Head

 

 

Nuoc ta co Su tu doi nao?

Nước ta có Sử từ đời nào?

Dòng giống Tiên Rồng

Người Việt xấu xí?!

Người Chăm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam


:: Nước ta có Sử từ đời nào? :


1) Cụ Trần Trọng Kim trong lời Tựa sách Việt Nam Sử Lược viết: "Nước Việt ta khởi đầu có sử từ đời nhà Trần, vào quãng thế kỷ thứ 13". Ông Lê Văn Hưu vâng lệnh vua Trần Thái Tông (1225 - 1258) biên soạn bộ Ðại Việt Sử Ký được xem là bộ sử đầu tiên và như vậy học giới cho rằng ông là người viết sử đầu tiên của nước ta. 

Ông Lê Văn Hưu (1230 - 1322) quê làng Dị, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Năm 11 tuồi, khi đi chợ mua rau cho mẹ, ngang qua lò rèn nghe những tiếng phì phò lạ tai, ông tò mò đứng lại xem. Bác thợ rèn đang rèn dùi sắt, ngước nhìn thấy cậu bé trong túi có một quyển sách, bác liền nói:

- Cháu mang sách trong túi, vậy cháu có học. Bác ra cho cháu một câu đối nhé. Câu này khó lắm nhiều người không đối được đâu!  

- Xin bác cứ ra.

Bác thợ đọc: "Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò, đúc nên dùi sắt". 

Ông suy nghĩ một lúc rồi đối ngay: "Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi, giành được tam khôi". 

Bác thợ rèn phục quá, khen ông ứng đối lanh lẹn, câu đối hay và có chí khí, liền thưởng cho ba quan tiền.

Ông thọ 93 tuổi và từng là thầy của tướng Trần Quang Khải - người cùng với Trần Hưng Ðạo - là những vị anh hùng chống quân Nguyên của dân tộc ta.


2) Theo ông Hoa Bằng viết trong Tạp chí Tri Tân, số 6 ngày 8-7-1941, thì trước Lê Văn Hưu đã có Trần Tấn (cùng sống dưới triều vua Trần Thái Tông) trước tác bộ Việt Chí, sau đó Lê Văn Hưu mới sửa lại cho hoàn chỉnh, đầy đủ, thứ tự và có lời bàn tức bộ Ðại Việt Sử Ký ngày nay. 

Sau khi nêu tài liệu dẫn chứng, ông Hoa Bằng kết luận: "Nước ta, từ đời Triệu Ðà đã có chức Nội sử, đời Lý đã có những sách thuộc loại hiến chương; còn sử thì đến đời Trần Thái Tông đã có bộ Việt Chí. Mà sử thần Trần Tấn chính là người lính tiên phong trong đội sử ký Nam Việt. Tiếc rằng bộ Việt Chí do Trần Tấn làm đó không tuyền, nên về sau người ta chỉ thấy có bộ Ðại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu, là người có công lớn với sử học giới Nam Việt".


3) Ngày nay, những bộ sử quan trọng của nước ta như: Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim), Việt Sử Toàn Thư (Phạm Văn Sơn), Việt Sử Tiêu Án (Ngô Thời Sỹ), Ðại Việt Thông Sử (Lê Quý Ðôn), Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư (nhiều sử gia đời Trần & Lê soạn thảo), An Nam Chí Lược (Lê Tắc), ... đã được chuyển thành "ấn bản điện tử" để đưa lên mạng lưới toàn cầu cho mọi người cùng tham khảo. Ðó là công trình tâm huyết rất đáng trân trọng của Hội chuyên gia Việt Nam, nhóm Sách Việt, nhóm bạn Lê Bắc, Doãn Vượng, Công Ðệ, Ngọc Thủy, ... Chúng ta chỉ còn có việc chịu khó đọc để biết sử nước nhà: http://www.shcd.de/lichsu%20vn/lichsuvn.htm.


4) Nhà viết Sử quyết hy sinh tính mạng để bảo vệ sự thật: 

Thôi Trữ sau khi giết Tề Trang Công để lập Tề Cảnh Công rồi buộc thái sử Bá chép vào sử là vua bị bệnh chết. Thái sử Bá không nghe, vẫn chép: "Ngày Ất Hợi, tháng năm mùa hạ, Thôi Trữ giết vua là Quang." Thôi Trữ nổi giận giết thái sử Bá. Hai người em kế của Bá là Trọng và Thúc cũng cứ chép như anh, khiến đều bị Thôi Trữ giết. Ðến người em thứ ba là Quý, Thôi Trữ đe dọa:

- "Ba anh ngươi đều bị giết, nếu ngươi chịu chép khác ta sẽ tha cho".

Thái sử Quý đáp:

- "Bổn phận người viết sử là phải tôn trọng sự thật. Nếu tôi không chép đúng sự thật thì người khác cũng chép, đã không che dấu được cái xấu của Tướng quốc, còn làm cho thức giả thêm chê cười, bởi vậy tôi phải chép sự thật; còn sự sống chết của tôi là tùy ở Tướng quốc".

Thôi Trữ thở dài than rằng:

- "Ta bất đắc dĩ phải làm việc này vì lo nước nhà nghiêng đổ, nhà ngươi dẫu chép sự thật nhưng thiên hạ cũng xét cho tấm lòng ta". Nói xong, ném trả thẻ tre cho thái sử Quý.

