất cả mọi cái, nằm ở trong sức khỏe ta vậy. (George William Curtis)

- Không nên nói về hạnh phúc của anh cho một kẻ kém may mắn hơn anh. (Plutarch)

- Tôi học được cách tìm thấy hạnh phúc của mình bằng sự giới hạn những dục vọng hơn là cố sức thỏa mãn chúng. (John Stuart Mill)

- Cảnh khổ ở đời không gì bằng già, ốm, biệt ly và mất lòng trông cậy. (Nguyễn Bá Học)

- Khi anh thấy khổ, anh hãy nghĩ đến những kẻ khổ hơn; đó là bài thuốc rất công hiệu. (Mme De Maintenon)

- Ngoài hy vọng ra không có thuốc nào chữa được sự khốn cùng. (Shakespeare)


Thầy đồ ra đề cho học trò: "Làm một bài thơ mừng tuổi 60, mỗi câu có một bộ phận của con người". Một anh đã xuất khẩu thành thi để châm biếm:


Vừa mới ngày nao tóc chấm vai

Ðốt tay bấm đã được sáu mươi

Bụng to chưa dễ đền ơn nước

Ngực lép còn may trả nợ người

Lỏng gối thế mà không nản chí

Chai chân lại vẫn cố yêu đời

Sáu mươi, ta lại sờ lên gáy

Bịt miệng nhân gian có kém ai!



:: Ngày Giờ nàng Kiều Bị Bắt:


1) Hai câu thơ tuyệt diệu sau đây, cụ Nguyễn Du tả một đêm thu khi chồng (Thúc Sinh) vắng nhà, nàng Kiều ra trước Phật đài thắp hương khấn vái:

Ðêm thu gió lọt song đào, (câu 1637)

Nửa vầng trăng khuyết, ba sao giữa trời.


Khấn chưa cạn lời thì lũ ác nhân ào đến tuốt gươm, tưới thuốc mê để "bắt cóc" nàng đi theo mưu của Hoạn Thư. Vậy nàng Kiều bị bắt vào ngày tháng giờ nào? Cửa sổ phòng nàng Kiều quay về hướng nào?


2) Ðêm nhìn bầu trời: thấy trăng tròn là biết ngày rằm, thấy trăng như đường lông mày mỏng (1) là biết đầu tháng hay cuối tháng, thấy trăng bán nguyệt là biết ngày mồng 7, mồng 8 hay ngày 23, 24.

Lúc đầu tháng, trăng mọc đầu hôm về hướng Tây, và đường cong ngoài quay về phía Tây (tức là quay bề huyền - nghĩa là bề thẳng - lên trên, về hướng Ðông: đó là trăng Thượng huyền). Lúc cuối tháng thì ngược lại, trăng mọc quá nửa đêm, ở hướng Ðông, và đường cong ngoài quay về phía Ðông (tức là quay đường huyền về hướng Tây: đó là trăng Hạ huyền).

Khi thượng huyền thì mặt trời xuống trước mặt trăng, vậy ở về phía Tây mặt trăng; khi hạ huyền thì mặt trời ở về phía Ðông mặt trăng.

   

Hai câu thơ trên có những điều cần lưu ý:


a) Nửa vầng trăng khuyết: Ngày này chưa đến mồng 7 hay chưa quá 20. Nàng Kiều lúc ấy còn ra Phật đài khấn vái thì trăng này là trăng đầu hôm và chưa đến mồng 7. Trăng đã khuyết khá nhiều (hình nó như lưỡi liềm) nên mới để ý đến sự khuyết đó. Cũng không phải trăng mới có, vì lúc ấy thấy sao đã rõ, trăng đã thấp lắm; vậy trăng này ở khoảng ngày mồng bốn.


b) Ba sao giữa trời: Ba sao này ở gần mặt trăng tạo thành một cảnh nên thơ. Ðó là chòm Sao Tâm (vòng đỏ trên trong hình). Thúc Sinh chính tên là Tâm (2). Nửa vầng trăng khuyết với ba ngôi sao nằm trên cũng thành hình chữ Tâm. Có lẻ cụ Nguyễn Du dụng tâm lấy hình trăng sao, lấy tên sao để ám chỉ cảnh nàng Kiều ban đêm ở trong phòng một mình nhớ đến Kỳ Tâm đi vắng.

Nếu ngày mồng 4, mà trăng ở sao Tâm thì mặt trời phải cách đó chừng 45 độ về phương Tây. Vậy ở vào Sao Giốc (vòng đỏ dưới trong hình).


Ðem bản đồ sao ra mà xem thì ngày ấy là ngày 15 tháng mười dương lịch, bấy giờ là tháng chín ta (phù hợp với câu thơ trên: Ðêm thu gió lọt song đào).  Mặt trời cách mặt trăng 45 độ (góc tư của nửa vòng tròn), vậy mặt trời xuống trước mặt trăng 1/4 của 12 giờ tức 3 giờ đồng hồ.

Mặt trời lặn lúc 6 giờ, thì mặt trăng lặn lúc 9 giờ. Lúc tả cảnh thì chắc là trăng sao đã tỏ, cũng chưa xế quá, Lấy trung bình 6 và 9 giờ mà tính thì khoảng 7 giờ rưởi, 8 giờ: nghĩa là vào giờ Tuất.

Tóm lại: nàng Kiều bị bắt ngày mồng bốn tháng chín, trong giờ Tuất.


c) Gió lọt song đào: Nàng Kiều ngồi trong phòng thì gió lọt qua cửa sổ, nhìn ra ngoài thấy trên trời có nửa vầng trăng khuyết và ba sao: lúc ấy trăng gần lặn về phía Tây. Sao Tâm khi nào cũng ở nửa trời Nam, như vậy: hướng cửa sổ phòng nàng Kiều ở về phía Tây-Nam.


