Head

 

 

Dung Khi cua Nha Van

Dũng Khí Của Nhà Văn

Ông tổ triết thuyết hiện sinh

Không mới nhưng ... lạ


:: Dũng Khí Của Nhà Văn:


1) Boris Pasternak là một nhà thơ lớn, một dịch giả tài năng của Liên Xô. Ông cũng có những truyện ngắn được xếp vào loại hay nhất thế giới. Tiểu thuyết Doctor Zhivago do ông hoàn thành năm 1955 là một kiệt tác, nhưng không được phép in trong nước mà lại xuất bản tại Ý. Ngày 23-10-1958, Viện Hàn Lâm Thụy Ðiển tặng ông giải thưởng Nobel về văn chương vì đã đóng góp lớn lao vào nền thi ca trữ tình hiện đại của thế giới cũng như vào truyền thống vĩ đại của các nhà văn Nga..., nhưng ông bị áp lực phải từ chối nhận giải. 


Kể từ đó ông bị trù dập, phỉ báng, lăng nhục và sống những ngày buồn thảm cuối đời ngay trên quê hương mình. Trong phiên họp toàn thể các nhà văn Matxcova như là một cuộc đấu tố và lợi dụng chiêu bài "nhân dân" để khai trừ Pasternak ra khỏi Hội Nhà Văn và tước quyền công dân của ông:

- ... Nhưng vụ Pasternak là một vụ phản bội ... "Bác sĩ Zhivago" là sự phỉ nhổ vào nhân dân ta ... Tôi tán thành việc trục xuất Pasternak khỏi đất nước Xô viết.

- ... Nhân dân không biết hắn như một nhà văn ... Nhân dân đã biết hắn là kẻ phản bội. Người Nga có câu tục ngữ rất hay: "Chó không thể làm người". Tôi thấy đúng nhất là Pasternak hãy mau chóng cút khỏi nước ta ...(vỗ tay) 

- ... Chiến tranh lạnh cũng biết những kẻ phản bội của nó, và Pasternak, theo tôi, quả thực là một tên Vlasop trong văn chương. Tướng Vlasop đã bị tòa án Liên Xô xử bắn (có tiếng nói từ dưới cử tọa: "treo cổ!") ...

- ...

Ông như con thú bị săn đuổi tới cùng. Ngay hôm đó, ông bị gọi lên Trung Ương Ðảng; Vụ trưởng Vụ Văn hóa báo cho ông biết ông vẫn được phép ở lại Tổ quốc, rồi đe dọa:

- Nhưng hiện nay chúng tôi rất khó giải tỏa sự phẫn nộ của nhân dân! Chúng tôi không còn đủ sức ngăn cản ...

Lại nhân dân, đến đây Pasternak không còn nhịn nhục được nữa:

- Ðồng chí không biết ngượng hay sao! Làm gì có sự phẫn nộ của nhân dân? Ðồng chí vẫn còn có tính người, sao đồng chí lại nặn ra những câu sáo rỗng đến như vậy?!  


2) Mấy ngày sau Trung Ương Ðảng lại yêu cầu ông viết thư gởi cho nhân dân! Thật là quá mức ... Tuy nhiên ông cũng kiên nhẫn chấp hành. Khởi đầu không phải là bức thư ăn năn hối hận, nhưng người ta sửa đi sửa lại thành một bức thư thừa nhận lỗi lầm, lại còn nhấn mạnh cái ý tự nguyện!: "... Không ai bắt buộc tôi điều gì, và tôi đưa ra lời tuyên bố này hoàn toàn tự do ..."

Người ta trao lại bức thư và buộc ông ký tên vào. Khi thấy bức thư của mình đã bị sửa như thế thì tinh thần ông đã quá căng thẳng, mệt mỏi; chỉ mong sao mọi chuyện kết thúc sớm để được yên thân, nên ông cũng ký bừa vào!

Nhưng rồi trong niềm tuyệt vọng cực độ ông viết bài thơ "Giải thưởng Nobel". Phóng viên nước ngoài xin phỏng vấn, ông trả lời rằng không thể nói gì lúc này rồi trao bài thơ cho phóng viên. Bài thơ lập tức được truyền đi khắp thế giới và mọi người biết rõ thực chất của việc "Sám hối tự nguyện và không bị ai cưỡng bức" của Pasternak. Nhờ bài thơ mà trong phút chốc Pasternak lấy lại được uy tín, danh dự tưởng đã bị chôn vùi vì vết nhơ phải đầu hàng cường quyền!

Ngày nay, danh dự và tác phẩm của Pasternak đã được phục hồi, ủy ban di sản Pasternak được thành lập. Các tác phẩm của ông được in lại trong nước (Liên Xô) kể cả tiểu thuyết "Doctor Zhivago" (Doctor Zhivago đã được dựng thành phim từ lâu trước năm 1975 với bản nhạc nền bất hủ)


Tôi chết sững như con thú bị lùa.

Ðâu đây có người, tự do, ánh sáng.

Còn sau lưng tôi là tiếng xua ồn ào.

Mà tôi không có ngã nào thoát ra.


