Head

 

 

Luat Hoi Nga

Sáu luật về dấu hỏi ngã

Câu đối

Ca trù hồi sinh

Áo dài Lemur: "thủy tổ" của những chiếc áo dài ngày nay


:: Sáu Luật Về Dấu Hỏi Ngã:


1) Từ tiếng Việt thường có 3 loại (*):


- Từ thuần Việt (hoặc tiếng nôm): Ðó là những từ có thể chuyển đổi thanh theo quy luật hài thanh, hoặc những từ láy âm theo phép hòa phối ngữ âm (Hòa phối ngữ âm là sự kết hợp hài hòa giữa thành phần của một từ với một từ khác để tạo thành sự cân đối nhịp nhàng. Hòa phối ngữ âm giữa hai thành phần của một từ kép gọi là từ láy (thí dụ: vui vẻ, xinh xắn, khô khan, đẹp đẽ ...)

- Từ Hán Việt là những từ vay mượn từ tiếng Hán (Trung Hoa). Số từ này chiếm hơn nửa số vốn từ của ta hiện nay! (thí dụ: hữu ích, vô đạo, bất bình, sơn hà ...)

- Từ vay mượn là những từ mượn từ các ngôn ngữ phương Tây (Pháp, ...) như: xà phòng, xi măng, ô tô ...


2) Dấu Hỏi Ngã Trong Tiếng Thuần Việt:


Luật 1) Khi hai tiếng có thể láy được với nhau thì hễ một tiếng mang dấu ngang (không dấu) hoặc dấu sắc thì tiếng kia phải mang dấu hỏi; ngược lại, hễ một tiếng mang dấu huyền hoặc dấu nặng thì tiếng kia phải mang dấu ngã.

Thí dụ: lửng lơ, thơ thẩn, sang sảng, lở lói, ngả ngớn, vắng vẻ, ...

ầm ĩ, vòi vĩnh, hợm hĩnh, vòi vĩnh, thẫn thờ, nũng nịu, đẹp đẽ, ...


Luật 2) Một từ có thể chuyển thanh điệu sang ngang hoặc sắc thì chắc chắn là mang dấu hỏi; ngược lại, một tiếng có thể chuyển sang thanh huyền hoặc thanh nặng thì chắc chắn là có dấu ngã.

Thí dụ: mở mang, mỡ màng, thở than, vẩn vơ, ngủ nghê, ...


Luật 3) Các tiếng nói gộp âm đều mang dấu hỏi. Nói gộp là nhập hai âm tiết thành một như: phải không --> phỏng, bà ấy --> bả, ngoài ấy --> ngoải, hôm ấy --> hổm, năm ấy --> nẳm, hồi ấy --> hổi, ...


Luật 4) Các tiếng vay mượn từ phương Tây và đã chuyển sang giọng tiếng Việt, thì thường viết với dấu hỏi. Thí dụ: mỏa (moi), xừ lủy (lui), sở cẩm (commissaire de police), làm cỏ vê (corvée), ...


3) Dấu Hỏi Ngã Của Từ Hán Việt:


Luật 5) Các từ Hán Việt có phụ âm đầu d, l, m, n, nh, ng, v đều có dấu ngã

Thí dụ: dã, dĩ, dữ, ... lão, lễ, lữ, ... mão, mãnh, mẫn, ...não, nễ, nữ, ... ngã, ngũ, ngữ, ...  nhã, nhĩ, nhũ, ... vĩ, viễn, vũ, ...

(Ðể cho dễ nhớ có thể dùng câu "thần chú" sau: "mình nên nhớ là viết dấu ngã" trong đó các âm đầu là những phụ âm trong luật trên)


Luật 6) Các từ Hán Việt khác có dấu hỏi

Thí dụ: ả, ảo, ẩn, yểu, uẩn, uỷ; bảo, bỉ, bỉnh, bổng, bửu; cảo, cổ, củ, kỉ, kiểu, quả, quản, quảng, quỷ; chỉ, chiểu, chuẩn, chủng, chử; đả, đẩu, để, điểu, đổ; giả, giảo; hảo, hỉ, hổ, hủ; khả, khẩu, khổ, khởi; phả, phỉ, phổ, sỉ, sổ, sửu; tả, tảo, tể, tỉ, tổ, tử; thải, thổ, thủ, thưởng; trảo, trảm, triển, trưởng; xả, xảo, xỉ, xử.


Trừ khoảng 30 trường hợp ngoại lệ:

bãi (bãi thị, bãi nại), bĩ (bĩ vận), cữu (linh cữu), cưỡng (cưỡng đoạt), đãng (khoáng đãng), đễ (hiếu đễ), đỗ (Ðỗ thị), hãm (hãm hại), hãn (hãn hữu), hoãn (hoãn binh), hĩ (một tiếng đệm), hỗ (hỗ trợ), hỗn (hỗn hợp, hỗn mang), huyễn (huyễn mộng), hữu (bằng hữu), kĩ (ca kĩ, kĩ thuật, kĩ xảo), phẫn (phẫn nộ), phẫu (giải phẫu), quẫn (quẫn bách), quỹ (quỹ đạo, quỹ tích, thủ quỹ), sĩ (bác sĩ), suyễn (suyễn tức, suyễn yết), tiễn (tiễn biệt), tĩnh (tĩnh mịch), tuẫn (tuẫn tiết), thuẫn (mâu thuẫn), thũng (phù thũng), trãi, trẫm, trĩ (ấu trĩ), trữ (dự trữ, lưu trữ, tích trữ), xã (xã hội, xã tắc).


(*) Dấu Hỏi Ngã (Phố Tịnh), Thế Kỷ 21 số 127 Nov 1999.