T. V. Phê

(03/2004)

Cửa Bể Chiều Hôm (Ảnh: Trần Cao Lĩnh)



- Ung dung ta nói điều ta nghĩ

Uốn lưỡi theo người quyết chẳng theo (Nguyễn Trãi)

- Cái biểu hiệu tốt nhất của chân lý là sự giản dị và rõ ràng.

Cái giả dối thường bao giờ cũng vờ vĩnh, rối rắm và hoa mỹ. (Léon Tolstoi)

- Những việc qua trước mắt còn sợ chưa thật,

Lời nói sau lưng chớ nên quá tin. (Sách Minh Tâm)

- Thuốc đắng đã tật, lời thật mất lòng. (Tục ngữ)

- Hãy yêu cái điều mà người ta khuyến cáo anh, chứ không phải cái điều mà người ta tán tụng anh. (Boileau)

- Nên tập thói quen để tìm cái thật ở trong các việc nhỏ, không thế, ta sẽ bị lừa trong các việc lớn. (Voltaire)




:: Dòng Giống Tiên Rồng :


1) Ðã có nhiều thuyết nói về thủy tổ người Việt, nhưng cho tới nay vẫn chưa có thuyết nào được hoàn toàn mọi học giả chấp nhận. Các sử gia của ta ngày xưa cũng không đề cập đến nguồn gốc dân tộc Việt Nam. 

- Thời cận đại, sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược mới đưa ra thuyết của các nhà kê cứu người Pháp cho rằng người Việt Nam và người Thái đều ở Tây Tạng xuống. Người Việt Nam theo sông Hồng Hà lần xuống phía Ðông Nam lập ra nước Việt Nam; còn người Thái theo sông Mê Kong xuống, lập ra nước Thái Lan và Lào ngày nay. (1)

- Cụ Trần cũng đề cập đến nhiều người Tàu và Việt Nam nói khi xưa đất Tàu có giống Tam Miêu ở. Sau giống Hán (tức người Tàu bây giờ) ở phía Tây Bắc đến đánh chiếm lưu vực sông Hoàng Hà lập ra nước Tàu, người Tam Miêu phải lẩn núp vào rừng hay xuống ở vùng đất phía Nam lập ra nước Việt Nam ta ngày nay.

- Lại có thuyết cho rằng dân tộc Việt Nam thuộc chủng tộc Bách Việt, trong đó có các tộc Quí Việt, Âu Việt, Mân Việt, Lạc Việt ... hiện còn tản mạn theo lưu vực sông Dương Tử. Việt Nam ta thuộc tộc Lạc Việt đi về phía Giao Chỉ, Ái Châu, Hoan Châu lập ra nước Văn Lang. (2)



2) Theo phương pháp khảo cổ mới nhất - dùng Carbon 14 để định tuổi các cổ vật ở vùng Ðông Nam Á, Wilhelm G. Solheim II (Ðại học Hawaii) cho rằng nền văn minh Hòa Bình tại Bắc Việt Nam là nền văn minh nông nghiệp đầu tiên trên thế giới, khoảng 15 ngàn năm trước Dương lịch (tr. DL). 

Các dụng cụ bằng đá ở Úc Châu, đồ gốm ở Nhật, cả hai nền văn minh nổi tiếng của Trung Hoa là Lung shan và Yang shao; Solheim II cũng nhấn mạnh đều phát xuất từ văn minh Hòa Bình.

Ðồ đồng Hòa Bình (3500 năm tr. DL) có trước đồ đồng Ấn Ðộ khoảng 500 năm và trước đồ đồng Trung Hoa khoảng 1000 năm. Trống đồng thuộc địa bàn người Việt đẹp hơn và có kỷ thuật cao hơn các trống đồng vùng lân cận như Trung Hoa (Vân Nam), Nam Dương, Phi luật Tân ...Các trống đồng vùng lân cận đều phát xuất từ trung tâm Hòa Bình.

"Khoảng 30 tới 40 ngàn năm tr. DL có một số bộ lạc tiền sử hợp sinh tại địa bàn Hòa Bình, Bắc Việt. Sau một thời gian dài việc hợp sinh này đã tạo thành một giống thuần nhất là người Việt, có những đặc tính nhân chủng còn truyền tới ngày nay. Như vậy, Hòa Bình là địa bàn gốc của giống tổ Việt tộc". (3)


3) - Tục truyền, vua Ðế Minh (cháu ba đời vua Thần Nông) đi tuần thú phương Nam gặp một nàng tiên, lấy nhau, sinh ra Lộc Tục. Sau Ðế Minh phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam khoảng năm nhâm tuất 2879 tr. DL, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ

Kinh Dương Vương lấy con gái Ðộng Ðình Quân là Long Nữ sinh ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân lấy con gái vua Ðế Lai là Âu Cơ, sinh một lần được trăm người con trai, phong cho con trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương. Ðến đời vua Hùng Vương thứ 18 thì bị nhà Thục lấy mất nước.

