Head

 

 

Ai Cong Hau Ai Khanh Tuong

Ai Công Hầu, Ai Khanh Tướng

Chết Vì Một Bài Thơ

Nằm gai nếm mật


:: Ai Công Hầu, Ai Khanh Tướng:


1) Ngô Thời Nhậm (1746 - 1803) người tỉnh Hà Đông, con trai đầu của Ngô Thời Sỹ (1726 - 1780), thuộc gia đình Nho học nổi tiếng. Ông đổ tiến sĩ năm 30 tuổi (1775) cùng một lần với em rể là Phan Huy Ích. Ông làm quan đến chức đốc đồng (1) của hai trấn quan trọng: Kinh Bắc và Thái Nguyên; trong khi đó cha ông - Ngô Thời Sỹ - giữ chưc đốc trấn (đứng đầu trấn) Lạng Sơn. Đó là vinh dự lớn cho dòng họ Ngô Thời lúc làm quan thời vua Lê, chúa Trịnh.

Trịnh Sâm mê Đặng Thị Huệ định phế trưởng lập thứ, tức đưa Trịnh Cán lên kế vị ngôi chúa. Năm Canh Tý (1780) Trịnh Sâm bệnh nặng, con trưởng là Trịnh Khải (Tông) nghĩ rằng mình không được kế vị cha nên âm mưu cướp ngôi khi Trịnh Sâm qua đời. Không ngờ, Trịnh Sâm khỏi bệnh, có người báo cho biết vụ việc nên ra lệnh bắt giam Khảì và sai Ngô Thời Nhậm tra xét vụ án, vì Kinh Bắc và Thái Nguyên (nơi ông phụ trách tư pháp) cũng là nơi trấn nhậm của các người dự mưu với Trịnh Khải.

Những người dự mưu chính là Nguyễn Khản (anh cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du và cũng là thầy dạy học cũ của Trịnh Khải), trấn thủ Sơn Tây; Nguyễn Khắc Tuân, trấn thủ Kinh Bắc; Chu Xuân Hán. Ba người này đều là bạn thân của cha ông.

Đang tra xét vụ án, bất ngờ Ngô Thời Sỹ từ trần, ông xin nghỉ việc về quê chịu tang cha. Lê Quý Đôn được cử thay thế. Kết quả vụ án là Chu Xuân Hán, Nguyễn Khắc Tuân uống thuốc độc chết trong tù, Nguyễn Khản bị giải chức. Riêng Ngô Thời Nhậm lại được lên chức hữu thị lang bộ Công. Vì vậy ông bị tiếng đời dị nghị là "giết bốn cha, làm thị lang"! (2) (ảnh hưởng Nho giáo lúc ấy: bạn thân của cha cũng kể là cha). 

Hai năm sau, Trịnh Sâm chết (1739 - 1782), Trịnh Cán mới năm tuổi lên kế vị cha. Kiêu binh nổi lọan phế Trịnh Cán lập Trịnh Khải lên ngôi chúa. Ngô Thời Nhậm có liên hệ đến vụ án năm 1780 (3), nên phải bỏ trốn về quê vợ ở Sơn Nam trong 6 năm rồi ra gặp Nguyễn Huệ năm 1788. Lúc này ông đã 43 tuổi.


2) Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc với danh nghĩa phù Lê diệt Trịnh, ông kêu gọi cựu quan nhà Lê ra giúp nước. Sau khi được tiến dẫn đến trình diện Nguyễn Huệ, Ngô Thời Nhậm được giao làm Lại bộ Tả thị lang. Dịp nầy ông đã thuyết phục được nhiều nhân sĩ Bắc hà ra cộng tác với Tây Sơn.

Sau khi vua Quang Trung quét sạch quân xâm lược nhà Thanh ra khỏi bờ cõi, mọi việc ngọai giao mềm mỏng với Trung Hoa để tránh khỏi trả thù, vua Quang Trung đều giao cho ông đối phó. Ông đã hoàn thành nhiệm vụ khó khăn nầy hết sức tốt đẹp, kết quả là nhà Thanh không còn nghĩ đến chuyện phục thù mà còn phong cho vua Quang Trung làm An Nam quốc vương.