Rừng âm u và bờ ao,

Súc gỗ thông chắn lối.

Ðường bị cắt tứ bề

Thôi muốn ra sao cũng đành!


Tôi đã làm gì xấu xa,

Tôi sát nhân, tàn bạo?

Tôi đã bắt cả thế gian phải khóc

Thương vẻ đẹp quê tôi.

. . . . 

Vòng vây khép lại chặt dần

Và tôi có lỗi với người khác:

Cánh tay phải chẳng ở bên tôi,

Bạn lòng chẳng ở bên tôi!


Với vòng dây thế này ở cổ.

Tôi vẫn còn ước ao:

Cánh tay phải của tôi

Lau nước mắt giùm tôi.

(Giải thưởng Nobel)


Tài liệu tham khảo:

Doctor Zhivago, NXB TP/HCM


Qua Cầu (ảnh Đặng Thông Châu):


- Sự say mê trí tuệ nảy sinh lòng kính trọng, sự say mê tâm hồn nảy sinh tình bạn, sự say mê thân xác nảy sinh lòng ham muốn, sự hợp nhất của ba niếm say mê đó sinh ra tình yêu.(Ngạn ngữ Ấn Ðộ).


- Ở đâu vàng bạc chiếm tâm hồn thì ở đó lòng tin, hy vọng và tình thương sẽ bị tống ra khỏi cửa (Ngạn ngữ Ðan Mạch).


- Hãy hy vọng về điều tốt nhất, nhưng hãy chuẩn bị cho điều xấu nhất. (Tục ngữ Anh).


- Không làm gì cả có nghĩa là đã làm một điều xấu. (Ngạn ngữ Nhật Bản)


- Tôi cứ giả dụ các ông là cây đuốc sáng, là những người giải phóng nước Nga, rằng không có các ông thì nước Nga sẽ bị diệt vong, bị rơi vào vũng bùn cơ cực và tăm tối, thì tôi cũng vẫn bất cần các ông, tôi nhổ toẹt vào các ông, tôi không thích các ông và cuối cùng các ông hãy xéo đi đâu thì đi. (Doctor Zhivago, trang 760)


- Những vị điều khiển tư tưởng của các ông mắc cái tội tung ra hàng đống câu cách ngôn, nhưng lại quên mất điều chủ yếu là không thể ép duyên nhau, nên họ nhiễm cái thói quen đem lại tự do và hạnh phúc cho người khác, đặc biệt cho những người không hề xin xỏ họ hai thứ ấy. (Doctor Zhivago, trang 760)





:: Ông tổ triết thuyết hiện sinh sống ra sao?:


Sartre là triết gia có ảnh hưởng sâu đậm đến quần chúng trên thế giới trong thế kỷ 20. Trước 1975, giới trẻ ở các đô thị miền Nam đã một thời có lối sống chịu ảnh hưởng nặng triết thuyết của ông. Sartre sinh năm 1905 ở Paris, Pháp. Ông mất cha khi lên hai và gần như bị mù một mắt phải lúc mới ba tuổi, nhưng rất thông minh và có ý chí. Năm 1924, Sartre vào học ở École Normale Supérieure (Trường Cao Ðẳng Sư Phạm) và đỗ đầu kỳ thi thạc sĩ triết học năm 1929. Sau đó dạy học, rồi viết văn làm báo. Ông sáng lập và làm chủ bút tập san nổi tiếng Les Temps Modernes (Thời Hiện Ðại). Sáng tác của ông rất đồ sộ với nhiều thể loại:

- Tiểu thuyết và truyện ngắn: La Nausée (Buồn Nôn), 1938; Le Mur (Bức Tường), 1939; Les chemins de la Liberté (Những Nẻo Ðường Tự Do), 1943-1949 ... 

- Kịch: Les Mouches (Bầy Ruồi), 1943; Huis Clos (Xử Kín), 1945; La Putain Respectueuse (Cô Gái Ðiếm Lễ Ðộ), 1946; Morts sans sépulture (Chết Không Ðất Chôn), 1947; Le Diable et le Bon Dieu (Ác Quỷ và Thượng Ðế) ...

- Triết: L' Être et le Néant (Thực thể và Hư vô), 1943; Critique de la Raison Dialectique (Phê Phán Lý Trí Biện Chứng), 1960 ... 

-Tiểu luận: L' existentialisme est un humanisme (Chủ Nghĩa Hiện Sinh là một Chủ Nghĩa Nhân Bản, 1945; Saint Gênet, Comédien et Martyr (Thánh Gênet, Kịch Sĩ Tử Vì Ðạo) ...