Tài liệu tham khảo:

Cô Kiều Bị Bắt, La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn - tập I, NXB Giáo Dục, 1998, trang 1068.

(1) Mày ai (Kiều), trăng mới in ngần,

Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa. 

(2) Kỳ Tâm họ Thúc cũng nòi thư hương.


Qua Cầu Treo:


- Hãy chân thành, đó là cái bí quyết của sự hùng biện và đức hạnh; đó là cái uy thế của đạo đức; đó là phương châm cao cả nhất của nghệ thuật và đời sống. (Amiel)   

- Một người chân thật là một tác tạo cao quí nhất của Thượng đế. (Pope)

- Lời khen tốt đẹp nhất mà ta có thể ban cho một người, tức là nói cho người ấy biết "ông là kẻ thành thật" (La Bruyère)    

- Người ta chẳng bao giờ tin một tên nói láo dù nó có nói thật đi nữa. (Cicero)

- Cái hình phạt đối với một tên nói dối thật ra không những là hắn chẳng được ai tin mà chính hắn không dám tin một ai khác cả! (George Bernard Shaw)

- Khi Thượng đế tạo cho sự dối trá một tội lỗi, tức thời Người cũng đặt ra một ngoại lệ dành cho các y sĩ. Hãy học nói dối khéo để an ủi khéo. (André Soubiran)




:: Cái ghen của Hoạn Thư :


1. Trần Quý Thường, danh sĩ đời Tống, mang tiếng sợ vợ vì vợ quá ghen. Một hôm Trần uống rượu với bạn có mấy ca nhi về hát. Liễu thị (vợ Trần) nổi cơn ghen vác gậy xông vào bàn tiệc hành hung, khiến chủ khách sợ chạy hoảng loạn!

Tô Ðông Pha nghe chuyện mới tặng họ Trần một bài thơ, trong đó có hai câu:

Hốt văn sư tử Hà Ðông hống

Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên

(Bỗng nghe sư tử Hà Ðông rống

Tay để gậy sa, tâm hoảng kinh).

Từ đó mới có chữ "sư tử Hà Ðông" để chỉ người đàn bà quá ghen.


2. Phòng Huyền Linh làm tể tướng đời Ðường Thái Tôn, có vợ họ Lư rất chung thủy, nhưng cũng nổi tiếng về ghen. Nhà vua muốn thử xem Lư phu nhân ghen ra sao, mới nói Hoàng hậu cho vời vào hỏi chuyện. Nhà vua bảo Lư phu nhân:

- Tể tướng của phu nhân nay tuổi đã cao, cần phải có tì thiếp để săn sóc nên Trẫm muốn ban cho một mỹ nhân.

Lư thị nhất quyết không nghe, vua mới nổi giận quở phạt:

- Nhà ngươi không ghen thì sống, mà ghen thì phải chết.

Ðoạn sai người đưa cho ly rượu, giả làm thuốc độc rồi phán rằng:

- Nếu không chịu nhận mỹ nhân cho chồng thì phải uống ly thuốc độc này đi.

Lư phu nhân không chút ngần ngại, bưng ly uống cạn. Thấy thế, Ðường Thái Tôn than:

- Ta cũng phải sợ, huống chi là Phòng Huyền Linh!


3. Cái ghen của Hoạn Thư mà cụ Nguyễn Du tả trong Truyện Kiều lại ác độc, nham hiểm hơn nhiều:

Bề ngoài thơn thớt nói cười,

Mà trong nham hiểm giết người không dao. (câu 1815 - 1816)


Khi biết chồng mình là Thúc Sinh đang lén lút sống với nàng Kiều, Hoạn Thư sai Khuyển Ưng dùng thuốc mê để bắt nàng, rồi phóng hỏa đốt rụi nơi ở của hai người. Sau đó đem về hành hạ, nào nhiếc mắng nặng lời:

Con này chẳng phải thiện nhân, 

Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng. (câu 1729 - 1730)


nào đánh đập tàn nhẫn:

Trúc côn ra sức đập vào,

Thịt nào chẳng nát gan nào chẳng kinh. (câu 1739 - 1740)


nào hạ nhục bằng cách bắt đổi tên, làm người ở:

Hoa nô truyền dạy đổi tên, 

Buồng the dạy ép vào phiên thị tì. (câu 1743 - 1744)


Thúc Sinh hoàn toàn không hay biết, đến khi về quê thấy nàng Kiều lâm vào hoàn cảnh thế này thì:

Sinh đà phách lạc hồn xiêu (câu 1823), 

Nhưng không buông tha, Hoạn Thư sai bày tiệc rượu với Thúc Sinh và bắt nàng Kiều phải hầu hạ:

Bắt khoan bắt nhặt đến lời,

Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay (câu 1837 - 1838)


Trước cảnh oan trái này, Thúc Sinh tính lánh mặt cho đở xốn xang, đau khổ:

Ngảnh đi chợt nói chợt cười,

Cáo say chàng đã giạm bài lảng ra

(câu 1841 - 1842)

nhưng Hoạn thư nào dễ dàng để yên, đe dọa ép nàng phải hầu rượu Thúc Sinh:

Tiểu thư vội thét: "Con Hoa!

Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn"

(câu 1843 - 1844)

Ðến nước này thì:

Sinh càng nát ruột tan hồn,

Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay

(câu 1845 - 1846)

Chưa hết, Hoạn Thư còn bắt nàng Kiều phải đàn cho nghe:

Bốn dây như khóc như than,

Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng!