"Nước nào cũng vậy, lúc ban đầu mờ mịt, ai cũng muốn tìm cái gốc tích mình ở chỗ thần tiên để cho vẻ vang cái chủng loại của mình. Chắc cũng bởi lẽ ấy mà sử ta chép rằng họ Hồng Bàng là con tiên cháu rồng". (1)

Từ khi lập quốc đến giờ, dân ta bị người Tàu cai trị hà khắc, độc ác đến cả ngàn năm, biết bao điêu đứng khổ sở; nhưng các đấng tiền nhân vẫn lập được nền tự chủ, vẫn giữ được bản sắc dân tộc, đủ tỏ rằng khí lực của dân ta không phải tầm thường.


Ý nghĩa Quốc Hiệu và Vương Hiệu (4):


Kinh Dương Vương: Vua Châu Kinh và Châu Dương (vùng đất phía Nam Trung Hoa kể từ sông Dương Tử).

Xích Quỷ: Nước được quản trị và điều hành bằng Nhân và Trí nhằm tạo cho người dân có cuộc sống hạnh phúc, sinh tồn và phát triển. Nước được xây dựng nền văn hóa tâm linh, tin tưởng linh hồn bất diệt, khi lìa thể xác, trở về nơi cư ngụ chân thực.

Lạc Long Quân: Vị vua xây dựng và phát huy cuộc sống nông nghiệp, đức độ cao cả, tài ba siêu việt ví như rồng.

Hùng Vương: vua của Bách Việt.

Văn Lang: Vùng đất nước của những người lương thiện, sống theo Ðạo Trời, cùng nhau thể hiện sứ mạng thiên lương.


Tài liệu tham khảo:

1) Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, NXB Ðại Nam, trang 5.

2) Người Việt Nam thuộc chủng tộc nào?, Huỳnh Văn Lang, Khởi Hành 92 (6/2004), trang 34.

3) Xét lại các thuyết về tiền cổ sử Việt Nam, Phạm Quân Khanh, Khởi Hành 56 (6/2001), trang 22.

4) Ý nghĩa Quốc hiệu và Vương hiệu thời lập quốc, Trần Lam Giang, Khởi Hành 55 (5/2001), trang 12.


Cầu Treo (Lai Châu):



- Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Người trong một nước phải thương nhau cùng. (Ca Dao)

- Ai ai hỡi cùng xương cùng thịt:

Nòi Lạc Hồng một ruột sinh ra,

Lẽ nào ta lại ghét ta,

Gậy nhà đem đánh người nhà sao đang. (Phan Bội Châu) 

- TIN vẫn lợi hơn NGHI. Trong mười người ta tin, có thể có một kẻ thù lẻn vào; nhưng ta vẫn còn chín người bạn. Và chín người bạn này sẽ giúp ta tìm ra kẻ thù ấy. Nếu ta nghi cả mười người, khi ta giơ tay, chẳng ai bắt tay ta. Ta không có một bạn nào cả. (Nguyễn Mạnh Tường)

- Tài cao không có để người phục, đức lớn không có để người trọng, thì chỉ có một đức nhỏ để người mến: đó là nhường nhịn, ít nói. (Võ Hồng)





:: Người Việt Xấu Xí?! :


1) Hãy nghe ông Bá Dương (1) can đảm vạch những thói hư, tật xấu của đồng bào mình để biết mà sửa chữa: 

- Ðặc tính rõ nhất là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Có nhiều nơi hễ người Trung Quốc đến ở là những người khác phải dọn đi ... Cái mồm người TQ thì to không ai bì kịp ... Hai người Quảng Ðông "lặng lẽ" nói chuyện với nhau, người Mỹ lại tưởng họ đánh nhau ...

- Một người Nhật đơn độc trông chẳng khác nào một con lợn, nhưng ba người Nhật hợp lại thành một con rồng ... Mỗi người Trung Quốc là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời ... Nhưng nếu ba người Trung Quốc họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi, hoặc thậm chí không bằng cả một con giòi nữa! ...

- Người Trung Quốc "bụng dạ nhỏ hẹp nên dễ đầy", kiến thức thấp kém, lòng dạ hẹp hòi, chỉ cần có một tý gì đó đã tưởng trời đất dẫu to nhưng không chứa nổi mình nữa! ... Người TQ thích nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa ...v ..v .. (2)


2) Còn người Việt mình thì sao? Ðã có rất nhiều sách khen ngợi rồi như: Người Việt Cao Quý, Người Việt Ðáng Yêu ... Cũng có sách vạch những khuyết điểm như: "Tổ Quốc Ăn Năn" của ông Nguyễn Gia Kiểng, "Văn Hóa Trì Trệ Nhìn Từ Hà Nội Ðầu Thế Kỷ 21" của bà Lê Thị Huệ, ...Ở đây chỉ xin ghi lại những khuyết điểm do cụ Trần Trọng Kim vạch ra để cùng nhau học hỏi sửa chữa:

"Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt có cả tính tốt và tính xấu. Ðại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quí sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, làm năm đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và hay bài bác chế nhạo. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự hòa bình, nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật.

Tâm địa thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang và ưa phô trương bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma quỉ, sùng sự lễ bái, ... Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng nhân, biết thương người và hay nhớ ơn ..." (3)


3) Vài Câu Hỏi "Nhức Nhối":

- Tại sao người các nước khác thường tìm đến cộng đồng của họ thì khá nhiều người Việt mình tìm cách xa lánh?