Áo Trắng: Photographer: Hoài Nam , Model: Cẩm Tú. (www.aotrang.com)


- Ðoàn thể nhỏ nhất, mạnh nhất, bền nhất, hợp với lẽ thiên nhiên hơn cả là gia đình. Trong một nhà, cha con, anh em, vợ chồng, đều liên lạc với nhau, sống để giúp đỡ, bênh vực, phù trì lẫn nhau. Cho nên nước nào từ xưa đến nay cũng lấy nghĩa gia tộc làm trọng. (Phạm Thượng Chi)

- Duy chỉ ở nơi gia đình, người ta mới tìm được chốn nương thân để chống lại những tai ương của số mệnh. (Euripide)

- Cái học thuyết xã hội nào tìm cách phá hủy gia đình là bất lương và hơn nữa không áp dụng được. Gia đình là cái tinh thể của xã hội vậy. (Victor Hugo)

- Những lúc sung sướng nhất của đời tôi thật ngắn ngủi mà cái thời gian ngắn ngủi đó là tôi đã được sống giữa tổ ấm gia đình. (Jefferson)

- Quyền huynh thế phụ.

- Anh em như thể tay chân.

- Máu chảy, ruột mềm.




:: Câu Đối:


1) Câu đối:


Câu đối là những câu văn đi đôi với nhau thế nào cho ý, chữ và luật bằng trắc cân xứng với nhau. Một đôi câu đối thì mỗi câu là một vế: vế trên, vế dưới; nếu do một người nghĩ ra và một người đáp lại thì gọi là: vế ra (xuất), vế đối.

- Đối ý: Hai ý tưởng cân xứng đặt thành hai câu đối:

. . . . .

Lắt lẻo cành thông cơn gió giật,

Đầm đìa lá liễu hạt sương gieo.

Đèo Ba Dội (Hồ Xuân Hương)


- Đối chữ:

về thanh: bằng đối trắc, trắc đối bằng:

. . . . .

Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quảy;

Trà sen mượn hỏi, giá còn kiêu. Tết (Trần Tế Xương)


về loại: hai chữ phải cùng loại (danh từ, động từ, trạng từ, ...) mới đối nhau, ngoài ra thực tự phải đối với thực tự, hư tự đối hư tự, chữ nho đối chữ nho:

. . . . .

Chôn chặt văn chương ba thước đất,

Tung hê hồ thỉ bốn phương trời.

Khóc Ông Phủ Vĩnh Tường (Hồ Xuân Hương)


2) Phép đối:


Phép đối thường hay dùng trong văn thơ của Tàu cũng như của ta, nhất là trong một bài thơ Đường luật bát cú - thể thơ chính và thông dụng nhất - thì luật thơ qui định hai câu thực và hai câu luận phải đối nhau (câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6):

. . . . .

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt.

Nước còn cau mặt với tang thương.

Thăng Long Thành Hoài Cổ (Bà Huyện Thanh Quan)


Trong thể phú, câu đối còn chia thành nhiều lối: song quan, cách cú, gối hạc nên người làm thơ cần phải dụng công nhiều hơn.


Chẳng hạn trong lối gối hạc: mỗi vế có ba đoạn trở lên, đoạn ngắn xen giữa hai đoạn dài (như đầu gối giữa hai ống chân con hạc), thí dụ:

. . . . .

Áo vải thô nặng trịch, lạnh làm mền, nực làm gối, bốn mùa thay đổi bấy nhiêu;

Khăn lau giắt đỏ lòm, giải làm chiếu, vận làm quần, một bộ ăn chơi quá thú.

Hàn Nho Phong Vị Phú (Nguyễn Công Trứ)


Lối cách cú: mỗi vế chia thành một đoạn ngắn và một đoạn dài, thứ tự trước sau không bắt buộc:

Đất chẳng phải chồng, đem gửi thịt xương sao lợi?

Trời mà chết vợ, thử xem gan ruột mần răng?


Lối song quan: mỗi vế có từ 5 đến 9 chữ đặt thành một đoạn liền:

Con ruồi đậu mâm xôi đậu;

Con kiến bò đĩa thịt bò.


3) Loại câu đối:


Tùy theo ý nghĩa, câu đối có thể chia làm nhiều loại: chúc mừng, đề tặng, phúng điếu, thờ phụng, lễ Tết, tự thuật, tức cảnh, trào phúng, chiết tự, tập cú ....

Thí dụ:

- Câu đối trào phúng để chế giễu người chột mắt mới đỗ khoa thi võ của Nguyễn Khuyến:

Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại.

Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi.


- Câu đối Tết lúc còn hàn vi của Nguyễn Công Trứ:

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.

Sáng mồng một, rượu say túy lý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.


Đặc biệt câu đối loại chơi chữ rất cầu kỳ, oái oăm do tận dụng những chữ đồng âm khác nghĩa, đảo từ, đảo ngữ, nói lái, ... nên càng khó đối hơn.

Thí dụ:

- Lối đồng âm khác nghĩa như vế ra của vua Duy Tân dùng vừa nghĩa vừa chữ kèm nhau:

Đi chi đường đạo sợ cụ (chi là đi, đạo là đường, cụ là sợ)

Nguyễn Hữu Bài đã đối rất tài tình:

Không vô trong nội nhớ hoài (vô là không, nội là trong, hoài là nhớ)


- Lối đảo từ, đảo ngữ như vế ra trong cuộc thi do báo Trung Bắc (hai nhà nho ưa chơi chữ là Nguyễn Đỗ Mục và Dương Bá Trạc chủ trương bộ biên tập) khởi xướng:

Vợ cả vợ hai, hai vợ cùng là vợ cả.

Vế đối sau đây gọi là trúng cách:

Con nuôi con đẻ, đẻ con há cậy con nuôi.