(câu 1853 - 1854)

Thật là tuyệt bút khi cụ Nguyễn Du diễn tả chân xác cảnh tượng lúc đó:

Cũng trong một tiếng tơ đồng,

Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm

(câu 1855 - 1856)

Và cuối cùng, chỉ trong sáu câu liên tiếp, tuy cô đọng nhưng rất xúc tích, Nguyễn Du đã lột tả tâm trạng của từng nhân vật sau khi tấn bi kịch kết thúc:

- Hoạn Thư vui bao nhiêu:

Lòng riêng tấp tểnh mừng thầm:

"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay!" (câu 1867 - 1868)


- Thúc Sinh lại cay đắng bấy nhiêu:

Sinh thì gan héo ruột đầy, 

Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng. (câu 1869 - 1870)


- Riêng Kiều, đêm nay nàng sẽ thức trắng để xót xa cho thân phận mình:

Người vào chung gối loan phòng, 

Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài. (câu 1871 - 1872)


Một Tòa Thiên Nhiên:


- Ðiều cốt yếu là biết sử dụng đời sống, chứ không phải là sự sống lâu. (Sénèque)


- Kẻ nào bảo rằng đời sống không đáng sống là kẻ không biết sống. (Maeterlinck)


- Một cuộc đời vô bổ là cái chết trước thời hạn. (Goethe)


- Anh có yêu đời không? Vậy đừng phung phí thì giờ, vì nguyên liệu của cuộc đời chính là thì giờ. (Franklin)


- Trong sự ghen tuông có nhiều lòng tự ái hơn là tình ái. (La Rochefoucauld)


- Kẻ nào không ghen là không yêu. (St. Augustine)


- Lạ gì bỉ sắc tư phong, (Kiều, câu 5-6)

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen. (Nguyễn Du)


Rằng: "Tôi chút dạ đàn bà,

Ghen tuông thì cũng người ta thường tình ..." (Kiều, câu 2365 -2366)



:: Cù lao chín chữ (*):


Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã bảy lần diễn tả tâm trạng nhớ quê hương, cha mẹ của Thúy Kiều:


1)  Khi quyết định bán mình cho Mã Giám Sinh để có tiền chuộc cha, nàng bị Mã lừa gạt đưa về Lâm Truy làm gái lầu xanh. Lần đầu tiên thân gái dặm trường trên bước đường lưu lạc, tiếng chim kêu vào mùa thu như nhắc nàng nhớ đến bổn phận làm con sớm tối chăm sóc thăm hỏi cha mẹ:

Rừng thu từng biếc chen hồng,

Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn! (1)

(câu 917 - 918)


2) Khi biết mình đã rơi vào chốn làng chơi, nàng phẩn uất dùng dao tự sát nhưng không chết, tú bà đổi giọng lựa lời khuyên giải và tạm giam lỏng nàng ở lầu Ngưng Bích. Nghĩ buồn cho thân phận bẽ bàng, nàng lại nhớ đến cha mẹ; xót xa nghĩ rằng chắc cha mẹ ngày ngày tựa cửa trông ngóng mình. Song thân nay đã già, không biết ai đã săn sóc:

Xót người tựa cửa (2) hôm mai,

Quạt nồng ấp lạnh (3) những ai đó giờ?

Sân Lai (4) cách mấy nắng mưa,

Có khi gốc tử (5) đã vừa người ôm. (câu 1043 - 1046)


3) Lại mắc mưu Sở Khanh và roi vọt của Tú Bà, nàng đành "cũng liều nhắm mắt đưa chân". Tú Bà ép nàng học "nghề chơi" rồi bắt tiếp khách. Trong cảnh sống nhục nhã ê chề đó nàng tủi phận và nhớ đến công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ:

Nhớ ơn chín chữ (6) cao sâu,

Một ngày một ngả bóng dâu (7) tà tà.

Dặm nghìn nước thẳm non xa,

Nghĩ đâu thân phận con ra thế này!

Sân hòe (8) đôi chút thơ ngây (9),

Trân cam (10) ai kẻ đỡ thay việc mình? (câu 1253 - 1258)


4) Cuộc đời tưởng lún mãi xuống bùn đen, không ngờ nàng gặp được người tình say mê là Thúc Sinh. Chàng vốn dòng dõi nhà nho và rất hào phóng. Chính chàng là người vực nàng khỏi chốn thanh lâu để cưới làm vợ nhỏ. Hai người thường "nối thơ""họa đàn". Trước sắc đẹp khuynh thành của Kiều nhất là lúc nàng tắm, chàng Thúc quá xúc cảm thảo một bài thơ Ðường luật làm nàng tấm tắc khen là "lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu". Nhưng lần này nàng phân tâm không họa vần được vì bài thơ của chàng Thúc gợi nàng nhớ đến quê hương và cha mẹ:

Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang.