- Tại sao người Việt có thể mua nhạc hàng tháng để giải trí nhưng có khi cả năm mới mua một cuốn sách là món ăn tinh thần? Không có dân tộc nào tiến mạnh mà sách vở lại nghèo nàn. Bởi chính sách vở là kho kiến thức, là nền tảng để phát triển.

- Tại sao ở quán cà phê và hiệu ăn lúc nào cũng đầy người mà không nghe được tên một nhà thám hiểm VN nào?

- Tại sao trong văn, thơ, nhạc của chúng ta thường nội dung hay có khuynh hướng buồn nhiều hơn vui? ...v ...v ... (4)


(1) Ông Bá Dương sinh năm 1920 ở Trung Quốc lục địa, chạy sang Ðài Loan năm 1949 khi Cộng sản thắng tại TQ. Là một nhà thơ, nhà văn, nhà báo và sử gia. Ông đã bị bỏ tù 10 năm tại Lục Ðảo (Ðài Loan) vì dịch sang tiếng Trung Quốc một tranh hý họa Popeye mà chính phủ Ðài Loan cho là phạm thượng. 

Năm 1977, khi ra khỏi nhà tù, ông bắt đầu đi nói chuyện về hiện tượng "người Trung Quốc xấu xí". Những bài nói chuyện của ông và của những người tranh luận với ông được tập trung lại thành quyển sách "Người Trung Quốc xấu xí". Sách này được viết và xuất bản ở Ðài Loan, sau đó tái bản tại Trung Quốc lục địa. Gần đây còn có nguyên cả một quyển sách phỏng vấn Bá Dương về cuốn "NTQXX" này. Hai tuyển tập tạp văn lớn của ông vừa được NXB Hữu Nghị tại Bắc Kinh phát hành.

Ông hiện sống ở Ðài Loan với vợ là bà Dương Hương Hoa, một thi sĩ. (Nguyễn Hồi Thủ)

(2) Người Trung Quốc Xấu Xí, Bá Dương, Nguyễn Hồi Thủ dịch, NXB Văn Nghệ, 1999, trang 46.

(3) Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, NXB Ðại Nam, trang 6. 

(4) Người Việt mạnh yếu chỗ nào?, Ðỗ Thông Minh, Thế Kỷ 21 số 162, Oct 2002, trang33.


Bức Tranh Xuân (Họa sĩ Nguyễn Thị Hợp) :



- Lời phê bình là một ngọn đuốc, và lời tán tụng là một cái giải che mắt (De Laténa)

- Kẻ nói điều xấu của ta là thầy ta; kẻ nói điều tốt của ta, đó là kẻ thù của ta. (Cổ ngữ)

- Lòng tốt thường chứa đựng trong lời bình phẩm nhiều hơn trong sự tán tụng (Mlle De Sommery)

- Thuốc đắng đã tật. (Tục ngữ VN)

- Những lời khen tặng giống như hương thơm. Ta chỉ nên để nó thoáng qua, chứ đừng để nó thấm vào người. (G. Clark Mun)



:: Người Chăm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam :


Dân ca Chăm Miền đất Panduranga


1) Những tháp chàm với lối kiến trúc độc đáo, huyền bí còn rải rác ở các tỉnh miền Trung Việt Nam là chứng tích nền văn minh một thời lừng lẫy của quốc gia Chămpa. Kỹ thuật sử dụng gạch của người Chăm đến độ tuyệt xảo:Tháp xây bằng gạch không có mạch hồ để nối kết nhau, vậy mà vẫn đứng vững hàng ngàn năm giữa nắng mưa bão táp. Sức tàn phá của thiên nhiên chỉ có thể làm mòn dần chứ không thể tách rời những viên gạch ấy ra được!

Rải rác dọc các tỉnh miền Trung còn nhiều tháp, sau đây là những tháp chính:

- Tháp Po Klong Garai nằm trên đồi cao ở Tháp Chàm, Phan Rang. Vua Chế Mân cho xây năm 1307 để thờ vua Po Klong Garai (1151-1205) là vua có công phát triển nông nghiệp và dẫn thủy nhập điền.

- Tháp Bà Pô Nagar không rõ năm xây, bị người Malaixia đốt phá năm 774 nên phải xây dựng lại năm 784. Trong tháp thờ bộ sinh thực khí Linga-Yoni biểu thị sự hoạt động và sáng tạo, bảo tồn vạn vật của vũ trụ (Linga biểu hiện dương vật là khối đá trụ tròn đặt thẳng đứng trên Yoni biểu hiện âm vật là bệ đá vuông có rãnh thoát nước). Tháp còn thờ nữ thần Yan Pô Nagar (Bà Mẹ Ðất nước Chăm hay Thiên Y Thánh Mẫu). 

- Quần thể tháp ở thánh địa Mỹ Sơn là nhiều nhất, lâu đời và có giá trị nhất về kiến trúc nghệ thuật, ngang tầm với Angkor (Campuchia), Pagan (Myanma), Borobudur (Indonesia). Kiến trúc sư Kazimierz Kwiakowski cho rằng: "Người Chămpa cổ đã gởi tâm linh vào đất, đá và đã biết dựa vào thiên nhiên để làm nên một Mỹ Sơn tráng lệ - thâm nghiêm - hùng vĩ. Ðây là một bảo tàng kiến trúc điêu khắc nghệ thuật vô giá của nhân loại mà sẽ còn lâu chúng ta mới hiểu biết".