Ông được trao giải Nobel về văn chương năm 1964, nhưng từ chối nhận giải, và tuyên bố nổi tiếng của ông đã một thời làm xôn xao dư luận: "Giải Nobel làm vinh dự cho tôi hay tôi làm vinh dự cho giải Nobel"! Thuở còn trẻ, ông mơ ước trở thành triết gia lớn và mong giải quyết mâu thuẫn giữa triết lý và hành động, đem triết lý vào đời sống thực.Thật vậy, ông là một trong những người mở đường cho chủ nghĩa hiện sinh trong triết học, văn học và cũng là triết gia hiếm hoi đã sống đến tận cùng triết thuyết của mình:


1) Sartre muốn sống trong suốt (transparent) với chính mình:


Ông muốn sống phù hợp với triết lý của mình. Trong L' Être et le Néant, Thực thể và Hư vô: ý thức (conscience) là một quá trình phủ định trong suốt, không gợn tí vật thể nào. Vì thế, chính ông đã thuật lại và phân tích tuổi thơ của mình hơn 700 trang trong Les Mots, Ngôn từ. Cuối đời, ông lại nhận định về cuộc đời, tư tưởng và tác phẩm của mình (Situations X). Simone de Beauvoir: người tình mà ông yêu nhất, người bạn mà ông kính trọng và ký tặng toàn bộ sách triết của ông; đã thuật lại mọi chi tiết trong cuộc sống của họ, kể cả những suy nghĩ hàng ngày từ thuở hai người quen nhau (khi Sartre còn học ở École Normale Supérieure) cho đến lúc Sartre chết. Sartre cũng cho phép đăng tất cả thư từ ông viết cho bất cứ ai kể cả cho Simone de Beauvoir ... Tóm lại không còn gì bí mật về cuộc đời của ông nữa!


2) Sartre muốn sống trong suốt với người khác:


Người khác đây, trước tiên là Simone de Beauvoir, người có thể đọc và tranh luận mọi bản thảo của ông cũng như được ông ủy quyền cắt bỏ bất cứ câu, đoạn nào thừa trước khi trao cho nhà xuất bản. Ông muốn sống bình đẳng, trong suốt với nàng; vì ông quan niệm đam mê chiếm hữu hay thống trị người khác là những đam mê không thể thực hiện được, chỉ dẫn tới những nếp sống không trung thực. Ông đã yêu nhiều người đàn bà và Simone de Beauvoir biết rất rõ:

"... Sartre giữ cái chương trình nghỉ hè như thường lệ: ba tuần với Arlette ở ngôi nhà của họ tại miền Nam nước Pháp; hai tuần với Wanda ở Capri, Venice hay Florence; nhiều tuần ở một hòn đảo ngoài khơi Hy Lạp với Helen và một tháng với De Beauvoir ở cái phòng thuê của họ tại Albergo Nationale." (Nguyễn Tà Cúc, tài liệu đã dẫn trang 21).


Ngược lại, Simone de Beauvoir cũng đã yêu mấy người đàn ông và người biết rõ hơn ai hết chính là Sartre! Hai người sống riêng ở hai nơi khác nhau, nhưng ngày nào họ cũng gặp nhau và nói cho nhau biết mọi chuyện về đời sống hàng ngày, những suy nghĩ, kể cả những chi tiết thầm kín về những mối tình riêng của họ.

Ðiển hình là Simone de Beauvoir đã từng có một mối tình thắm thiết với Nelson Algreen, nhà văn Mỹ đoạt giải Pulitzer. Mỗi năm bà qua Mỹ sống vài tuần, có khi vài tháng với Algreen. Algreen cũng qua Pháp sống với bà và đi chơi với Sartre! Cuối cùng Algreen không chịu nổi quan hệ tay ba đó và quyết định chấm dứt.

Một chục cặp trí thức nổi tiếng tại Pháp cũng thử sống trong suốt với nhau, nhưng kết cục cũng phải ly dị. Sartre và Beauvoir đã thực sự sống tới cùng triết lý của họ để chứng minh một điều rằng con người có thể vừa yêu nhau vừa tôn trọng tự do của nhau.


3) Sartre cũng muốn sống trong suốt với đời:


Sartre luôn đối xử bình đẳng với mọi người, kể cả những người đáng tuổi con cháu. Sartre rất ghét mọi hình thái quyền lực. Ông đã gặp nhiều người có quyền lực và danh vọng trên khắp thế giới nhưng không kết bạn với ai! Ông cũng là một ông thầy quái đản. Thuở còn dạy triết cho năm cuối trung học, ông không dạy mà chỉ nói chuyện hoặc thảo luận với học sinh. Khi chấm bài, cho mọi người điểm như nhau! Ra khỏi lớp thường rủ học sinh đi ... đánh boxe! Thật là một quan hệ gạt bỏ những hàng rào thông thường. "Trong thế kỷ 20, đây là con người tiêu biểu nhất cho hai giá trị cơ bản của nền văn minh tư sản Pháp: tự do và bình đẳng" (Phan Huy Ðường, tài liệu đã dẫn trang 58).


Sartre cũng sống rât trung thực trong quan hệ bạn bè. Ðiển hình là tình bạn giữa Sartre và Albert Camus. Ông đã từng tranh luận với Camus (Nobel văn chương năm 1957). Bài Réponse à Albert Camus thể hiện tiêu biểu cho tình bạn của Sartre trong văn chương: đánh giá tổng hợp con người, hành động, tư tưởng của Camus để ca tụng và cũng chỉ trích thẳng thắn những suy luận của Camus mà ông cho là sai.