Lòng còn gởi áng mây Hàng (11),  (câu 1318 - 1319)


5) Kiều khuyên Thúc Sinh về quê Vô Tích thú thật với vợ cả nhưng Thúc Sinh về nhà lại không dám thố lộ. Hoạn Thư đã biết trước mọi chuyện nên căm giận lập kế lừa Thúc Sinh đi vắng để sai gia nhân bắt Kiều về hành hạ. Trong lúc chàng Thúc đi vắng, nàng Kiều ở Lâm Truy một mình sầu muộn lại nhớ đến cha mẹ:

Bóng dâu đã xế ngang đầu (12),

Biết đâu ấm lạnh, biết đâu ngọt bùi (13). (câu 1629 - 1630)


6) Nàng đang thắp hương khấn vái trước Phật đài thì bầy Khuyển Ưng thình lình hiện ra gươm tuốt sáng lòa, tưới thuốc mê rồi vực nàng lên ngựa; xong phóng lửa đốt nhà! Bất ngờ bị bắt về đày đọa làm phận tôi đòi trong khi Thúc Sinh còn "biệt tích" nàng nhớ đến quê nhà trong nỗi hoang mang tuyệt vọng:

Bốn phương mây trắng một màu,

Trông vời cố quốc (14) biết đâu là nhà? (câu 1787 - 1788)


7) Khi thấy Kiều làm phận tôi đòi trong tay Hoạn Thư mà Thúc Sinh không dám nhận, Kiều đau đớn và lo sợ trước thủ đoạn hiểm độc của Hoạn Thư nên trốn đi. Lần này rơi vào tay mụ buôn người là Bạc Bà, lừa gạt để đưa nàng sang bán cho một nhà chơi ở Châu Thái. Kiều lạc vào lầu xanh lần thứ hai.

Nàng may mắn gặp người tình dũng cảm, anh hùng là Từ Hải. Chàng thành thật thương nàng nên chuộc và cưới nàng làm vợ. "Nửa năm hương lửa đương nồng" thì Từ Hải phải từ biệt nàng để lên đường lãnh đạo đoàn quân chống đối triều đình, hùng cứ một phương. Chàng hẹn ngày thành công sẽ rước nàng về nhà chồng.

 

Xa chàng nàng thấy đêm thâu đằng đẵng, một mình vò võ gợi nhớ không nguôi đến cha mẹ nơi xa muôn dặm. Ðã mười mấy năm trời lưu lạc, nàng xót xa thương cha mẹ nay đã quá già:

Ðoái trông muôn dặm tử phần (15),

Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa (16).

Xót thay huyên cỗi xuân già (17),

Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi?

Chốc đà mười mấy năm trời,

Còn ra khi đã da mồi tóc sương (18). (câu 2235 - 2240)


Nguyễn Du mô tả nàng Kiều thật là người con chí hiếu. Nàng hy sinh bán mình chuộc cha rồi thân phận không may sa vào chốn trầm luân, khổ nhục mười mấy năm trường; thế mà lòng nàng vẫn không khoảnh khắc nào quên đến công ơn cha mẹ sinh thành, dưỡng dục mình. Mỗi lần nàng Kiều nhớ quê hương, cha mẹ, Nguyễn Du chỉ diển tả vài câu ngắn gọn nhưng rất hàm súc nhờ dùng điển tích.

Ðiển tích nào khúc mắc ông cố diễn giải thành một hình ảnh dễ hiễu hơn làm cho câu thơ sáng sủa, trôi chảy mà vẫn hàm súc, thanh nhã. "Cách dùng điển thích đáng, tự nhiên, khiến cho người học rộng thì thưởng thức được lối văn uẩn súc của tác giả mà người thường cũng hiểu được đại ý của câu văn" (19). 

T. V. Phê

(6/2004)

(*) Nói công ơn cha mẹ: cù (vất vả), lao (khó nhọc); chín chữ: sinh (đẻ), cúc (nâng đỡ), phủ (vuốt ve), súc (cho bú, cho ăn), trưởng (nuôi cho lớn), dục (dạy dỗ), cố (trông nom), phục (dạy theo tính), phúc (che chở).


Chú giải trong Truyện Kiều (Nguyễn Du), Nguyễn Thạch Giang, NXB ÐH&GDCN, Hà Nội - 1988:

(1) thần hôn: sớm tối, chỉ việc sớm tối chăm sóc thăm hỏi mẹ cha. Lễ ký: Phàm vi nhân tử chi lễ, đông ôn nhi hạ sảnh, hôn định nhi thần tỉnh = Phàm theo lễ của kẻ làm con, mùa đông thì lo cho cha mẹ ấm, mùa hè thì lo cho cha mẹ mát, buổi tối thì lo cho cha mẹ yên chỗ nằm, buổi sớm thì hỏi han cha mẹ xem ngủ dậy có khỏe mạnh không. 

(2) người tựa cửa: nói người mẹ tựa cửa trông chờ con. Lấy tích từ Chiến Quốc Sách: Mẹ Vương Tôn Giả bảo ông rằng: Nhữ triều xuất nhi vãn lai, tắc ngô ỷ môn nhi vọng nhữ; nhữ mộ xuất nhi bất hoàn, tắc ngô ỷ lư nhi vọng nhữ = Con sáng sớm ra đi, chiều mới về, thì mẹ đứng tựa cửa mà ngóng trông con; con chiều tối ra đi mà không về, thì mẹ tựa cổng làng mà ngóng trông con.

(3) quạt nồng ấp lạnh: quạt khi trời nồng nực, ấp chiếu chăn cho ấm khi trời rét lạnh, là nói đạo làm con phụng dưỡng cha mẹ.

(4) sân Lai: sân nhà Lão Lai tử, chỉ nhà cha mẹ. Theo Hiếu tử truyện, Lão Lai tử thờ cha mẹ rất có hiếu, năm đã bảy mươi tuổi, ông còn bày trò chơi trẻ con, bận áo năm sắc màu sặc sỡ nhảy múa trước sân rồi vờ ngã, khóc như trẻ con để mua vui cho cha mẹ.

(5) gốc tử: gốc cây tử, theo Kinh Thi: Duy tang dữ tử, tất cung kính chỉ = Kìa cây dâu với cây tử là cây do cha mẹ trồng cho nên nhớ đến nó thì sinh lòng cung kính. Người sau nhân đó mà gọi quê hương, nơi cha mẹ ở là tang tử. Gốc tử đã vừa người ôm: ý nói cha mẹ đã già. 