(chữ nuôi sau cùng được hai nghĩa trạng từ và động từ như vế ra).


- Lối nói lái như vế ra và vế đối sau:

Mài kéo cắt đuôi mèo cái.

Lòn cưa cứa cổ lừa con.


4) Ý nghĩa thâm trầm ẩn trong câu đối:


Ông tổng đốc Hà Đông mời một vị túc nho ở Nam Định để đề câu đối cho bể non bộ nhà ông. Nhà nho ngắm nghía hòn non bộ rồi viết:

Nam sơn trúc bất tận

Đông hải ba vô cùng.


và giải nghĩa: "Bẩm cụ lớn, vế trên có nghĩa cây trúc ở núi Nam không bao giờ hết, nghĩa bóng nói giòng dõi cụ lớn sẽ thịnh đạt mãi; vế dưới có nghĩa sóng biển Đông không bao giờ cùng, ngụ ý ca tụng công ơn của cụ lớn đối với dân mênh mông như biển cả".

Cụ lớn đắc ý, trọng thưởng nhà nho và thường hay khoe câu đối với các quan khách tới chơi; mọi người đều tấm tắc khen hay.


Có ngờ đâu nhà nho kia đã chửi ngầm tổng đốc thật độc! Nguyên câu đối xuất phát từ hai câu trong bài hịch đả kích Tùy Dạng Đế của Lý Mật đời Đường:

Quyết Đông hải chi ba, lưu ác bất tận;

Khánh Nam sơn chi trúc, thư tội vô cùng.


Nghĩa là: Khơi hết sóng Đông hải, cũng chưa hết ác; viết đến hết thẻ trúc ở Nam sơn cũng chưa hết tội!


5) Câu đối chết:


Những câu đối với vế ra chưa có vế đối thât chỉnh, gọi là câu đối chết.

Thí dụ:

a) Da trắng vỗ bì bạch.

Tương truyền là vế ra của bà Đoàn Thị Điểm thách ông Trạng Quỳnh đối, nhưng Trạng không đối được! Khó đối ở chỗ dùng chữ Hán "bì bạch" là da trắng trong nghĩa tiếng Việt, bì bạch còn là tiếng tượng thanh rất ấn tượng diễn tả tiếng động của bàn tay khi vỗ vào da.


Đã có vế đối:

"Trời xanh màu thiên thanh", nhưng chưa được chỉnh vì thiên thanh không tượng thanh.


b) Trời mưa đất thịt trơn như mỡ, dò đến hàng nem chả muốn ăn.

Chữ dò có nghĩa hỏi han, mò mẫm để biết tình hình. Nếu phát âm theo kiểu miền Nam nước ta thì dò cũng có nghĩa là món giò! Chả là không, chả còn là món ăn. Vế ra gồm đủ các món ăn thật hấp dẫn: thịt, mỡ, giò, nem, chả.


c) Cha con thầy thuốc về quê, gánh một gánh hồi hương, phụ tử.

Vế này khó đối vì hai từ ngữ "hồi hương""phụ tử" vừa là tên hai vị thuốc bắc, vừa có nghĩa là "về quê""cha con".


6) Truyền thống văn hóa của câu đối:


Ngày nay hình ảnh ông đồ già ngồi làm câu đối Tết đã đi vào dĩ vãng, nhưng những bài học ngắn gọn, sâu sắc ẩn chứa trong câu đối vẫn tồn tại mãi để ta học hỏi trong cách đối nhân xử thế.

Câu đối là một truyền thống văn hóa hay đẹp và thâm thúy của dân tộc. Câu đối như phơi ra những sinh hoạt linh động của người xưa.

Câu đối còn làm tăng thêm vẻ uy nghi trong những đền thờ danh nhân đất nước, nó ghi lại công đức, uy danh của những vị ấy để con cháu biết mà nhớ ơn và noi gương.

Trước đền thờ đức Trần Hưng Đạo có hai câu đối:

Một trận sông Đằng, sóng gió đã tan hồn nghịch tặc.

Nghìn thu non Dược, khói bay còn tụ khí anh hùng.


như nhắc nhở cho chúng ta những chiến công lừng lẫy, hiển hách của ngài, đã ba lần cầm quân chiến thắng quân Nguyên, đuổi giặc Mông Cổ ra khỏi nước. Đó cũng là niềm hãnh diện và vinh dự chung cho dân tộc ta.


T. V. Phê

(12/2005)

Tài liệu tham khảo:

- Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển, Dương Quảng Hàm, NXB Xuân Thu,

- Văn Học Việt Nam, Dương Quảng Hàm, Bộ Giáo Dục - Trung Tâm Học Liệu xuất bản.

- Truyền Thống Văn Hóa Dân Tộc Việt Nam Trong Văn Chương Đối Liễn, Minh Chánh Học Sĩ Trần Công Định, NXB Văn Mới, 2000.

- Chơi Chữ, Lãng Nhân, NXB Zieleks Co.1993.