Thánh địa Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là một Di Sản Văn Hóa Thế Giới cần phải bảo tồn. Tháp cũng thờ ngẫu tượng Linga-Yoni và các thần chính trong Ấn Ðộ giáo: Brahma, Vishnu và Shiva.


2) Vương quốc Chiêm Thành bao gồm từ vùng đất tỉnh Hà Tĩnh đến tỉnh Bình Thuận kể cả vùng rừng núi Trường Sơn và cao nguyên Nam Trung phần của nước ta trải rộng đến biên giới Lào ngày nay (*). Người Chiêm Thành, ngoài người Chàm còn có người Jarai, Rhade, Churu, Stieng ... theo chế độ mẫu hệ, nhưng vua lại theo phụ quyền.

Người Chiêm giỏi về thủy lợi, ngư nghiệp, thủ công nghiệp. Nhìn những tháp chàm còn lại cho thấy họ cũng còn là những nhà kiến trúc, điêu khắc đại tài. Từ thuở lập quốc khoảng năm 192 với tên là Lâm Ấp, do ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, Chiêm Thành theo Ấn Độ giáo. Phật giáo thịnh hành từ cuối thế kỷ thứ 9 trước khi người Chiêm dời đô về Đồ Bàn. 

Hồi giáo truyền vào Chiêm Thành khoảng thế kỷ thứ 10 trở đi. Theo truyền thuyết, vua Pô Ovloah (trị vì 1000 - 1036) đã đi hành hương thánh địa Mecca, nơi sinh trưởng của Mohammed - người sáng lập ra Hồi giáo.

Người Chiêm lập quốc rất sớm với nền văn minh khá cao, có ngôn ngữ và chữ viết riêng, nhưng lại không có sử học do đó các nhà nghiên cứu phải nhờ vào những tấm bia trong đền đài, những câu chuyện truyền khẩu, những sử liệu của các nước lân bang Trung Hoa, Việt Nam, Mã Lai ... để dựng lại lịch sử nước Chiêm Thành. Kinh đô đầu tiên ở Indrapura (Đồng Dương, Quảng Nam) với di tích nổi tiếng là một quần thể tháp đồ sộ còn lại ở Mỹ Sơn, Trà Kiệu ngày nay.


3) Từ thời nước ta còn nội thuộc Trung Hoa, người Lâm Ấp (tên nước Chiêm Thành lúc đó) thường xuyên đem quân cướp phá Giao Châu. Sau khi nước ta độc lập với tên nước mới là Đại Cồ Việt, người Chiêm vẫn mãi gây hấn. Trong sách Dân tộc Chàm lược sử của các tác giả người gốc Chiêm Thành cũng xác nhận sự cướp phá thường trực đó. Sau đây chỉ sơ lược lại các sự kiện chính liên quan đến những lần mất dần đất đai của nước Chămpa:


- Thời vua Lê Hoàn (trị vì 980 - 1005) vì bận đối phó với quân nhà Tống xâm lược nên sai sứ sang Chiêm Thành giao hảo nhưng vua Chiêm lại bắt giam sứ giả. Sau khi đánh tan quân nhà Tống, Lê Hoàn đem quân chinh phạt Chiêm Thành năm 982. Sau vua Yang Pu Ku Vijaya Shri phải dời đô vô Vijaya (Đồ Bàn, Bình Định) năm 1000 cho an toàn.


- Vua Lý Thánh Tông (trị vì 1054 - 1072) đổi quốc hiệu thành Đại Việt năm 1054. Năm 1068, vua Chiêm là Rudravarman III (Chế Củ) tấn công nước ta. Vua Lý Thánh Tông phải thân chinh đánh trả và tấn công Đồ Bàn năm 1069, bắt giải Chế Củ về Thăng Long. Chế Củ phải dâng đất ba châu Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh (vùng đất từ Hà Tĩnh đến bắc Quảng Trị) để đổi lấy tự do.


- Thời nhà Trần, hai nước Đại Việt, Chiêm Thành tương đối hòa thuận để cùng chống quân Mông Cổ. Vua Trần Nhân Tông (trị vì 1279 - 1293) đã giúp hai vạn quân và 500 chiến thuyền để Chiêm Thành kháng chiến chống quân Mông. Hòa bình tái lập, Chiêm Thành sang triều cống Đại Việt. Năm 1306, vua Jaya Simhavarman (Chế Mân, trị vì 1288 - 1307) tặng hai châu Ô và Rí (vùng đất từ nam Quảng Trị đến nam Quảng Nam) để làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân (con vua Trần Nhân Tông).


- Cuối đời nhà Trần, một vị anh hùng của dân tộc Chiêm là Pô Bin Swơr (Chế Bồng Nga, trị vì 1360 - 1390) biết được nội bộ nhà Trần rối ren chia rẻ nên thừa cơ đem quân ra cướp phá Thăng Long ba lần. Năm 1390 đang khi tiến lên khúc sông Hồng ở Hà Nam thì bị thuộc hạ làm phản, chỉ điểm cho tướng Trần Khát Chân bắn chết Chế Bồng Nga. Từ đó nước Chiêm Thành yếu dần.