(6) chín chữ: nói công lao khó nhọc của cha mẹ nuôi dạy con cái: Ai ai phụ mẫu sinh ngã cù lao ... Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc ngã, phủ ngã, súc ngã, trưởng ngã, dục ngã, cố ngã, phục ngã, xuất nhập phúc ngã. Dục báo chi đức, hạo thiên võng cực = Xót thương cha mẹ ta, sinh ra ta khó nhọc ... Cha ta sinh ra ta, mẹ ta nâng đỡ ta từ trong bụng; cha mẹ ta đã vỗ về nuôi nấng cho ta bú mớm, bồi bổ cho ta khôn lớn, dạy cho ta lời khôn lẽ phải, lo lắng theo dõi khi ta đi đâu, dựa theo tính ta mà khuyên răn, che chở giữ gìn cho ta. Muốn báo đền ơn đức cha mẹ, công đức đó như trời rộng không có giới hạn. Người sau gọi là cửu tự cù lao.

(7) bóng dâu: bóng mặt trời xế còn gác lại trên ngọn tang du, tức nói cảnh trời chiều, chỉ tuổi già. Dâu tức tang du. Thế thuyết: Niên tại tang du = Tuổi đã về già. Ý cả câu: Một ngày cha mẹ một già thêm.

(8) sân hòe: sân có trồng cây hòe, chỉ nhà cha mẹ. Theo Tống sử, Vương Hộ, văn chương nổi tiếng một thời, ông tự tay trồng ba cây hòe ở sân nhà và nói: "Con cháu ta tất có người làm đến tam công. Ba cây hòe này nêu chí của ta". Về sau, người con thứ của ông là Vương Ðán làm quan đến chức tể tướng. Thiên hạ gọi là tam hòe Vương thị = ba cây hòe nhà họ Vương. Nhân đó, người ta cũng dùng sân hòe để chỉ nhà có con cái hiển đạt.

(9) đôi chút thơ ngây: chỉ Thúy Vân và Vương Quan.

(10) trân cam: nói những thức ăn ngon quý, là những vật phụng dưỡng cha mẹ của người con hiếu. 

(11) mây Hàng: mây ở núi Thái hàng, chỉ lòng nhớ cha mẹ. Theo Ðường thư, Ðịch Nhân Kiệt khi làm quan ở đất Tinh châu, một hôm lên chơi núi Thái hàng, ngoảnh lại nhìn thấy có đám mây trắng lờ lững bay ở đằng xa, ông ngậm ngùi nói với người theo xung quanh rằng: "Ngô thân xá kỳ hạ" = Nhà cha mẹ ta ở dưới đám mây trắng đó. Nói rồi, ông bồn chồn đứng nhìn đám mây trắng một hồi lâu, đến khi mây bay đi nơi khác mới thôi. 

(12) Ý cả câu: nói cha mẹ tuổi đã về già.

(13) ấm lạnh: do chữ đông ôn hạ sảnh (chú thích 1)

ngọt bùi: do chữ cam chỉ, tức là những thức ngon lành phụng dưỡng cha mẹ. 

(14) cố quốc: chỉ quê cũ. Thơ Lý Bạch: "Trượng kiếm khứ quốc, Từ thân viễn du" = Chống kiếm xa quê hương. Từ biệt cha mẹ đi viễn du. Nguyễn Du cũng viết: "Thập tải phong trần khứ quốc xa" = Mười năm gió bụi bỏ quê hương đi xa. 

(15) tử phần: do tang tử và phần du gộp lại để chỉ quê nhà. Tang tử: (chú thích 5), phần du: tên làng ở ấp Phong, quê Hán Cao tổ.

(16) mây Tần: mây trên núi Tần Lĩnh, chỉ lòng nhớ quê nhà. 

Thơ Hàn Dũ: Vân hoành Tần lĩnh gia hà tại? 

Tuyết ủng Lam quan mã bất tiền

(Mây kéo ngang núi Tần, nhà ta ở đâu?

Tuyết ủ kín ải Lam, ngựa trù trừ không đi tới.

(17) huyên cỗi xuân già: mẹ cha già cả.

(18) Da mồi: Màu da người già mốc lốm đốm như màu đồi mồi.

tóc sương: tóc bạc trắng như sương. 

(19) Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Dương Quảng Hàm, Xuân Thu xuất bản, trang 384.


Mẹ và Con (Tranh Nguyễn Thị Hợp):



- Phàm vật đã đến cực điểm thì hay giống nhau: cho nên người cực hiền giống như ngu; người cực gian giống như thật, cực nhã giống như tục; còn những kẻ trí nhỏ tài sơ mới hay khoe tài khoe trí. (Nguyễn Bá Học)

 - Ðộ lượng to lớn bao nhiêu thì phúc trạch cũng to lớn bấy nhiêu. Có mưu sâu độc bao nhiêu thì tai vạ cũng sâu độc bấy nhiêu. (Minh Tâm Bảo Giám)

- Người biết "đạo" tất không khoe, người biết "nghĩa" tất không tham, người biết "đức" tất không thích tiếng tăm lừng lẫy. (Trương Cửu Thành)



:: Mối tình của nữ sĩ Hồ Xuân Hương với Nguyễn Du:


Hồ Xuân Hương, một nữ sĩ nổi danh về thơ nửa tục nửa thanh, nửa hư nửa thực, nhằm châm biếm diễu cợt thói đời, con người; hoặc diễn tả những sự vật và sinh hoạt thường nhật với nghĩa đôi rất linh động và thú vị. Bà xinh đẹp, tính tình phóng khoáng, giao thiệp rộng, hay xuớng họa thơ với nhiều văn nhân thi sĩ đương thời nên đời bà có nhiều mối tình; nhưng thường là kết cuộc dở dang không hiểu vì bà kén chọn hay duyên phận.