Ông mô tả chiến dịch ngọai giao tất bật đó như sau:

Một năm ba lần đến cửa Nam Quan,

Mai tuyết hại người, mái tóc đốm bạc.

. . .

Khe núi luôn tiễn đưa yên ngựa sứ quân.

Công văn liên tiếp, việc biên thùy khẩn cấp,

Gươm đàn đằng đẳng, bước đường đời gian nan. (2)


3) Sự nghiệp ông đang lên thi vua Quang Trung mất sớm (1792). Vua Cảnh Thịnh kế vị lúc mới mười tuổi. Thái sư Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền, nội bộ nhà Tây Sơn chia rẻ. Ngô Thời Nhậm không còn được trọng dụng nữa. Ông giải khuây bằng cách nghiên cứu thiền học. Ông là đại sư của thiền phái Trúc Lâm thời đó.


Khi Nguyễn Phúc Ánh thống nhất đất nước đã bắt gia đình và những đại thần nhà Tây Sơn đem giết trong lễ hiến phù tại nhà Thái miếu (Phú Xuân) năm 1802. Những nhân sĩ Bắc hà đã từng cộng tác với Tây Sơn như Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Gia Phan ... bị bắt đem ra kể tội trước Văn Miếu (Thăng Long). Đặng Trần Thường dâng sớ xin giết, nhưng tổng trấn Nguyễn Văn Thành vâng theo chiếu chỉ, chỉ phạt đánh roi rồi tha nhưng riêng Ngô Thời Nhậm bị đánh chết ngày 9-3-1803. (4)

Những người trung trực, luôn luôn tận lực làm tròn phận sự của mình thì hay gây nhiều va chạm, bị người ganh ghét nên đã đưa đến thảm trạng cho cuộc đời ông.


4) Đặng Trần Thường (1759 - 1816) người trấn Sơn Nam, đỗ sinh đồ về cuối đời Lê. Ngô Thời Nhậm thấy Đặng Trần Thường không chịu ra làm quan với nhà Tây Sơn liền nói với giọng mỉa mai khinh bạc: "Người quân tử quý ở chỗ biết thông biến mới có thể làm nên được công nghiệp, chứ kẻ thất phu chỉ biết tự tin mình, rồi có ích gì". Đặng Trần Thường căm giận và nói với người nhà rằng: "Ta sẽ phải giết tên giặc ấy". (5)

Cuối năm 1793, chúa Nguyễn sai người ra Thăng Long chiêu dụ hào kiệt. Đặng Trần Thường vượt biển vào Nam theo Nguyễn Phúc Ánh chống nhau với Tây Sơn. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long phong Nguyễn Văn Thành làm tổng trấn Bắc thành. Dưới quyền tổng trấn có ba tào: hộ, binh và hình. Đặng Trần Thường coi tào binh.


Một giai thoại văn chương thú vị kể rằng khi Ngô Thời Nhậm bị chính quyền nhà Nguyễn gọi ra trình diện, ông gặp lại Đặng Trần Thường, giờ đã làm quan lớn trong chế độ mới. Ông Đặng nhớ khi xưa đã bị ông Ngô khinh bạc, nên ra câu đối:

"Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai?"


Thật là giọng điệu của người đang đắc chí, tự phụ. Giờ này ông Đặng là công hầu, khanh tướng; ông Ngô chỉ là kẻ tội phạm sắp bị đưa ra xét xử. Chữ "ai" trong câu đối trên hẳn là ông Đặng muốn ám chỉ kẻ thất thế giờ này là ông Ngô.

Tiến sĩ Ngô Thời Nhâm làu thông kinh sử, nhân vật xuất sắc nhất trong "Ngô gia văn phái" (8), người đã từng viết Chiếu tức vị (Chiếu lên ngôi) cho vua Quang Trung (6), nhiều lần cầm đầu phái đoàn đi sứ, thay mặt vua viết biết bao là văn thư đối đáp với Thanh triều; thì không có gì khó khi đáp lại:

"Thế Chiến quốc, thế Xuân thu (7), gặp thời thế, thế thời phải thế!"