- Thời nhà Hồ, vua Hồ Hán Thương (trị vì 1401 - 1407) sai Ðỗ Mãn đem quân đánh trả đũa Chiêm Thành năm 1402. Vua Chiêm là Ba Ðích Lại xin nhường vùng Indrapura (Ðồng Dương, Quảng Nam ngày nay).


- Đời nhà Lê, vua Chiêm là Trà Toàn hai lần (năm 1468 và 1469) xua quân tấn công Hóa Châu khiến vua Lê Thánh Tông (trị vì 1460 - 1497) cầm quân chinh phạt bắt Trà Toàn năm 1471 và lấy vùng đất Amaravâti (Quảng Ngải)Vijaya (Bình Định).


- Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, người Chiêm hay quấy phá vùng biên giới phía Nam. Để rảnh tay chống lại Chúa Trịnh, Nguyễn Hoàng sai chủ sự Văn Phong đem quân vượt đèo Cù Mông chiếm vùng Phú Yên ngày nay (giữa Vijaya và Kauthara), sau này lập thành dinh Trấn Biên.

Để tạo hòa hiếu, Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên (cầm quyền 1613 - 1635) gả con gái thứ ba là Nguyễn Phúc Ngọc Khoa cho vua Chiêm là Pôrômê (1627 - 1651) năm 1631.


- Năm 1653, vua Chiêm là Bà Thấm đem quân đánh Phú Yên. Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (cầm quyền 1648 - 1687) sai cai cơ Hùng Lộc dẹp yên, lấy hẳn vùng Kauthara lập thành phủ Thái Ninh, sau đổi thành phủ Diên Khánh. Năm 1692, vua Chiêm là Bà Tranh lại tấn công phủ Thái Ninh. 

Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (cầm quyền 1691 - 1725) sai Nguyễn Hữu Cảnh đánh dẹp lấy vùng Panduranga (phía nam sông Phan Rang) lập thành phủ Thuận Thành. Từ đó (1693), nước Chiêm Thành không còn trên bản đồ nữa. Vua Minh Mạng (trị vì 1820 - 1840) ra lệnh bỏ vùng tự trị cuối cùng của người Chiêm là Bình Thuận.


4) Lược qua những sự kiện chính nêu trên để thấy người Chiêm mất đất dần là do chính sách hiếu chiến của giới lãnh đạo Chiêm Thành. Sinh lực quốc gia tiêu phí vào những cuộc chiến tranh triền miên khiến đất nước kiệt quệ. Người Chiêm bị người Trung Hoa, Java, Chân Lạp (Campuchia ngày nay) đến đánh phá, hủy hoại tận gốc rễ từ trước khi Ngô Quyền dành được độc lập ở nước Việt cũng bởi tính hiếu chiến đó.


Người Chiêm gồm nhiều sắc tộc khác nhau, trong mỗi sắc tộc lại có nhiều thị tộc thờ vật tổ riêng, sống khép kín và hay đánh phá lẫn nhau. Đã vậy xã hội lại rất phân biệt giai cấp. Thiểu số giai cấp tăng lữ và quý tộc chỉ lo bảo vệ quyền lợi riêng, quá chú trọng việc xây dựng và trùng tu đền đài, cung điện quy mô kỳ vĩ làm hao tốn công quỹ mà không lo gì đến đời sống của giai cấp thường dân và tiện dân

Không có tổ chức giáo dục, thi cử để đào tạo nhân tài cho đất nước nên mỗi khi thất trận, xã hội Chiêm dễ suy thoái vì thiếu lãnh đạo kế tục.

Đặc biệt những lần vua Chế Củ đã tự dâng ba châu Bố Chánh, Địa Lý và Ma Linh cho vua Lý Thánh Tông để đổi lấy tự do; vua Chế Mân đã dâng hai châu Ô, Rí làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân, rồi vua Ba Ðích Lại nhường vùng thánh địa Indrapura đã làm mất đi một vùng đất rộng lớn khiến suy yếu tiềm lực quốc gia và sức đề kháng của dân tộc.

Đó là những nguyên nhân chính dẫn đến sự tiêu vong của nước Chămpa chứ không phải hoàn toàn do lỗi của người Việt.


Ngày nay văn hóa Chiêm vẫn còn ảnh hưởng sâu xa về nhiều mặt đến người Việt như: ngôn ngữ, ca dao, truyện cổ, ca vũ, âm nhạc ...

Ảnh hưởng cả đến tín ngưởng nữa như ở Nha Trang, người Việt thường lên Tháp Bà Pô Nagar cầu xin thánh Mẫu Thiên Y phù hộ độ trì. Người Việt Nam và cả Trung Hoa còn học được cách trồng lúa Chiêm của người Chiêm Thành (vào đầu thế kỷ thứ 11), nhờ đó sản lượng lúa gạo tăng gấp bội (1). 