Từ những thơ chữ Hán, Nôm và thơ xướng họa của bà còn để lại, các nhà nghiên cứu cho rằng bà đã từng kết bạn thơ và bạn tình với các danh sĩ: Mai Sơn Phủ, Tốn Phong Thị, Trần Quang Tĩnh, Trần Phúc Hiễn, Trần Ngọc Quán và nhất là mối tình đầu với thi hào Nguyễn Du.


1) Xuân Hương là con ông Hồ Phi Diễn (1703 - 1786), người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Khi ra dạy học ở Hải Dương, ông lấy người thiếp họ Hà và sinh ra bà, tục danh là Hồ Phi Mai. Vua Quang Trung, Hoàng Giáp Hồ Sĩ Đống, nữ sĩ Hồ Xuân Hương là cùng một thế thứ, đời thứ 12, có chung một ông tổ đời thứ 8 là Hồ Sĩ Anh.(1)

Bà sinh năm 1772 tại phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận, Thăng Long, Hà Nội. Sau khi cha chết, Hồ Phi Mai và mẹ về ở một ngôi nhà có gác ở Nghi Tàm, trên bờ Hồ Tây, đề biển là Cổ Nguyệt Đường, nhà dưới làm cửa hàng bán giấy bút và sách. Thuở nhỏ học với cha, cha mất sớm nên tài thơ của bà phần nhiều là do tự học.


Bà sống tự do độc lập, ít nghĩ đến lễ giáo khuôn phép, ít e lệ thẹn thùng như đa phần con gái khác. Bà có nhiều tình cảm và bạo dạn làm thơ bộc lộ ái tình đối với những kẻ văn nhân mà bà yêu mến. Bà kén chọn bạn tình tài năng, do vậy nhân duyên chậm trễ vì đa phần những văn nhân xứng hợp với bà thì đã có gia đình nên chỉ gây cho bà nhiều đau khổ khi phải lìa xa họ.

Cuối cùng khi gần năm mươi tuổi mới làm thiếp (khoảng năm 1816) cho quan Tham hiệp trấn Yên Quảng tên Trần Phúc Hiễn. Hạnh phúc chỉ được ba năm thì quan Tham hiệp bị xử tử (1819) vì tội hối lộ. Bà mất khoảng hai năm sau đó (1821 - 1822), lúc ấy bà mới 50 hay 51 tuổi.


2) Cụ Hoàng Xuân Hãn cho rằng cuộc tình này xảy ra vào khoảng 1790 - 1793, lúc đó Nguyễn Du chừng 27-30 tuổi, còn Hồ Xuân Hương: 19-22 tuổi, và ông có cảm tưởng: "Nguyễn Du, trong khi viết nhiều câu Kiều, đã không khỏi nghĩ đến thân phận Xuân Hương thời niên thiếu". (1)


BS. Trần Ngọc Ninh củng cố thêm luận điểm của cụ Hãn, còn đoan chắc rằng hai người đã từng dắt tay nhau đi dạo cảnh Hồ Tây, và câu Kiều:

Ngày xuân lắm lúc đi về với Xuân (Kiều, câu 1294)

với chữ Xuân cuối câu là ám chỉ chính Hồ Xuân Hương. (2)


Hai người cũng đã có nhiều kỷ niệm với nhau trong cái thú vui tao nhã, thanh lịch của một cặp tài tử giai nhân mà Nguyễn Du đã tả lại trong Truyện Kiều:

Khi gió gác, khi trăng sân,

Bầu tiên chuốc rượu, câu thần nối thơ.

Khi hương sớm, khi trà trưa,

Bàn vây điểm nước, đường tơ họa đàn. (Kiều, câu 1295 - 1298)


Ba năm yêu nhau mà không thể tiến xa hơn vì ông chưa lập nên công danh sự nghiệp gì nên đành xa bà để về quê Hồng Lĩnh. Xuân Hương tiễn đưa ông qua bài Lưu biệt bạn khăn gói sang sông Nam, và viết nhiều bài thơ gửi ông. Về quê, Nguyễn Du cũng viết bài Ký Mông, Ký hữu ... nhớ Xuân Hương. (3)


3) Hai thập niên sau, Nguyễn Du có dịp làm chánh sư đi Trung Hoa (1813). Xuân Hương gởi bài thơ nôm nhắc lại mối tình xưa Hầu đã dan díu với mình trong ba năm, bộc bạch nỗi lòng và duyên phận rồi mong Hầu ghé thăm:


Cảm cựu Kiêm Trình Cần Chánh Học Sĩ Nguyễn Hầu

(Hầu, Nghi Xuân, Tiên Điền Nhân)


Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,

Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.

Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,

Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.

Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,

Phấn son càng tủi phận long đong.

Biết còn mảy chút sương siu (*) mấy (với),

Lầu Nguyệt (**) năm canh chiếc bóng chong.


Làm sao quên được người tình như Xuân Hương, nhưng bây giờ ông là chánh sứ, mọi người đều để ý từng hành động của ông:

Nghĩ mình phương diện quốc gia,

Quan trên nhắm xuống, người ta trông vào.


Vả lại khi làm quan triều Nguyễn, ông giữ thái độ rất cẩn thận dè dặt vì ông có người anh ruột là Nguyễn Nễ làm quan với Tây Sơn, anh rể là Võ Trinh bị xử trảm trong vụ án Nguyễn Văn Thuyên. Do vậy ông đành phụ lòng bà, nhưng trong lòng vẫn luôn day dứt nhớ.