Có sách nói rằng thời Xuân thu dân số Trung Hoa là 20 triệu (7), thế mà phải chia thành nhiều nước nhỏ tranh giành ngôi bá thanh toán lẫn nhau. Thâm chí thời Chiến quốc, Trung Hoa phân thành mười nước đánh nhau triền miên, dân tình khốn khổ; người gặp thời bỗng chốc thăng vương tướng, người thất thế phải nát thân danh là chuyền thường tình! Câu đáp thật chỉnh từng chữ, giọng điệu ung dung của kẻ từng trải, ý nghĩa lại thâm trầm.


5) Oái oăm thay, vế đối "ai dễ biết ai" ông Đặng thốt ra, vô tình như một tiếng kêu than về sự bí ẩn của kiếp người. Ông Đặng có chắc là vẫn mãi công hầu khanh tướng đến cuối đời không ???

Khi Nguyễn Văn Thành thôi giữ chức tổng trấn Bắc thành (1810) và giao lại cho Nguyễn Huỳnh Đức thì Đặng Trần Thường cũng về Phú Xuân làm Binh bộ thượng thư. Lê Chất, phụ tá cho Nguyễn Huỳnh Đức.

Khi Lê Chất được phong tước quận công và chức hậu quân bình Tây tướng quân, Đặng Trần Thường dè bỉu: "Chất mà bình Tây thì ai bình Chất? Chất mà được quận công thì ta nên mười quận công". (2) Lê Chất nghe được rất căm phẩn và để ý dò xét ông Đặng.


Lê Chất phát giác ra rằng khi còn trấn nhậm ở Bắc thành, Đặng Trần Thường đã thông đồng với Nguyễn Gia Cát (tham tri bộ Lễ) bí mật làm giả mạo sắc phong cho Hoàng Ngũ Phúc (một địch thủ của chúa Nguyễn) làm phúc thần. Đặng Trần Thường phải viết sớ nhận tội, vua Gia Long ra lệnh bắt giam cả hai, sau lại tha.

Lê Chất báo cáo về kinh thêm nhiều tội của Đặng Trần Thường như: ức chiếm đầm ao, ẩn giấu thuế lệ dinh điền rồi đề nghị án tử hình. Đặng Trần Thường lại bị bắt giam. Trong ngục, phẩn chí Đặng uống rượu say, làm bài "Hàn vương tôn phú" ví mình như Hàn Tín và ngầm trách vua Gia Long! Bài phú làm cho bản án ông sớm kết thúc. Ông bị tội giảo, thắt cổ chết, và bị tịch biên gia sản (8). Đúng là ứng nghiệm câu "trong trần ai, ai dễ biết ai!"

T. V. Phê

(09/2005)

(1) Phụ trách khám xét việc kiện cáo ở các trấn.

(2) Những Kỳ Án Trong Việt Sử, Trần Gia Phụng, NXB Non Nước, Canada, 2000; trang 172.

(3) Theo Cương Mục, Ngô Thời Nhậm viết chung tờ khải với Nguyễn Huy Bá tố cáo phe nhóm Trịnh Khải.

(4) Sách Liệt Truyện cho rằng Đặng Trần Thường giận, nên sai lính đánh Ngô Thời Nhậm nặng tay đến chết.

(5) Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, NXB Thuận Hóa, Huế, 1993; trang 463.

(6) Tự Điển Văn Học Bộ Mới, NXB Thế Giới, 2004; trang 1081.

(7) Theo cuốn "Sử Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn Nghệ, 2003; trang 67" thì Nhà Chu của Trung Hoa gồm hai thời kỳ: Tây Chu (1121 - 770 tr. CN) và Đông Chu (770 - 221 tr. CN). Đông Chu cũng chia làm hai thời kỳ: Xuân Thu (722 - 479 tr. CN) và Chiến Quốc (478 - 221 tr. CN). Sự phân chia này dựa trên bộ Xuân Thu, bộ sử biên niên của Khổng Tử.