Hòa Khúc:



- Trốn không được thì chỉ có một cách là can đảm nhận lấy cái đời hiện tại của mình, nhìn sự thực bằng đôi mắt ráo lệ không phiền muộn, không oán hờn, mạnh mẽ mà sống. (Nhất Linh)

- Ta nay ra người vô dụng, sống không ích lợi cho quê hương, thác cũng chẳng thiệt thòi cho xã hội; chỉ khuyên các con chẳng nên dục lợi cầu vinh mà làm điều nhẫn tâm bại lý. (Phan Thanh Giản)

- Xưa sao phong gấm rũ là,

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường. (Nguyễn Du)

- Trời không lường trưa sớm nắng mưa,

Người đâu biết hôm mai họa phúc. (Nguyễn Đình Chiểu)




:: Ca Trù Hồi Sinh :


1) "Hát ả đào là một lối hát mà ca nữ gọi là đào nương hay ả đào hay cô đầu vừa hát vừa gõ bằng hai que gỗ gọi là phách lên một cái sênh cũng bằng gỗ để làm nhịp, bên cạnh một người kép gẩy đàn theo, và trước mặt một ông quan viên đánh những tiếng trống nhỏ để điểm vào.  Tiếng hát tiếng phách tiếng đàn và tiếng trống cầm chầu phải ăn nhịp với nhau theo những luật tắc riêng về tiết điệu".(1)

Theo giáo sư Phạm Thế Ngũ thì đời nhà Trần đã có lối hát tuồng và trong cung vua và các vương hầu thường có những đội nữ nhạc múa hát hiến vui. Ðến đời Lê, phát triển rất mạnh. Khi nhà Lê mất ngôi, đất nước loạn lạc, lễ nghi nghệ thuật cũng mai một.

Mãi đến thời họ Trịnh đứng vững ở miền Bắc, suy tôn nhà Lê lên ngôi Trung hưng mới phục hưng lại. Trong cung vua Lê, phủ chúa Trịnh đều có đội nữ nhạc tinh luyện. Chúa Trịnh Giang, Trịnh Sâm cưới cả ca nhi phong làm vương phi. Trong những dịp trình diễn, có vua chúa hoặc đại diện đánh trống chầu để ban thưởng thì người ta bỏ một cái thẻ - chữ hán là trù - để ghi lại, do đó có danh từ ca trù.


2) Về sau được bình dân hóa và giản dị hóa để truyền xuống tận làng xã rồi tư gia, thậm chí chỉ cần một đào vừa hát vừa gõ phách, một kép gẫy đàn cũng đủ. Ðến đời Nguyễn sơ thì hát ả đào trở thành phổ biến đến khắp thôn quê. Ðó là cái thú tao nhã không chỉ của giới quyền quí (nhà Tham tụng Nguyễn Khản - anh thi hào Nguyễn Du - không lúc nào vắng tiếng hát đào nương), mà còn làm say mê cả những cậu thư sinh "hàn nho" như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát ... 

Ðến cuối thế kỷ 19, thú vui ấy đã biến tướng không còn được tao nhã nữa mà trở thành ô trọc nơi chốn cao lâu, tửu quán! Ðiển hình là ở Hà Nội xuất hiện nhiều tửu điếm hát ả đào trên phố Khâm Thiên, người ta thuê các cô gái thôn quê lỡ làng, dạy cho vài bài hát phục vụ trong chốn lầu xanh. Cụ Phạm Thị Mùi - nghệ nhân ca trù nổi tiếng ở làng Lỗ Khê (Ðông Anh, Hà Nội) lắc đầu than phiền: "Cái chuyện hát cô đầu ở Khâm Thiên làm giáo phường hát ca trù chúng tôi mang tiếng lắm". (2)


3) Từ năm 1945 trở về sau ca trù hầu như bị quên lãng, một phần vì các giới chức thẩm quyền còn nặng thành kiến và chưa "cảm" được nghệ thuật cổ truyền tinh tế thâm trầm này, một phần vì dư luận xã hôi quá khắc khe do tâm não luôn có ấn tượng xấu với giới "xướng ca"; do vậy gây nhiều mặc cảm cho các nghệ nhân chân chính trong bộ môn đặc sắc này khiến họ phải bỏ nghề.

Cụ Phan Thị Mơn - một nghệ nhân ca trù làng Cổ Ðạm cho biết:"Tôi về làng làm ruộng ... đập đàn, chẻ phách, giấu nhẹm giọng ca, tất cả đào kép ca trù đều vậy cả!".(3) Còn cụ Nguyễn Thị Sính ở phố Khâm Thiên thì "vội lấy khăn bọc bộ phách vì sợ hàng xóm nghe tiếng lách cách" (2). Các nghệ nhân khác chuyển nghề và mai danh ẩn tích.

Nói chung, bộ môn ca trù đã một thời bị mai một, không có ai hoặc tổ chức nào khuyến khích, giúp đở để phục hồi. Ðến nổi người nước ngoài như ông Barlay, nhà nghiên cứu âm nhạc Anh, phải tiếc rẻ và lên tiếng cảnh báo:"Người Việt Nam bây giờ chưa trân trọng, để nó bị lãng quên. Rồi một ngày nào đó, có khi các bạn phải sang tận nước chúng tôi để tìm tài liệu học ca trù đấy". (3)


4) Có lẻ cụ Trần Văn Khê - Giáo sư Tiến sĩ Âm nhạc - đã bỏ công sức đến tận nơi khuyến khích các nghệ nhân, đồng thời thuyết phục các giới chức hữu trách tạo mọi điều kiện thuận lợi để hồi phục ca trù.  