4) Trên đường đi sứ về, Nguyễn Du đã ghé lại lò sứ Cảnh Đức ở Giang Tây để đặt làm đĩa sứ, bên trong trang trí hình cây mai và chim hạt với bài thơ lục bát chữ nôm do ông sáng tác, viết theo chiều dọc thành ba cột 6 - 2 - 6:

Nghêu ngao vui thú yên hà,

Mai là

bạn cũ, hạc là người quen.


Theo GS Trần Ngọc Ninh phỏng đoán, khởi đầu Nguyễn Du viết:

Mai là người cũ, hạc là bạn xưa

nhưng thấy viết như thế lộ liễu quá (vì tên của Hồ Xuân Hương là Mai), nên xóa sáu chữ cuối đi và viết lại sang hàng bên cạnh:

bạn cũ, hạc là người quen.


Sau này khi lìa Bắc Hà, ông có làm bài thơ năm đoạn theo thể bốn câu năm chữ, đầu đề là Mộng Đắc Thái Liên trong tập Nam Trung Tạp Ngâm, nhắc nhở đến hồi dan díu với bà:


Mộng Thấy Hái Sen

. . . .

Hoa sen ai cũng ưa,

Cuống sen chẳng ai thích.

Trong cuống có tơ mành,

Vấn vương không thể dứt.


Lá sen màu xanh xanh,

Hoa sen dáng xinh xinh.

Hái sen chớ đụng ngó,

Năm sau hoa chẳng sinh.

Phạm Khắc Khoan và Lê Thước dịch


"Hầu mượn chuyện sen để kín đáo nhắc lại tình quyến luyến giữa đôi bên, để luận người ta yêu cô nàng vì xinh, vì sắc, chứ không phải vì lòng nàng, bởi lòng nàng nhiều tình cảm, như ngó sen có nhiều tơ vướng víu. Còn Hầu:

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng

Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng." (Kiều, câu 2241 - 2242) (1)


5) Thơ bà lãng mạn, trữ tình, có trêu chọc nhưng thanh tao tế nhị (chẳng hạn bài "Thiếu Nữ Ngủ Ngày"), chứ không thô tục xàm xỡ, không nói lái. Những bài thơ quá dâm tục thô lỗ do người khác làm không dám nhận là của mình, cứ gán đại cho bà rồi chúng ta nhăm mắt khen hay vì đinh ninh là thơ của bà!! Các nhà nghiên cứu thời nay cố gắng san định lại thơ Hồ Xuân Hương để loại bỏ những bài không đúng với cốt cách, tài thơ của bà.


Thiếu Nữ Ngủ Ngày


Mùa hè hây hẩy gió nồm đông:

Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.

Lược trúc chải cài trên mái tóc,

Yếm đào trễ xuống dưới nương long. (***)

Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm,

Một lạch đào nguyên suối chửa thông.

Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt:

Đi thì cũng dở, ở không xong.


Phạm Đình Hổ (****) viết bài tựa tập thơ Lưu Hương Ký của bà có dẫn lời khen của Cư Đình, người cùng quận với bà: "Cổ Nguyệt Đường Xuân Hương, văn tài học rộng, nghèo mà mỹ lệ, ý lạ cao đẹp, làm thơ đúng luật mà thanh thoát vượt ngoài khuôn sáo, quả là một bậc tài nữ vậy." (4) 


T. V. Phê

(04/2006)

Tài liệu tham khảo:

1) Hồ Xuân Hương với Vịnh Hạ Long, Hoàng Xuân Hãn tập III trang 934, NXB Giáo Dục, 1998.

2) Hồ Xuân Hương và Đoạn Trường Tân Thanh, Trần Ngọc Ninh, Thế Kỷ 21 số 193 May 2005, trang 34.

3) Hồ Xuân Hương, nàng là ai?, Phạm Trọng Chánh, Khởi Hành 46, tháng 8/2000, trang 14.

4) Số mạng của văn chương, Trần Lam Giang, Khởi Hành 70, tháng 8/2002, trang 14.

5) Hồ Xuân Hương Tác Phẩm, Nguyễn Ngọc Bích, Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2000.

(*) GS Hoàng Xuân Hãn giải nghĩa: sương siu = bịn rịn. Trần Ngọc Ninh, Thái Văn Kiểm, Trần Thanh Mại và Nguyễn Lộc đều cho ba chữ cuối câu bảy là "sương đeo mái": sương đeo ở mái nhà, có nghĩa: nhớ đến người con gái đã được thương yêu lúc trước.

(**) Lầu Nguyệt nghĩa đen là lầu trăng, ám chỉ Cổ Nguyệt Đường nơi Xuân Hương ở.

(***)  Từ cũ chỉ cái ngực.

(****) GS Hoàng Xuân Hãn cho tác giả bài tựa tập Lưu Hương Ký là của Tốn Phong Thị.