(8) Theo Tự Điển Văn Học (sách đã dẫn) trang 1070 thì Ngô gia văn phái là bộ sách viết bằng chữ Hán gồm đủ thể loại, tập hợp sáng tác của các tác giả họ Ngô Thời ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam; nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội. Tổng cộng gồm 15 vị bắt đầu từ Ngô Thời Ức - ông nội của Ngô thời Nhậm - đến Ngô Thời Điển - con cả của Ngô Thời Nhậm (cũng là người biên tập bộ sách). Sau này có thêm Ngô Thời Hiên, Ngô Thời Lữ, Ngô Thời Giai ... Bộ sách phản ánh đời sống xã hội, chính trị, văn hóa, văn học của nước ta trong thời gian gần trăm năm dưới thời Lê-Trịnh, nhà Tây Sơn và Nhà Nguyễn


Khúc Tì Bà (Tranh sơn dầu của Họa sĩ Ái Lan):




- Kẻ nào đồng tình với sự áp chế cũng dây phần tội ác. (Eras Darwin)

- Người là thứ gỗ mà người ta làm những cái cung, càng uốn cong cung càng bật mạnh hơn. (Renan)

- Khi anh thấy một người bị tống giam hay bị hành hình, anh chớ vội bảo: "Kẻ ấy là một tên hung bạo, nó phạm trọng tội với người". Vì biết đâu đó là một người tốt, muốn giúp người nên bị quân áp chế bắt tội đấy thôi. (Lamennais)

- Kết cục công lý bao giờ cũng thắng cường quyền, đó là công lệ mà kẻ ngu si đến lúc lâm cuộc rồi mới chịu hiểu. (Hesiode)

- Những cái lợi của sự dối trá chỉ trong chốc lát, những cái lợi của sự thật thì vĩnh viễn. (Diderot)

- Tội lỗi có nhiều khí cụ của nó, mà sự dối trá là một cái cán tra vào món khí cụ nào cũng vừa cả. (O. W. Holmes)

- Trong xứ sở của tôi sự dối trá không còn là một phạm trù đạo đức mà là một cột trụ chống đỡ quốc gia. (Solzhenitsyn)



:: Chết Vì Một Bài Thơ:


1) Nguyễn Văn Thành (1758 - 1817) có tướng mạo đẹp đẽ, tính tình ngay thẳng, thích đọc sách, có tài võ nghệ, lúc còn trẻ đã theo cha hành quân chống Tây Sơn. Khi cha tử trận năm 1775, ông thế cha cầm quân, sau nhập vào lực lượng của Ðỗ Thanh Nhân với chức bộ binh tiên phong rồi làm phó tướng. Năm 1778, ông được gọi về Sài Gòn, nằm dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Nguyễn Ánh.

Sau khi vua Quang Trung đánh tan hai vạn quân Xiêm cùng 300 chiếc thuyền tại Rạch Gằm và Xoài Mút ở phía trên Mỹ Tho do Nguyễn Ánh cầu viện, tàn quân Xiêm chỉ còn vài ngàn người sợ hãi chạy trốn về nước!. Nguyễn Ánh lại trốn sang Xiêm (1785) lần thứ hai có Nguyễn Văn Thành (1758 - 1817) theo giúp trong cơn hoạn nạn. 


Khi Nguyễn Ánh về lại Gia Ðịnh thì Nguyễn Văn Thành đã góp nhiều công lớn trong những trận chiến chống quân Tây Sơn cho đến khi lấy được Phú Xuân, lên ngôi vua hiệu Gia Long (1802) rồi tiến quân ra Bắc chiếm Thăng Long.

Khi về lại Phú Xuân, vua phong ông làm tổng trấn Bắc thành. Ðó là đất cũ của nhà Lê, nhiều nơi không chịu tùng phục nên nổi dậy chống phá. Ông phải dày công tổ chức chính quyền, chiêu dụ người tài, tiểu trừ loạn lạc, ổn định được tình hình khắp 11 trấn Bắc Thành chỉ trong vài năm! 