Ðầu năm 1990, chị Bạch Vân tìm đến các nghệ nhân nổi tiếng như Chu Văn Du, Kim Ðức, Phạm Thị Mùi ... để học nghề rồi thành lập CLB Ca trù Hà Nội. Chị thuyết phục các nghệ nhân đến với CLB. Hiện CLB có trên 200 hội viên ở nhiều lứa tuổi, thành phần ... (2)

Bà Quách Thị Hồ, nghệ sĩ ca trù hàng đầu của Việt Nam sợ ca trù mai một cũng đã từng "năn nỉ" học trò để truyền nghề. Bà dạy: "Ca trù là khi hát phải tròn vành, rõ chữ. Ca trù ngân nga là âm ư chứ không i ơ, khi hát phải nghiêm túc, mắt nhìn thẳng, song khuôn mặt phải tươi ... Tiếng phách nghe lúc ròn tan, lúc như tiếng suối reo, lúc lại hiền hòa êm ả, phải quyện với tiếng đàn, câu hát. Một tiếng đàn, một tiếng phách, một câu hát phải hòa quyện chặt chẽ với nhau". (4)


5) Ngày nay người ta đã quan niệm đúng đắn về ca trù, đó là: "một nghệ thuật biểu diễn thính phòng thân mật, đậm đà, có thể diễn ra trên một chiếc chiếu hoa. Ðào nương hát ngồi ngay trước mặt, người nghe ngồi thật gần ... Một nghệ thuật thân mật đẫm đầy tình trao đổi không lời. Ðào nương, người đánh trống chầu phụ họa, người gảy đàn đáy - đó là bộ ba linh hồn của ca trù". (5) 

Giáo sư Trần Văn Khê bình luận: "Tuy chỉ có ba người mà tạo nên một bầu không khí diệu kỳ gây cảm xúc mãnh liệt". Các nhạc sĩ thời nay cũng đã cố gắng sáng tác những bản nhạc phảng phất hơi hướng ca trù như Chiều Phủ Tây Hồ của Phú Quang, Không Thể Và Có Thể của Phó Ðức Phương để phổ biến sâu rộng hơn trong quần chúng. Hy vọng bộ môn nghệ thuật đặc sắc này của dân tộc không chỉ đứng vững mà còn phát triển.


6) Cụ Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858) là một vị quan văn võ song toàn, có tài kinh bang tế thế, một nhà thơ lẫy lừng; thời trẻ lại là "tay chơi khét tiếng"! Ông có đến 14 vợ, 73 tuổi vẫn còn cưới một nàng hầu! Ông đam mê hát ả đào ngay từ thuở niên thiếu.Trong thi nghiệp của ông có để lại nhiều bài hát nói làm ra để ả đào hát trong những cuộc trình diễn ca trù. Ông rất mê cô đầu, thích đi hát cho nên càng thích sáng tác hát nói. Còn gì thú bằng thưởng thức giọng hát hay của cô đào mình mê trình bày sáng tác của mình lại do chính mình tham dự đánh trống chầu! Làng Uy Viễn (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) của Nguyễn Công Trứ cách làng Cổ Ðạm (làng ca trù nổi tiếng) chỉ mươi cây số, nơi ông hay qua hát xướng nên có một giai thoại như sau:

Một hôm, ông cùng cô đào Hiệu Thư và một anh kép khác đi hát ở làng bên. Vì cảm cô đào, đến giữa đồng ông tìm kế vờ bảo bỏ quên dụng cụ quan trọng để nhờ anh kép quay về lấy. Thế là ông được tự do "tấn công" người đẹp ...

Thời gian lâu về sau khi đã đổ đạt và ra làm quan, ông cho đón một phường hát về nhà, có cô đào luống tuổi nhận quen. Trong khi ông còn ngơ ngác thì cô cất tiếng "mưỡu" (ngâm mở đầu bài hát nói) một câu lục bát để nhắc nhở:

"Giang sơn một gánh giữa đồng

Thuyền quyên ứ hự anh hùng nhớ chăng?! ...".


T. V. Phê


(1) Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên II, Phạm Thế Ngũ, NXB Ðại Nam, trang 422.

(2) Nghệ Thuật Ca Trù - "Cô Gái Ðẹp" đa đoan, Thu Hồng, Thanh Niên Xuân 2000, trang 31.

(3) Những Ðào Nương Cuối Cùng Của Ðất Ca Trù, Hoàng Phổ Quang, Phụ Nữ Xuân 2002, trang 49.

(4) Ca Trù Vẫn Sống, Nguyễn Thúy Hòa, Thế Giới Mới số 225, 1997, trang 8.

(5) Hồn Vía Ca Trù, Nguyễn Thị Minh Thái, SGGP Xuân 2001, trang 41.

Nhạc đệm do Nữ nghệ sĩ Bạch Vân trình bày bản Vịnh Tỳ Bà của Nguyễn Công Trứ.


Biểu Diễn Ca Trù:


- Lập gia đình là dịch bài thơ Ái tình ra văn xuôi. (Bougeart)

- Dù là vua hay dân cày, kẻ nào tìm thấy sự yên ổn dưới mái gia đình là kẻ sung sướng nhất. (Goethe)

- Dù nó thật tồi tàn đi nữa, nhưng chẳng có nơi nào có thể sánh với gia đình. (J.H. Payne)

- Dẫu phải ăn gạo xấu, uống nước lã mà làm cho cha mẹ được trọn cái vui, ấy gọi là hiếu. (Sách Lễ Ký)

- Hiếu ngày nay gọi là có thể nuôi được cha mẹ, đến như giống chó ngựa đều có người nuôi; nuôi mà không kính thì lấy gì mà phân biệt. (Khổng Tử)

- Cái con mắt mà chế nhạo cha, coi thường mẹ; quạ đồng sẽ mổ nó ra và ó dữ sẽ ăn lấy nó. (Tục ngữ Anh)



:: Áo dài Lemur: "thủy tổ" của những chiếc áo dài ngày nay:


Chiếc áo dài tân thời ngày nay khởi điểm từ chiếc áo dài Lemur, ra đời vào năm 1934, do họa sĩ Cát Tường vẽ kiểu và báo Phong Hóa là phương tiện phổ biến, cổ võ. Sở dĩ có tên Lemur vì đó là biệt danh của họa sĩ Cát Tường (Tường: tiếng Pháp là Lemur) ký trên các bức tranh.