5) Hàng năm, người Chăm thường tổ chức nhiều lễ hội: Katê, Kabul, Rija Nưga, Jòn Jang ... để tưởng niệm các Ðấng Cha Mẹ, các vị anh hùng dân tộc, cầu cúng các vị thần linh xin mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt ... Trong lễ hội không thể thiếu âm nhạc và vũ điệu.  Vũ điệu là sự giao hoà giữa con người với thần linh để người Chăm gởi gắm những khát vọng trong cuộc sống.


Nhạc cụ chính trong múa Chăm là bộ ba: trống Paranưng, Ghinăng, kèn Saranai. Các điệu múa gồm múa quạt, múa chèo thuyền, múa khăn, múa đội nước ... mô tả cuộc sống thường nhật.  Theo người Chăm, chim công (Pì điền) là biểu tượng cho niềm vui và sự may mắn nên họ quan sát kỹ động tác của công để sáng tạo ra điệu múa quạt. Hai chiếc quạt khi như đôi cánh khi như đuôi chim: vui thì quạt vung lên, buồn thì úp xuống; nghĩa tình thì sóng đôi bay lượn ... 


Các điệu múa thường chỉ có một bước nhún. Vũ nữ không đưa tay múa cao và chỉ sử dụng các động tác từ khuỷu tay đến cổ tay, áo dài kín đáo đến chân. Khi tiếng trống bắt đầu vang lên, từ ánh mắt đến đôi tay các vũ công như nhập thần vào điệu múa họ đang biểu diễn:


Về đâu, ơi Chiêm nữ?

Sắc Chàm tím mênh mông.

Trường sơn còn lưu giữ,

Tiếng thì thầm biển Ðông

Ngàn năm không tiếng cười

Chiêm nữ buồn thổn thức 

(Apsara, vũ nữ Chăm)


6) Người Chăm hiện sống rải rác ở các nước: Kampuchia (khoảng 270 ngàn người), Thái Lan (15 ngàn), Liên Bang Mã Lai (10 ngàn), Việt Nam (100 ngàn) (2). Mảnh đất miền Trung bây giờ là quê hương chung của hai dân tộc Chiêm - Việt.

Riêng ở tỉnh Ninh Thuận, hiện có gần một nửa dân số Chăm trong cả nước sống quần tụ thành 23 làng, sinh sống bằng nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, đa số theo đạo Hồi đã biến cải, thường gọi là "Bà Ni" để phân với đạo Hồi chính thống (Chăm Islam); số còn lại sống ở Châu Ðốc, Tây Ninh, Sài Gòn...


Con gái Chăm khi cưới chồng ra ở riêng phải cất nhà sát với nhà cha mẹ, nằm trong khuôn viên của đại gia đình. Con trai Chăm đi ở rể bên nhà gái chín lần, tượng trưng cho chín tháng cưu mang trong lòng mẹ, trước khi kết hôn chính thức. Họ ăn ở với nhau tình nghĩa đến cuối đời, hiếm khi phải ly dị. 

Người Chăm sống hiền hòa bình an và hát lên những bài dân ca rất lãng mạn trữ tình ca tụng tình yêu và cuộc sống:

. . . .

Tâm tình em chưa gởi cho ai

Qua tấm chăn em dệt bao ngày

Câu ca dao cũ mơ hồ vọng

Theo nước xuôi gờn gợn mây bay. (Thương thầm)

. . . .

Cầm tay dạ những bùi ngùi

Gót chân thơm nhỏ như đôi bông lài.

Anh nâng niu giữa lòng tay

Cám ơn người đã xum vầy đôi ta. (Anitlô)


Người Việt vẫn tôn trọng văn hóa, tập tục, tôn giáo của người Chiêm. Hai dân tộc cùng nhau sống hòa hợp và phát huy những cái hay đẹp của nhau để hướng đến một tương lai tươi sáng chung.

T. V. Phê

(5/05)

Tài liệu tham khảo

1) Chiêm Thành, vì đâu suy thoái?, Trần Gia Phụng, Thế Kỷ 21 số 121 & 123, tháng 5 & 7, 1999.

2) Tìm hiểu người Chăm, Nguyễn Văn Huy,

http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=categories&op=newindex&catid=11.

3) Tháp Po Klong Garai ở Phan Rang, Nguyễn Văn Hùng; TTCN 28-10-90.

4) Tháp Bà Pô Nagar, Nguyễn Thế Sang; TTCN 14-4-91.

5) Ấn Tượng Không Chỉ Từ Tháp Chàm ..., Nguyễn Chương; KTNN 174, 20-5-1995.

6) Mỹ Sơn trong quá trình tiến hóa của nghệ thuật Chàm (Trần Kỳ Phương), Những Di Sản Thế Giới Ở Việt Nam, NXB Ðà Nẵng.

7) Toàn bộ các di tích Tháp Chàm còn lại: http://gilkergu.club.fr/champa/champa.htm

8) Cham Youth http://chamyouth.com/phpBB2/xmusic.php

(*) Kết luận của nhóm U.A. 1075 Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp do G.S. Lafont đứng đầu (tài liệu tham khảo).