Năm 1951, tác phẩm L'homme révolté, Người Nổi Loạn, của Albert Camus ra đời bị nhóm Les Temps Modernes kết tội nặng nề. Thời điểm đó, cả hai ông đều biết sự khốc liệt của các trại "cải tạo" dưới thời Stalin. Camus chủ trương phải đưa sự thực ra ánh sáng, còn Sartre thì cho rằng không nên vì sợ làm thối chí giai cấp vô sản! Từ đó nổ ra những tranh luận rất gay gắt: Sartre trách Camus trong cách phê bình đã lẫn lộn Nazi và Staline, trong khi Camus chỉ muốn xác lập một thứ đạo đức quần chúng hướng về tình nhân loại, trực diện với tội ác (Thụy Khuê, tài liệu đã dẫn trang 240), rồi hai người đoạn tuyệt hẳn. Tuy vậy khi Camus mất, Sartre viết một bài tưởng niệm rất chân tình. Ngày nay, lịch sử đã trả lời rằng Camus đúng. Camus có tầm nhìn xa hơn Sartre và những trí thức thiên tả đương thời. Khi chiến xa Xô Viết tiến vào Hung Gia Lợi (1956) Sartre mới tỉnh ngộ! 


Năm 1958, ông chấm dứt giai đoạn liên hiệp với phong trào cộng sản thế giới và trong thời gian rất ngắn viết quyển Critique de la Raison Dialectique, Phê Phán Lý Trí Biện Chứng, xong trong năm 1959. Với tác phẩm gần 1400 trang này, Sartre tranh luận thẳng với Marx và cho rằng thời đại ấy là thời đại của cách mạng không thể thực hiện được vì nhu cầu cách mạng thì có, ở khắp nơi, nhưng lực lượng thực sự cách mạng thì không vì tư tưởng bế tắc, v.v... (Phan Huy Ðường, tài liệu đã dẫn trang 81).

Năm 1979, ông công khai đến điện Élysée yêu cầu tổng thống Pháp lúc đó là Giscard d' Estaing tăng cường giúp đở cho thuyền nhân Việt Nam.


3) Sartre không có ý niệm gì về tiền:


Tiền đủ tiêu cho ăn mặc và trả tiền phòng; còn bao nhiêu ông cho hết, cho đủ hạng người vì đủ thứ lý do. Có lúc không còn tiền trả thuế phải đi vay của mẹ. NXB Gallimard phải giữ lại tiền để ông trả thuế, tiền còn lại chỉ đưa cho ông hàng tháng để ông có mà tiêu. Vậy mà ông còn ký ngân phiếu cho một đống người ông đã tài trợ, trong đó có cả người vô gia cư sống trên vỉa hè Paris, để họ thanh toán chi phí bệnh viện. Ký xong, ông hết sạch tiền, lại chạy xuống bếp vay tiền người hầu gái của mẹ. Thư ký riêng của ông nhận xét rằng hai bàn tay của ông "thủng"! Ðổ tiền vào bao nhiêu cũng chảy hết! 

Năm 1980, Sartre bệnh trầm trọng phải nằm nhà thương. Trước khi chết ông còn lo lắng hỏi Simone de Beauvoir rằng ông có còn đủ tiền thanh toán chi phí chôn cất không? Ðám tang Sartre, chẳng ai kêu gọi, tổ chức; nhưng đã có hơn 50 ngàn người tự động đưa ông trên đại lộ Montparnasse đến nơi an nghỉ cuối cùng!


T.V.Phê


Tài liệu tham khảo:

- Jean-Paul Sartre Một đam mê làm người trong thế kỷ 20, Phan Huy Ðường; Hợp Lưu 74, 12/03 & 1/04.

- Albert Camus (1913 -1960), Sóng Từ Trường II, Thụy Khuê, NXB Văn Nghệ, 2002.

- Camus giữa lòng thế kỷ XX, Dăm Ba Ðiều Nghĩ Về Văn Học Nghệ Thuật, Trần Hồng Châu, NXB Văn Nghệ, 2001.

- Simone de Beauvoir, Một mối tình không bất tử, Nguyễn Tà Cúc, Khởi Hành 65, 3/2002, trang 15.


Ước Mơ Hòa Bình (Phạm Văn Mùi):




Jean Paul Sartre (1905 - 1980):

- Ðịa ngục, chính là tha nhân.

- Con người là một đam mê hão.

- Tự do, chính là khắc khoải lựa chọn.


Albert Camus (1913 - 1960):

- Tôi có một lòng yêu người và vật rất mạnh và tôi yêu những kẻ sống hôm nay với tôi trên mảnh đất này. 

- Tranh đấu cho một xã hội mai sau mơ hồ mà tôi không chắc đã có thực thì nhất định tôi không chịu tàn sát anh em tôi đâu!

- Tôi muốn có thể vừa yêu Tổ quốc vừa yêu công lý và tôi đã chọn công lý để trung thành với thế giới con người.