1) Họa sĩ Nguyễn Cát Tường sinh năm 1911 tại tỉnh Sơn Tây. Ông trúng tuyển vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 17 tuổi (1928) và tốt nghiệp sáu năm sau (1934). Những hoạt động chính của ông:

- Phụ trách về nghệ thuật (cùng với họa sĩ Nguyễn Gia Trí) cho báo Phong Hóa và Ngày Nay do Nhất Linh chủ trương, tham gia tích cực trong phong trào giải phóng phụ nữ thoát khỏi những hủ tục, những thành kiến trói buộc quá bất công của xã hội đương thời.

- Tham gia tích cực vào những hoạt động cãi tạo xã hội do báo Phong Hóa và nhóm Tự Lực Văn Đoàn chủ trương như về phương diện nhà ở có những kiến trúc sư thiết kế kiểu nhà rẻ tiền, hợp vệ sinh (nhà "Ánh Sánh") cho dân nghèo; thì về phương diện y phục đã có ông tích cực vẽ những kiếu áo dài "Lemur" làm tăng vẻ đẹp và hấp dẫn của phụ nữ. Vượt qua mọi dư luận chống đối, ông đã thành công trong việc giúp phái nữ phô diễn những đường cong tuyệt mỹ của họ.

- Góp phần vẽ những tranh hí họa "Lý Toét, Xã Xệ" trên báo Ngày Nay để châm biếm bài xích những thói hư, tật xấu của xã hội nhằm sửa đổi phong hóa.

- Đồng thời là giáo sư hội họa tại trường Thăng Long, Hà Nội.


Ngày 17-12-1946, ông bị Dân Quân bắt tại phố hàng Bông, Hà Nội và đưa đi biệt tích lúc ông mới 35 tuổi. Gia đình lấy ngày này làm ngày giỗ ông. Thương cho bà Cát Tường, một mình tần tảo nuôi năm con thơ, có lúc phải lưu lạc tận đất Lào sinh sống. Sau năm 1954, bà nán đợi tin tức chồng trong tuyệt vọng, rồi di cư vào Nam trên chuyến máy bay cuối cùng. Sau 1975, bốn con qua Mỹ, bà ở lại Việt Nam với con gái út và mất ngày 21-12-1979, thọ 67 tuổi.


2) Bản tính họa sĩ Nguyễn Cát Tường vui vẻ, hiếu động và nhiều sáng tạo. Tuy cuộc sống ngắn ngủi nhưng hầu như lãnh vực nào trong đời sống ông lưu tâm tới đều có sự cải tiến và thành công mĩ mãn như:

- Sáng chế nhiều kiểu quần áo dài để sinh hoạt ngoài xã hội, áo ngắn mặc trong nhà, gây thành phong trào ăn mặc theo lối mới: giản dị kín đáo, nhưng vẫn yểu điệu thướt tha, làm tăng vẻ đẹp, hình dáng người mặc khiến phụ nữ rất thích vì hợp với sở nguyện ngấm ngầm của họ. Hiệu may áo dài của ông ở đường Lê Lợi là nơi cung cấp những mẫu áo Lemur mới nhất. Ông lại còn chịu khó viết những bài chỉ dẫn phụ nữ cách ăn mặc và trang điểm sao cho đẹp. 

- Mở xưởng làm guốc cao gót, đóng bàn ghế, đồ chơi trẻ em, tất cả đều do ông vẽ kiểu mới. Đặc biệt đồ chơi trẻ con làm bằng những mảnh gỗ nhỏ với nhiều hình dạng màu sắc, đã đục lỗ hoặc cắt khớp để dễ tháo ráp theo trí tưởng tượng của chúng. Đồ chơi loại này giống kiểu LEGO ngày nay, dễ gây sự ham thích, kích thích khả năng sáng tạo, phát triển sự khéo tay, nhanh trí nơi trẻ con.

- Xưởng may thêu nổi tiếng tại thị xã Bắc Ninh, phố Ninh Xá do cụ Trưởng Cầm làm chủ đã mời họa sĩ Cát Tường về hợp tác khi có đơn đặt hàng từ Pháp, cần phải có những sản phẩm nghệ thuật cao. Họa sĩ Cát Tường đã có dịp sáng chế các kiểu hàng thêu tay mới để nâng cao giá trị mỹ thuật khiến người ngoại quốc rất thích thú và hoan nghênh. Một năm sau, con gái cụ Cầm trở thành bà Nguyễn Cát Tường.

- Cải tiến xe xích lô đạp, một phương tiện chuyên chở thông dụng trên các đường phố Hà Nội, thành những chiếc xe hành khách ngồi êm, thăng bằng, thoải mái hơn; còn người lái không phải tốn nhiều sức ghi giữ khi xe chạy. Loại xe an toàn, tiện nghi, mỹ thuật này được dân chúng ủng hộ nhiệt liệt.

- Phòng trà đầu tiên có tên "Thiên Hương" tại số 14 phố Hàng Da do ông thiết trí với những bàn ghế và họa phẩm ông tự vẽ, có những thức uống thức ăn nhẹ. Đó là nơi ấm cúng, thân mật, thật lý tưởng cho các văn nghệ sĩ, trí thức gặp gỡ, họp mặt, thảo luận. Phòng trà lúc nào cũng đông khách.


3) Quan điểm của ông về bộ quần áo mới của các bạn gái như sau: "Trước hết, nó phải hợp với khí hậu xứ ta, với thời tiết các mùa, với công việc, với khuôn khổ, với mực thước của thân hình mỗi bạn; sau nữa, nó phải gọn gàng, giản dị, mạnh mẽ và có vẻ mỹ thuật và lịch sự. Nhưng dù thế nào, nó cũng phải có tính cách riêng của nước nhà mới được."  (1)


Nhớ lại những năm tháng cũ, phụ nữ với chiếc áo tứ thân rườm rà, vướng víu, cái quần lụng thụng đen ngòm cộng với cổ tục khắc khe thái quá, thậm chí mặc cái quần màu trắng dư luận đã phê bình là "lố lăng"; mới thấy công khó của ông sáng tạo và kiên nhẫn cổ xúy phụ nữ ăn mặc theo lối mới là đáng giá.