Ông có học thức nên lúc về làm việc tại trung ương, vua Gia Long cử ông làm tổng tài soạn bộ Hoàng triều luật lệ (1811). Ông cũng đưa rất nhiều đề nghị ích quốc, lợi dân để vua xem xét, thi hành dần dần ... Ông thực sự là đệ nhất công thần đời nhà Nguyễn. Tánh tình ông lại cương trực nên nhiều quan lại trong triều ganh ghét.


2) Khoảng tháng chạp năm 1802, ông tổ chức lễ truy điệu trận vong tướng sĩ, đem hết cảm tình của một vị tướng từng "nằm gai nếm mật" để làm bài văn tế ca ngợi, tiếc thương, an ủi những tướng sĩ đã theo vua lập công nhưng chẳng may bỏ mình nơi trận mạc. 

Bài văn tế được nhiều sĩ phu làm câu đối tán tụng là một áng văn hay. Tương truyền, có xử sĩ thức thời gởi ông hai câu thơ:

Ðài các phải nơi hò hẹn khách

Ngủ hồ riêng thú đợi chờ ai.


có ẩn ý khuyên ông nên từ quan du ngũ hồ như Phạm Lãi ngày xưa, không khéo họa đến thân vì Gia Long cũng như Câu Tiễn: chỉ cộng tác khi hoạn nạn, không thể chung sống lúc an bình.    


3) Nguyễn Văn Thuyên là con của Nguyễn Văn Thành. Thuyên đỗ cử nhân năm 1813. Thuyên giao du rộng và hay làm thơ xướng họa với bạn bè.

Một hôm Thuyên làm một bài thơ mời hai người bạn nổi tiếng hay chữ ở Thanh Hóa và nhờ người giúp việc Nguyễn Trương Hiệu đem đi: 

Văn đạo Ái châu đa tuấn kiệt,

Hư hoài trắc tịch dục cầu ty.

Vô tâm cửu bảo Kinh sơn phác,

Thiện tướng phương tri Ký bắc kỳ.

U cốc hữu hương thiên lý viễn,

Cao cương minh phượng cửu thiên tri.

Thử hồi nhược đắc sơn trung tể,

Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky.


Dịch nôm:


Ái châu nghe nói lắm người hay,

Ao ước cầu hiền đã bấy nay.

Ngọc phác Kinh sơn tài sẵn đó,

Ngựa kỳ Ký bắc biết lâu thay.

Mùi hương hang tối xa nghìn dặm,

Tiếng phượng gò cao suốt chín mây.

Sơn tể phen nầy mà gặp gỡ,

Giúp nhau xoay đổi hội cơ này. (1)


4) Thật ra bài thơ chỉ xuất phát từ hào khí nhất thời của một công tử con nhà quyền thế, đỗ đạt thành danh. Không ngờ tên Hiệu vốn có lòng oán giận và để bụng trả thù nên sau khi đọc thư thấy hai câu chót : "Sơn tể phen này mà gặp gỡ, Giúp nhau xoay đổi hội cơ này" vội đem thơ đến tố cáo với tả quân Lê Văn Duyệt.

Do hai ông Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thành không thuận với nhau nên ông Duyệt đem thơ trình thẳng vua Gia Long. Vua sai bắt Nguyễn Văn Thuyên đem bỏ ngục. Lợi dụng cơ hội, nhiều người thù ghét ông sẵn dịp moi móc, bịa đặt nhiều lỗi lầm để dâng sớ tâu vua kể đủ thứ tội nhằm hãm hại ông! 


Quẩn trí quá, một hôm bãi chầu ông phải chạy theo nắm áo vua mà kêu than: "Thần theo Bệ hạ từ thuở nhỏ đến bây giờ, nay không có tội gì mà bị người ta cấu xẻ, Bệ hạ nỡ lòng nào ngồi nhìn để người ta giết thần mà không cứu?" (2).