:: Không mới nhưng ... lạ (*) :


1) Đi tìm cảm hứng:


Thế giới văn học không phải chỉ có những điều đẹp đẽ, cao cả mà còn có cả những chuyện rất lạ. Ví dụ: Để tìm cảm hứng, khi viết cuốn Chartreuse, nhà văn Stendhal sáng nào cũng đọc vài ba trang trong bộ Dân Luật của Pháp. Nhà văn Willa Cather đọc một đoạn trong Kinh Thánh rồi mới bắt đầu ngồi xuống viết. Nhà văn Thomas Wolfe thường đi bộ vài vòng để lấy hứng. Nhà văn Ernest Hemingway gọt hàng chục cây bút chì trước khi viết. Ngoài ra, trong khi viết, Hemingway còn có thói quen ... đứng. Đây cũng là thói quen của nhà văn Lewis Caroll và nhà văn Virginia Woolf. Ngược lại, một số nhà văn khác lại thích ... nằm khi viết, như Mark Twain, Hervey AllenTruman Capote. Riêng nhà văn Bennett Cerf chỉ tìm ra được những ý tưởng mới lạ và độc đáo nhất lúc ngồi trong ... toilet!

Trong khi viết, Shakespeare thích uống rượu vang trắng, Disraeli uống champagne, Byron uống rượu mạnh pha với nước lã, còn Thomas Hobbes chỉ uống nước lã mà thôi. Dr. John uống tổng cộng 25 tách trà mỗi lần ngồi vào bàn viết. Nhà văn Honoré de Balzac thì vừa viết vừa uống cà phê liên tục: sử liệu ghi lại là trung bình mỗi ngày Balzac uống đến 50 ly cà phê! (Xin lưu ý là Balzac thọ 51 tuổi: 1799 - 1850!)

Amy Lowell, người Mỹ, nổi tiếng là nhà thơ nữ duy nhất trên thế giới nghiện xì-gà. Năm 1915, sợ cuộc đệ nhất thế chiến có thể làm cho xì-gà khan hiếm, Amy đã mua 10 ngàn điếu xì-gà hiệu Manila để ... trữ. Nhà văn nữ Pháp George Sand cũng thích có một điếu xì-gà ngon khi viết.


2) Thói quen kỳ lạ:


Liên quan đến thói quen ăn mặc, khi viết, Disraeli thích diện ... bộ đồ lớn. Trong khi đó, một số nhà văn khác lại ... không thích mặc gí cả! Ví dụ như James Whitcomb Riley tự giam mình trong phòng của khách sạn trong tư thế ... thoát y để sáng tác. Nhà văn Mỹ Ben Franklin và kịch tác gia người Pháp Edmond Rostand thì có thói quen ngâm mình ngồi viết trong bồn tắm đầy nước. Nhà thơ Anh William Blake một lần rủ vợ diễn lại cảnh trong Vườn Địa Đàng để đọc một vài đoạn thơ trong cuốn Thiên Đường Đánh Mất (Paradise Lost) của Byron. Giữa lúc ấy, có người bạn đến thăm, Blake gọi: "Vào đi! Ở đây chỉ có Adam và Eva thôi!"

Một số nhà văn tỏ ra rất "điệu" khi chọn giấy để viết. Alexandre Dumas-cha (để phân biệt với Alexandre Dumas-con, tác giả cuốn Trà Hoa Nữ nổi tiếng) dùng giấy màu xanh khi viết tiểu thuyết, giấy màu hồng khi viết thể loại nghị luận và giấy màu vàng khi làm thơ. Nhà văn Truman Capote chỉ thích dùng loại giấy màu vàng. Còn Jacqueline Susann đánh máy bản thảo của mình trên các loại giấy màu vàng, màu xanh và màu hồng trước khi đánh bản cuối cùng trên giấy ... trắng.

Một điều thú vị khác là có nhiều nhà văn rất mê ... thú vật. Nhà thơ Edgar Allan Poe thường làm thơ với con mèo cưng của ông vắt vẻo trên vai. Alexandre Dumas-cha có một con ...kên kên mà ông bỏ ra rất nhiều công sức dạy cho con vật này nói, nhưng cuối cùng thất bại vì kên kên là loài chim không hề có dây thanh quản. Ngoài ra, người ta còn kể lại là nhà thơ Pháp Baudelaire có lần đi dạo trên đường phố Paris dắt theo ... một con tôm hùm, kiểu như chúng ta dắt chó đi dạo.Tuy nhiên, gắn bó với thú vật nhất, chắc phải kể đến nhà thơ Byron. Ông hay đi du lịch với một bầy thú gồm mười con ngựa, tám con chó lớn, năm con mèo, một con đại bàng, một con quạ và một con chim cắt.