- Thoạt tiên, ông phổ biến một loạt các kiểu quần áo dài tân thời do ông vẽ đến đại chúng trong tập san Đẹp 1934, báo Phong Hóa, dưới tên Lemur. Ông còn xuất bản một tập gồm nhiều kiểu quần áo dài cho phụ nữ, nữ sinh và áo ngắn mặc trong nhà.

- Cùng lúc, ông tổ chức những buổi "trình diễn thời trang" từ Bắc vào Nam, tại dịp hội chợ do những người mẫu được tuyển chọn trong giới trí thức, sinh viên, học sinh, mặc những y phục của ông sáng tạo. Luật sư Nguyễn Thị Hậu là người mẫu đầu tiên ngoài Bắc (sau làm Thị trưởng Đà Lạt), cô Hồng Vân, người mẫu đầu tiên trong Nam mặc áo dài Lemur. Ngoài ra còn có thứ phi Mộng Điệp, nữ nghệ sĩ Phùng Há cũng là những người tiên phong mặc áo dài Lemur.


- Ông còn quan tâm tới những đồ lót như: nịt ngực, nịt mông; vì mặc quần áo tân thời mà thiếu chúng trông rất khó coi, có chúng lại tăng thêm vẽ hấp dẫn. Ông hợp tác với hiệu dệt Cự Chung ở phố Hàng Bông, Hà Nội, để sản xuất những đồ lót dệt bằng tơ sợi nhỏ và mềm kịp cung ứng cho nhu cầu.

- Mặc bộ quần áo mới này mà không đi giày cao gót thì thiếu vẻ yểu điệu và không làm nổi bật dáng đi của mỗi người, nên ông đã mở xưởng làm guốc cao gót do chính ông vẽ kiểu. Thế mới thấy sự chu đáo và nhiệt tình của ông đối với cái đẹp của phụ nữ.


4) Tiếc thay, đời hoạt động của ông thật ngắn ngủi, chỉ mười hai năm sau khi tốt nghiệp (1934 - 1946); nhưng người họa sĩ tài hoa, với nhiệt tình và hăng say của tuổi trẻ, đã cống hiến cho đời nhiều sáng tạo có ý nghĩa và góp phần tô điểm cho nền văn hóa nước nhà.

Kiểu quần áo dài Lemur do họa sĩ Cát Tường sáng tạo từ bảy mươi năm trước là bước biến đổi quyết định để phát sinh ra những chiếc áo dài đủ màu, đủ kiểu, đủ dáng vẻ ngày nay. Những chiếc áo dài đẹp đẽ, sang trọng, kín đáo mà hấp dẫn ấy đang thướt tha bay lượn không chỉ trên quê hương mà còn khắp nơi trên thế giới khiến người ngoại quốc phải trầm trồ khen ngợi: ÁO DÀI very pretty, bên Pháp thì formidable, chouette, charmant, vrai bijou, adorable, mignonne ...

Ngày xưa, chị em phụ nữ tán dương: "Kiểu quần áo Cát Tường đã làm cho chị em thêm diễm lệ ở nét mặt, thêm phần thướt tha, đầy đặn ở hình vóc, thêm vẻ yểu điệu và uyển chuyển cho dáng đi." (2) Ngày nay, bộ quần áo ấy còn "mang lại sự kiêu hãnh cho người mặc và niềm vinh dự cho người Việt trong nước cũng như tại hải ngoại."


T. V. Phê

(03/2006)

Tài liệu tham khảo:

1) Y phục của phụ nữ, Nguyễn Cát Tường, Phong Hóa, 1934; Thế Kỷ 21 Xuân, 2006.

2) Tiểu sử và sự đóng góp vào văn hóa Việt Nam của họa sĩ Nguyễn Cát Tường - Lemur, Nguyễn Trọng Hiền, Thế Kỷ 21 Xuân 2006.

3) Áo dài Lemur, Vũ Ngọc Truy, Thế Kỷ 21 Xuân 2006.

4) Cha tôi trong tâm tưởng, Nguyễn Cát Minh Nguyệt, Thế Kỷ 21 Xuân 2006.


Áo Dài (Tranh: Joseph Inguimberty, Giáo sư Trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương) :




- Về nhan sắc cũng như về trí tuệ, cái đẹp mà người ta muốn có, làm hại cái đẹp người ta đang có. (Severin Icard)

- Nhìn thấy những cái đẹp bao giờ cũng khó hơn là nhìn thấy những cái xấu. (Chateaubriand)

- Tuổi trẻ là mùa của yêu thương. Tuổi già là mùa của đạo đức. (G. Granville)

- Tuổi trẻ thường ao ước: tình yêu, tiền bạc và sức khỏe. Một ngày nào đó họ sẽ nói: sức khỏe, tiền bạc và tình yêu. (P. Geraldy)

- Phúc hay họa của tuổi già, đó chính là hậu quả của cuộc đời quá khứ. (Sainte Beuve)

- Khi đau khổ người ta kêu ca, khi hưởng lạc người ta thinh lặng. (Sainte Beuve)

- Một nụ cười tươi là ánh mặt trời ở trong nhà. (Thackeray)


- Ðược thua hơn kém: lưng hồ rượu,

Hay dở khen chê một trận cười. (Nguyễn Khuyến)