Tháp Bà Nha Trang (Tháp Pô Nagar):





 

 

Nhan Vat

 

   
 

Nhân Vật

 

- Người Chàm Trong Mắt Tôi (Nguyễn Ngọc Chính)

- Công lao Tổng thống Ngô Đình Diệm cần được tôn vinh (Lê Công Định)

- Alexander Solzhenitsyn: Văn Tài và Đạo Đức của Sự Thật (Bùi Tiên Khôi)

- Bùi Thị Minh Hằng (Vũ Đông Hà)

- "Lạc Lõng" Cậu Nho Sinh Người Mỹ Gốc Việt

(Thiên An)

- Thủ Bút Của Trần Trọng Kim - Thư Gửi Hoàng Xuân Hãn (Nguyễn Đức Toàn)

- Chú Hề Buồn Bã (Lê Hữu)

- Giải mã lãnh tụ: Một đóng góp quan trọng của Trần Đức Thảo (Đoàn Thanh Liêm)

- Vịn Câu Thơ Mà Đứng Dậy (Trần Trung Đạo)

- Bài Thơ Cho Đỗ Thị Minh Hạnh (Trần Trung Đạo)

- Ngõ Phất Lộc: Từ Nguyễn Hiến Lê đến Người Buôn Gió (Đoàn Thanh Liêm)

- Gió Bão Ngoại Giao Thời Thịnh Trần và Vị Sứ Thần Lỗi Lạc Đinh Củng Viên (Phạm Khắc Hàm)

- Sứ Thần Giang Văn Minh Không Làm Nhục Quốc Thể (Tạ Quốc Tuấn)

- Việt Dzũng, nghệ sĩ đấu tranh không tàn tật tâm hồn (Võ Đại Tôn)

- Để So Sánh Các Anh Hùng Trước Nguyễn Huệ với Nguyễn Huệ (Phạm Văn Sơn)

- Nelson Mandela, Quyền lực của sự tha thứ

(Nguyễn Hưng Quốc)

- Bình Luận và Vịnh Nhị Trưng (Dương Bá Trạc)

- Gia Đình Trưng Vương (Hoa Bằng)

- Trần Danh San, Tiếng hò khoan đã tắt

(Phan Nhật nam)

- Danh Tướng Thi Nhân Phạm Ngũ Lão (Tạ Quốc Tuấn)

- Cuộc Khởi Nghĩa của Hai Bà Trưng (Hà Mai Phương)

- Chiến Thắng Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền Năm 939 (Hà Mai Phương)

- Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà và Anh Hùng Đánh Tống-Bình Chiêm Lý Thường Kiệt (Lý Tế Xuyên)

- Lê Lợi, Nguyễn Trãi và Cuộc Cách Mệnh Lam Sơn

(Trần Ngọc Ninh)

- Phạm Ngũ Lão (Phan Kế Bính)

- Đặng Dung, Bậc Anh Hùng Lỡ Vận và bài thơ "Cảm Hoài" (Phạm Khắc Hàm)

- Sử Thi Về Hai Bà Trưng (Viên Linh)

- Ô cửa nhỏ của Thục Vy (Lê Hữu)

- Bà Lương Giết Giặc Minh Hạ Thành Cổ Lộng

(Chu Thiên)

- Hiểm họa từ Trung Quốc (T. V. Phê)

- Feb 1, 2003: Phi thuyền con thoi Columbia bị nổ tung (T. V. Phê)

- Chuyện trùng hợp lạ kỳ (T. V. Phê)

- Đạt Phan, người giễu hay nhất nước Mỹ năm 2003 (T. V. Phê)

- Dương Nguyệt Ánh góp phần chiến thắng tại A Phú Hãn (T. V. Phê)

- Người làm rạng danh tổ quốc: Mai Văn Hòa

(T. V. Phê)

- Ngôn ngữ thời Internet (T. V. Phê)

- Tiếng Việt lý thú (T. V. Phê)

- Tiệc đầu khỉ, cỗ đầu người (T. V. Phê)

- Nhạc võ Tây Sơn (T. V. Phê)

- Vua Quang Trung (T. V. Phê)

- Cảnh nghèo khó và bệnh tật của thi hào Nguyễn Du (T. V. Phê)

- Cỏ cây trong Truyện Kiều (T. V. Phê)

- Ngày giờ nàng Kiều bị bắt (T. V. Phê)

- Cái ghen của Hoạn Thư (T. V. Phê)

- Cù lao chín chữ (T. V. Phê)

- Mối tình của nữ sĩ Hồ Xuân Hương với Nguyễn Du (T. V. Phê)

- Áo dài Lemur: "thủy tổ" những chiếc áo dài ngày nay (T. V. Phê)

- Ca trù hồi sinh (T. V. Phê)

- Câu đối (T. V. Phê)

- Sáu luật về dấu hỏi ngã (T. V. Phê)

- Nước ta có Sử từ đời nào? (T. V. Phê)

- Dòng giống Tiên Rồng (T. V. Phê)

- Người Việt xấu xí?! (T. V. Phê)

- Người Chăm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam

(T. V. Phê)

- Không mới nhưng ... lạ (Minh Nguyệt)

- Ông tổ triết thuyết hiện sinh sống ra sao?

(T. V. Phê)

- Dũng khí của nhà văn (T. V. Phê)

- Nằm gai nếm mật (T. V. Phê)

- Chết vì một bài thơ (T. V. Phê)

- Ai công hầu, ai khanh tướng (T. V. Phê)

 

Phim Tài Liệu

 

L'exode du Nord Viet Nam

 

 

 
© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)