3) Sức sáng tác:


Một số nhà văn nổi tiếng không phải vì thói quen sáng tác kỳ lạ mà vì sức sáng tác nhanh vượt ra ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Tương truyền kịch tác gia Tây Ban Nha, Lope de Vega (1562 - 1635) đã viết tổng cộng khoảng 2200 vở kịch, tuy nhiên chỉ có khoảng 500 vở là còn lại đến bây giờ. Mỗi năm, nhà văn Alexandre Dumas-cha hoàn tất 60 cuốn sách. Năm 1845, ông viết xong tập đầu của bộ Le Chevalier de Maison Rouge trong vòng 72 tiếng. Tổng số sách của cả đời cầm bút của ông in đầy trong 1500 tập. Nhà văn Erle Stanley Gardner chỉ xuất bản cả thảy 140 tác phẩm nhưng ông lại nổi tiếng là viết rất nhanh với tốc độ trung bình mỗi ngày là 10,000 chữ và có khả năng viết cùng một lúc 7 cuốn tiểu thuyết khác nhau.

Trong khi đó, nhà văn Pháp, Georges Simenon và nhà văn Anh, John Creasey, đều có trên 500 cuốn sách được in. Nhà văn người Nam Phi, Kathleen Lindsay (1903 - 1973) đã xuất bản 904 cuốn tiểu thuyết được viết dưới sáu bút hiệu khác nhau. Riêng về thể loại truyện ngắn, nhà văn Úc, Michael Hervey được xem là vô địch thế giới với 3,500 truyện ngắn đã được xuất bản. Theo sách The Guinness Book of Records 1998, tác giả có sức sáng tác nhanh nhất là Charles Harold St John Hamilton (1875 - 1961), bút hiệu Frank Richards, người cả đời viết đến trên 70 triệu chữ. Trong thời gian từ 1915 đến 1926, ông viết trung bình 80,000 chữ một tuần trên các tuần báo Gem, Magnet và Boys' Friend. Chỉ trong thời gian 10 năm, từ 1986 đến 1996, tiểu thuyết gia người Ba Tây, José Carlos Ryoki de Alpoim Inoue đã in 1046 cuốn tiểu thuyết, phần lớn là truyện kinh dị và khoa học giả tưởng.

Nhà văn hài hước người Nga, Constantin Arsenievich Mikhailov viết không đặc sắc nhưng lại nổi tiếng là người có nhiều bút hiệu nhất được ghi trong cuốn Dictionary of Pseydonyms do I. F. Masanov biên soạn và xuất bản tại Moscow năm 1960. Mikhailov có cả thảy 325 bút hiệu khác nhau.


4) Số phận những tập bản thảo:


Đối với các nhà văn, nhà thơ, có lẽ không có gì quý hơn là các tập bản thảo. Thế nhưng có những trường hợp bản thảo của hô bị mất hoặc tìêu hủy trong những trường hợp rất kỳ cục. Nhà văn yêu thú vật đôi khi bị chính con thú cưng của mình "phản chủ": con chó nhỏ Toby đã ... nhâm nhi nát phân nửa số trang bản thảo đầu tiên truyện Of Mice and Men của nhà văn John Steinbeck. Điều đáng ngạc nhiên là John Steinbeck không tỏ ra "căm hận" thủ phạm, chỉ phát cho nó một cái vào đít, mặc dù sau đó phải bỏ ra cả hai tháng ngồi viết lại. Có lúc ông còn cảm thấy ... tri ân nó, vì hành động kiểu như "phê bình" này của con vật buộc ông phải viết lại, có khi hay hơn. Ông còn phong cho Toby chức "trung tá" ... phụ trách lãnh vực văn học! Cũng tương tự như vậy, trong lời Cảm tạ in trong quyển The Guardian, nhà văn Jeffrey Konitz viết: "Tặng chó cưng Rufus, vì công lao biên tập chương 27". Sở dĩ có lời cảm tạ lạ đời này là vì con chó Rufus đã nhai nát chương 27, "giúp" cho nhà văn dù muốn hay không cũng phải viết lại lần thứ hai, nhờ vậy mà hay hơn! Trước đó, nhà bác học Newton cũng gặp phải hoàn cảnh "đau đớn" như vậy: con chó Diamond làm ngã cây đèn cầy trên bàn viết của ông, làm cháy vô số tài liệu và công trình thí nghiệm ông đã ghi chép trong vòng nhiều năm. Trước tai họa này, Newton chỉ còn biết than trời!


Hiếm hoi hơn, nhưng không có nghĩa là không có, là những tập bản thảo bị ... bà vợ yêu quý của nhà văn thiêu hủy. Trong một cơn nóng giận, vợ học giả William Ainsworth đã ném thẳng bản thảo gần hoàn tất cuốn tự điển La tinh của chồng vào lò lửa, báo hại ông mất 3 năm để viết lại hoàn toàn. Cũng hiếm hoi, là trường hợp tác giả tự đốt bản thảo của mình: nhà văn Robert Louis Stevenson tự tay đốt bản thảo cuốn Shilling Schocker sau một trận cãi vả kịch liệt với vợ vì vợ ông đọc xong tỏ ý chê! Dĩ nhiên là sau đó, ông rất ân hận về hành động nóng nảy của mình và bỏ ra ba ngày liền để viết lại cả cuốn sách gồm 30000 chữ. Lần này, vợ ông không hề phản đối, mặc dù nội dung cuốn sách không khác lần trước bao nhiêu. Trường hợp ... khó xảy ra nhất là trường hợp một bài thơ khá dài trong tập Captain Craig của Edwin Arlington Robinson bị mất và sau đó tìm lại được trong ... "lầu xanh", do người biên tập (editor) của tập thơ bỏ quên lại.