- Thiếp dù vụng chẳng hay suy, (câu 1587)

Ðã dơ bụng nghĩ lại bia miệng cười! (Nguyễn Du-Truyện Kiều)



 

 

Nhan Vat

 

   
 

Nhân Vật

 

- Người Chàm Trong Mắt Tôi (Nguyễn Ngọc Chính)

- Công lao Tổng thống Ngô Đình Diệm cần được tôn vinh (Lê Công Định)

- Alexander Solzhenitsyn: Văn Tài và Đạo Đức của Sự Thật (Bùi Tiên Khôi)

- Bùi Thị Minh Hằng (Vũ Đông Hà)

- "Lạc Lõng" Cậu Nho Sinh Người Mỹ Gốc Việt

(Thiên An)

- Thủ Bút Của Trần Trọng Kim - Thư Gửi Hoàng Xuân Hãn (Nguyễn Đức Toàn)

- Chú Hề Buồn Bã (Lê Hữu)

- Giải mã lãnh tụ: Một đóng góp quan trọng của Trần Đức Thảo (Đoàn Thanh Liêm)

- Vịn Câu Thơ Mà Đứng Dậy (Trần Trung Đạo)

- Bài Thơ Cho Đỗ Thị Minh Hạnh (Trần Trung Đạo)

- Ngõ Phất Lộc: Từ Nguyễn Hiến Lê đến Người Buôn Gió (Đoàn Thanh Liêm)

- Gió Bão Ngoại Giao Thời Thịnh Trần và Vị Sứ Thần Lỗi Lạc Đinh Củng Viên (Phạm Khắc Hàm)

- Sứ Thần Giang Văn Minh Không Làm Nhục Quốc Thể (Tạ Quốc Tuấn)

- Việt Dzũng, nghệ sĩ đấu tranh không tàn tật tâm hồn (Võ Đại Tôn)

- Để So Sánh Các Anh Hùng Trước Nguyễn Huệ với Nguyễn Huệ (Phạm Văn Sơn)

- Nelson Mandela, Quyền lực của sự tha thứ

(Nguyễn Hưng Quốc)

- Bình Luận và Vịnh Nhị Trưng (Dương Bá Trạc)

- Gia Đình Trưng Vương (Hoa Bằng)

- Trần Danh San, Tiếng hò khoan đã tắt

(Phan Nhật nam)

- Danh Tướng Thi Nhân Phạm Ngũ Lão (Tạ Quốc Tuấn)

- Cuộc Khởi Nghĩa của Hai Bà Trưng (Hà Mai Phương)

- Chiến Thắng Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền Năm 939 (Hà Mai Phương)

- Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà và Anh Hùng Đánh Tống-Bình Chiêm Lý Thường Kiệt (Lý Tế Xuyên)

- Lê Lợi, Nguyễn Trãi và Cuộc Cách Mệnh Lam Sơn

(Trần Ngọc Ninh)

- Phạm Ngũ Lão (Phan Kế Bính)

- Đặng Dung, Bậc Anh Hùng Lỡ Vận và bài thơ "Cảm Hoài" (Phạm Khắc Hàm)

- Sử Thi Về Hai Bà Trưng (Viên Linh)

- Ô cửa nhỏ của Thục Vy (Lê Hữu)

- Bà Lương Giết Giặc Minh Hạ Thành Cổ Lộng

(Chu Thiên)

- Hiểm họa từ Trung Quốc (T. V. Phê)

- Feb 1, 2003: Phi thuyền con thoi Columbia bị nổ tung (T. V. Phê)

- Chuyện trùng hợp lạ kỳ (T. V. Phê)

- Đạt Phan, người giễu hay nhất nước Mỹ năm 2003 (T. V. Phê)

- Dương Nguyệt Ánh góp phần chiến thắng tại A Phú Hãn (T. V. Phê)

- Người làm rạng danh tổ quốc: Mai Văn Hòa

(T. V. Phê)

- Ngôn ngữ thời Internet (T. V. Phê)

- Tiếng Việt lý thú (T. V. Phê)

- Tiệc đầu khỉ, cỗ đầu người (T. V. Phê)

- Nhạc võ Tây Sơn (T. V. Phê)

- Vua Quang Trung (T. V. Phê)

- Cảnh nghèo khó và bệnh tật của thi hào Nguyễn Du (T. V. Phê)

- Cỏ cây trong Truyện Kiều (T. V. Phê)

- Ngày giờ nàng Kiều bị bắt (T. V. Phê)

- Cái ghen của Hoạn Thư (T. V. Phê)

- Cù lao chín chữ (T. V. Phê)

- Mối tình của nữ sĩ Hồ Xuân Hương với Nguyễn Du (T. V. Phê)

- Áo dài Lemur: "thủy tổ" những chiếc áo dài ngày nay (T. V. Phê)

- Ca trù hồi sinh (T. V. Phê)

- Câu đối (T. V. Phê)

- Sáu luật về dấu hỏi ngã (T. V. Phê)

- Nước ta có Sử từ đời nào? (T. V. Phê)

- Dòng giống Tiên Rồng (T. V. Phê)

- Người Việt xấu xí?! (T. V. Phê)

- Người Chăm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam

(T. V. Phê)

- Không mới nhưng ... lạ (Minh Nguyệt)

- Ông tổ triết thuyết hiện sinh sống ra sao?

(T. V. Phê)

- Dũng khí của nhà văn (T. V. Phê)

- Nằm gai nếm mật (T. V. Phê)

- Chết vì một bài thơ (T. V. Phê)

- Ai công hầu, ai khanh tướng (T. V. Phê)

 

Phim Tài Liệu

 

L'exode du Nord Viet Nam

 

 

 
© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)