Chùa Thầy  (http://www.thuvienhoasen.org/cvn-hatay-thienphuc.htm) :



- Người sung sướng nhất là kẻ đã tạo được hạnh phúc cho đa số kẻ khác. (D. Diderot)

- Hạnh phúc là nước hoa mà bạn không thể đem dội cho kẻ khác mà lại không hưởng được vài giọt cho chính mình. (Emerson)

- Hạnh phúc giống như thủy tinh, càng rực rỡ bao nhiêu càng mỏng manh bấy nhiêu. (P. Surys)

- Hạnh phúc nào mà chẳng phải mua với ít hay nhiều đau khổ. (Margaret Oliphant)

- Khi đã làm một con người thì phải đợi đến ngày cuối cùng của họ mới bảo được họ là sung sướng. (Sophocle)




 

 

Nhan Vat

 

   
 

Nhân Vật

 

- Người Chàm Trong Mắt Tôi (Nguyễn Ngọc Chính)

- Công lao Tổng thống Ngô Đình Diệm cần được tôn vinh (Lê Công Định)

- Alexander Solzhenitsyn: Văn Tài và Đạo Đức của Sự Thật (Bùi Tiên Khôi)

- Bùi Thị Minh Hằng (Vũ Đông Hà)

- "Lạc Lõng" Cậu Nho Sinh Người Mỹ Gốc Việt

(Thiên An)

- Thủ Bút Của Trần Trọng Kim - Thư Gửi Hoàng Xuân Hãn (Nguyễn Đức Toàn)

- Chú Hề Buồn Bã (Lê Hữu)

- Giải mã lãnh tụ: Một đóng góp quan trọng của Trần Đức Thảo (Đoàn Thanh Liêm)

- Vịn Câu Thơ Mà Đứng Dậy (Trần Trung Đạo)

- Bài Thơ Cho Đỗ Thị Minh Hạnh (Trần Trung Đạo)

- Ngõ Phất Lộc: Từ Nguyễn Hiến Lê đến Người Buôn Gió (Đoàn Thanh Liêm)

- Gió Bão Ngoại Giao Thời Thịnh Trần và Vị Sứ Thần Lỗi Lạc Đinh Củng Viên (Phạm Khắc Hàm)

- Sứ Thần Giang Văn Minh Không Làm Nhục Quốc Thể (Tạ Quốc Tuấn)

- Việt Dzũng, nghệ sĩ đấu tranh không tàn tật tâm hồn (Võ Đại Tôn)

- Để So Sánh Các Anh Hùng Trước Nguyễn Huệ với Nguyễn Huệ (Phạm Văn Sơn)

- Nelson Mandela, Quyền lực của sự tha thứ

(Nguyễn Hưng Quốc)

- Bình Luận và Vịnh Nhị Trưng (Dương Bá Trạc)

- Gia Đình Trưng Vương (Hoa Bằng)

- Trần Danh San, Tiếng hò khoan đã tắt

(Phan Nhật nam)

- Danh Tướng Thi Nhân Phạm Ngũ Lão (Tạ Quốc Tuấn)

- Cuộc Khởi Nghĩa của Hai Bà Trưng (Hà Mai Phương)

- Chiến Thắng Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền Năm 939 (Hà Mai Phương)

- Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà và Anh Hùng Đánh Tống-Bình Chiêm Lý Thường Kiệt (Lý Tế Xuyên)

- Lê Lợi, Nguyễn Trãi và Cuộc Cách Mệnh Lam Sơn

(Trần Ngọc Ninh)

- Phạm Ngũ Lão (Phan Kế Bính)

- Đặng Dung, Bậc Anh Hùng Lỡ Vận và bài thơ "Cảm Hoài" (Phạm Khắc Hàm)

- Sử Thi Về Hai Bà Trưng (Viên Linh)

- Ô cửa nhỏ của Thục Vy (Lê Hữu)

- Bà Lương Giết Giặc Minh Hạ Thành Cổ Lộng

(Chu Thiên)

- Hiểm họa từ Trung Quốc (T. V. Phê)

- Feb 1, 2003: Phi thuyền con thoi Columbia bị nổ tung (T. V. Phê)

- Chuyện trùng hợp lạ kỳ (T. V. Phê)

- Đạt Phan, người giễu hay nhất nước Mỹ năm 2003 (T. V. Phê)

- Dương Nguyệt Ánh góp phần chiến thắng tại A Phú Hãn (T. V. Phê)

- Người làm rạng danh tổ quốc: Mai Văn Hòa

(T. V. Phê)

- Ngôn ngữ thời Internet (T. V. Phê)

- Tiếng Việt lý thú (T. V. Phê)

- Tiệc đầu khỉ, cỗ đầu người (T. V. Phê)

- Nhạc võ Tây Sơn (T. V. Phê)

- Vua Quang Trung (T. V. Phê)

- Cảnh nghèo khó và bệnh tật của thi hào Nguyễn Du (T. V. Phê)

- Cỏ cây trong Truyện Kiều (T. V. Phê)

- Ngày giờ nàng Kiều bị bắt (T. V. Phê)

- Cái ghen của Hoạn Thư (T. V. Phê)

- Cù lao chín chữ (T. V. Phê)

- Mối tình của nữ sĩ Hồ Xuân Hương với Nguyễn Du (T. V. Phê)

- Áo dài Lemur: "thủy tổ" những chiếc áo dài ngày nay (T. V. Phê)

- Ca trù hồi sinh (T. V. Phê)

- Câu đối (T. V. Phê)

- Sáu luật về dấu hỏi ngã (T. V. Phê)

- Nước ta có Sử từ đời nào? (T. V. Phê)

- Dòng giống Tiên Rồng (T. V. Phê)

- Người Việt xấu xí?! (T. V. Phê)

- Người Chăm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam

(T. V. Phê)

- Không mới nhưng ... lạ (Minh Nguyệt)

- Ông tổ triết thuyết hiện sinh sống ra sao?

(T. V. Phê)

- Dũng khí của nhà văn (T. V. Phê)

- Nằm gai nếm mật (T. V. Phê)

- Chết vì một bài thơ (T. V. Phê)

- Ai công hầu, ai khanh tướng (T. V. Phê)

 

Phim Tài Liệu

 

L'exode du Nord Viet Nam

 

 

 
© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)