5) Tuổi thọ của văn nghệ sĩ:


Có một thời gian, người ta hay nói những thiên tài thường hay chết sớm. Nhưng khi nghiên cứu tiểu sử của khoảng 2000 văn nghệ sĩ nổi tiếng trên khắp thế giới, Robert Hendrickson khám phá ra là ngoại trừ một số trường hợp chết trẻ như Thomas Chatterton (18 tuổi), John Keats (26 tuổi), Sergei Esenin (30 tuổi) ... hay khá trẻ như Byron (36 tuổi), Rimbaud (37 tuổi), Apollinaire, Thomas WolfePushkin (38 tuổi), Jack LondonPoe (40 tuổi) v, v..., tuổi thọ của đa số thiên tài đều giống như những người bình thường, nghĩa là, phần lớn đều sống đến tuổi trung niên. Một số sống đến lứa tuổi cổ lai hy hay hơn thế nữa: Walt Whitman: 73, William Butler Yeats: 74, T. S. Eliot: 77, Agatha Christie: 86, Ezra Pound: 87, Sophocles: 90, Somerset Maugham: 91 ... Vài người sống đến 100 hay hơn 100 tuổi: Alice Pollock (tiểu thuyết gia người Anh): 103, Sa'ar (nhà thơ Ba Tư): 107. Nhà thơ Petrarch của Ý chỉ thọ có 70 tuổi nhưng thú vị ở chỗ là năm ông 40 tuổi, ông tắt thở và 20 tiếng đồng hồ sau, lúc thân nhân chuẩn bị mai táng thì ông đột nhiên ... thở lại và sống tiếp thêm 30 năm nữa!


Nhiều nhà văn, nhà thơ không những sống lâu mà còn hăng say sáng tác cho đến cuối đời: Sophocles hoàn thành các vở kịch Oedipus ở lứa tuổi 80; cũng ở lứa tuổi 80, Freud còn viết nhiều tác phẩm về phân tâm học; Goethe hoàn thành cuốn Faust năm 83 tuổi; Somerset Maugham viết cuốn Points of View lúc 84 tuổi; George Bernard Shaw viết cuốn Farfetched Fables khi đã 93. Robert Frost, Tennyson, Walter Savage LandorThomas Hardy đều có những bài thơ tuyệt tác được sáng tác ở lứa tuổi ngoài 80.

Ở trên, toàn là những "chuyện lạ" trong làng văn Tây phương. Một ngày nào đó có lẽ chúng ta nên sưu tầm các "chuyện lạ" trong làng văn Việt Nam. Chắc cũng sẽ "ly kỳ" không kém.


Minh Nguyệt

(Việt số 3, 1999)

(*) Vìết theo tài liệu trong Guinness Book of Records 1998 và cuốn The Literary Life & Other Curiosities của Robert Hendrickson, do Penguin Books xuất bản năm 1981.


Chải Tóc (Tranh sơn dầu, họa sĩ Phạm Tăng) :




- Khi người ta thụ hưởng một nền giáo dục xấu thì bao nết hư lúc ấu thời vẫn còn giữ mãi cho đến lớn, đến già. (Mme. De Genlis)

- Một kẻ dạy học trò mà không khơi lên cho nó sự ham muốn học hỏi thì chỉ như đập búa trên sắt nguội mà thôi. (Horace Mann)

- Trên đường thành công không có vết chân của người lười biếng. (Lỗ Tấn)

- Tỏ ra mình hơn người khác đâu phải là hay. Cái chân giá trị là có thể tỏ rằng: hôm nay mình đã hơn chính mình ngày hôm qua. (Ngạn ngữ Ấn Độ)

- Sự giáo dục bắt đầu từ lòng mẹ; mỗi tiếng thốt ra cho đứa trẻ nghe là đưa đến sự tạo thành tính khí cho nó. (Hosea Ballou)


- Ngồi buồn mà trách ông Xanh,

Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười.

Kiếp sau xin chớ làm người,

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo. (Nguyễn Công Trứ)


- Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế,

Mở miệng cười tan cuộc oán thù.  (Phan Bội Châu)


- Khi đời cười mình nguy hiểm hơn khi đời xử bạc với mình. (Massillon)

- Kẻ nào làm cho người cười để được người qúi chuộng không phải là thường. (La Bruyère)

- Thời gian mất nhiều nhất trong cuộc đời là thời gian ta không được vui cười. (Sébastien Chamfort)




 

 

Nhan Vat

 

   
 

Nhân Vật

 

- Người Chàm Trong Mắt Tôi (Nguyễn Ngọc Chính)

- Công lao Tổng thống Ngô Đình Diệm cần được tôn vinh (Lê Công Định)

- Alexander Solzhenitsyn: Văn Tài và Đạo Đức của Sự Thật (Bùi Tiên Khôi)

- Bùi Thị Minh Hằng (Vũ Đông Hà)

- "Lạc Lõng" Cậu Nho Sinh Người Mỹ Gốc Việt

(Thiên An)

- Thủ Bút Của Trần Trọng Kim - Thư Gửi Hoàng Xuân Hãn (Nguyễn Đức Toàn)

- Chú Hề Buồn Bã (Lê Hữu)

- Giải mã lãnh tụ: Một đóng góp quan trọng của Trần Đức Thảo (Đoàn Thanh Liêm)

- Vịn Câu Thơ Mà Đứng Dậy (Trần Trung Đạo)

- Bài Thơ Cho Đỗ Thị Minh Hạnh (Trần Trung Đạo)

- Ngõ Phất Lộc: Từ Nguyễn Hiến Lê đến Người Buôn Gió (Đoàn Thanh Liêm)

- Gió Bão Ngoại Giao Thời Thịnh Trần và Vị Sứ Thần Lỗi Lạc Đinh Củng Viên (Phạm Khắc Hàm)

- Sứ Thần Giang Văn Minh Không Làm Nhục Quốc Thể (Tạ Quốc Tuấn)

- Việt Dzũng, nghệ sĩ đấu tranh không tàn tật tâm hồn (Võ Đại Tôn)

- Để So Sánh Các Anh Hùng Trước Nguyễn Huệ với Nguyễn Huệ (Phạm Văn Sơn)

- Nelson Mandela, Quyền lực của sự tha thứ

(Nguyễn Hưng Quốc)

- Bình Luận và Vịnh Nhị Trưng (Dương Bá Trạc)

- Gia Đình Trưng Vương (Hoa Bằng)

- Trần Danh San, Tiếng hò khoan đã tắt

(Phan Nhật nam)

- Danh Tướng Thi Nhân Phạm Ngũ Lão (Tạ Quốc Tuấn)

- Cuộc Khởi Nghĩa của Hai Bà Trưng (Hà Mai Phương)

- Chiến Thắng Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền Năm 939 (Hà Mai Phương)

- Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà và Anh Hùng Đánh Tống-Bình Chiêm Lý Thường Kiệt (Lý Tế Xuyên)

- Lê Lợi, Nguyễn Trãi và Cuộc Cách Mệnh Lam Sơn

(Trần Ngọc Ninh)

- Phạm Ngũ Lão (Phan Kế Bính)

- Đặng Dung, Bậc Anh Hùng Lỡ Vận và bài thơ "Cảm Hoài" (Phạm Khắc Hàm)

- Sử Thi Về Hai Bà Trưng (Viên Linh)

- Ô cửa nhỏ của Thục Vy (Lê Hữu)

- Bà Lương Giết Giặc Minh Hạ Thành Cổ Lộng

(Chu Thiên)

- Hiểm họa từ Trung Quốc (T. V. Phê)

- Feb 1, 2003: Phi thuyền con thoi Columbia bị nổ tung (T. V. Phê)

- Chuyện trùng hợp lạ kỳ (T. V. Phê)

- Đạt Phan, người giễu hay nhất nước Mỹ năm 2003 (T. V. Phê)

- Dương Nguyệt Ánh góp phần chiến thắng tại A Phú Hãn (T. V. Phê)

- Người làm rạng danh tổ quốc: Mai Văn Hòa

(T. V. Phê)

- Ngôn ngữ thời Internet (T. V. Phê)

- Tiếng Việt lý thú (T. V. Phê)

- Tiệc đầu khỉ, cỗ đầu người (T. V. Phê)

- Nhạc võ Tây Sơn (T. V. Phê)

- Vua Quang Trung (T. V. Phê)

- Cảnh nghèo khó và bệnh tật của thi hào Nguyễn Du (T. V. Phê)

- Cỏ cây trong Truyện Kiều (T. V. Phê)

- Ngày giờ nàng Kiều bị bắt (T. V. Phê)

- Cái ghen của Hoạn Thư (T. V. Phê)

- Cù lao chín chữ (T. V. Phê)

- Mối tình của nữ sĩ Hồ Xuân Hương với Nguyễn Du (T. V. Phê)

- Áo dài Lemur: "thủy tổ" những chiếc áo dài ngày nay (T. V. Phê)

- Ca trù hồi sinh (T. V. Phê)

- Câu đối (T. V. Phê)

- Sáu luật về dấu hỏi ngã (T. V. Phê)

- Nước ta có Sử từ đời nào? (T. V. Phê)

- Dòng giống Tiên Rồng (T. V. Phê)

- Người Việt xấu xí?! (T. V. Phê)

- Người Chăm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam

(T. V. Phê)

- Không mới nhưng ... lạ (Minh Nguyệt)

- Ông tổ triết thuyết hiện sinh sống ra sao?

(T. V. Phê)

- Dũng khí của nhà văn (T. V. Phê)

- Nằm gai nếm mật (T. V. Phê)

- Chết vì một bài thơ (T. V. Phê)

- Ai công hầu, ai khanh tướng (T. V. Phê)

 

Phim Tài Liệu

 

L'exode du Nord Viet Nam

 

 

 
© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)