Vua giật áo ra đi, cấm không cho ông vào chầu, sai Lê Văn Duyệt đem con ông ra tra hỏi ép phải nhận tội. Uất ức, ông viết biểu trần tình dâng lên vua Gia Long, trong đó có câu: "Sớm rèn tối đúc dệt thành sự cưc ác cho cha con tôi, không tố cáo vào đâu được, chỉ chết mà thôi" (2).  Cuối cùng ông phải uống thuốc độc tự vận. Nguyễn Văn Thuyên cũng không tránh khỏi phải chết chém!


5) Thật ra bài thơ chỉ là cái cớ, nguyên nhân sâu xa là vì muốn bảo vệ ngai vàng mới dày công tạo được. Có hai sự kiện sau đây khiến vua Gia Long đã để bụng nghi ngờ và lo ngại ông âm mưu phản nghịch:

- Theo Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện: Khi tìm được vùng đất làm sơn lăng, lo việc hậu sự; lúc đào lên đất có năm sắc. Nhà vua và các quan đều mừng, riêng ông thì bần thần suy nghĩ. Nhà vua gạn hỏi, ông trả lời rất thành thực rằng "mả mẹ tôi cũng có năm sắc mà tươi đẹp hơn"!

- Ðể dò ý Nguyễn Văn Thành, nhà vua hỏi ông: "Cháu ta là Ðán còn nhỏ, trong các con ta, người nào nên lập làm thái tử?" Ông trả lời theo chính thống: "Xin tâu đích tôn thừa trọng (*), theo lễ thế là phải, nay bệ hạ muốn chọn người khác, thì biết con chẳng ai bằng cha, việc ấy tôi không dám dự biết". Vua càng nghi ngờ ông thêm: "Hắn muốn dựng vua nhỏ để dễ không chế, ngày sau có thể chẹt họng, vỗ lưng chăng ...". Thật ra hoàng tôn Ðán (Nguyễn Phúc Mỹ Ðường, con của hoàng tử Cảnh) chỉ kém hoàng tử Ðảm (vua Minh Mạng sau này) khoảng 5 tuổi.


Chủ trương đưa cháu đích tôn lên ngôi làm vạ lây thêm cho con cháu ông sau này: vua Minh Mạng, dĩ nhiên có ác cảm với ông, sai xóa tên ông trong bộ Hoàng triều luật lệ và bắt giết tất cả con cháu ông nhân vụ Lê Văn Khôi nổi lên chống lại triều đình trong đó có Nguyễn Văn Hàm, con ông, tham gia.


6) Ðoạn kết bài văn tế kể trên, ông cầu xin:

Linh thì hộ hoàng triều cho bể lặng sông trong,

duy vạn kỷ chẳng dời ngôi bảo tộ (**). (3)


Và có lẻ ông cũng thành thực tin tưởng rằng hoàng triều mà "vạn kỷ" chẳng dời ngôi vua thì con cháu ông cũng sẽ vinh hiển lâu dài! Không ngờ chưa hết một đời đã chết oan khuất cho mình và cho cả con cháu. Thương thay!

T. V. Phê

(12/2004)

(1) Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, NXB Ðại Nam, trang 183.

(2) Những Kỳ Án Trong Việt Sử, Trần Gia Phụng, NXB Non Nước, trang 204.

(3) Truyền Thống Văn Hóa Dân Tộc Việt Nam Trong Văn Chương Ðối Liễn, Trần Công Ðịnh, NXB Văn Mới, trang 405.

(*) Ðích tôn thừa trọng: Cháu trai, con của người con trai đầu, thừa hưởng trách nhiệm và quyền lợi của cha mẹ, ông bà.

(**) Bảo tộ: Từ cũ chỉ Ngôi vua.


Cửu Ðỉnh (Ảnh Nguyễn Mạnh Ðan) :




- Trà, cà phê, thuốc lá, rượu ... không cần thiết như gạo, muối ...nhưng chúng làm đẹp cuộc sống. Nghệ thuật cũng vậy. Không có thứ nghệ thuật nào lại không vị nhân sinh. Chỉ có trực tiếp hay gián tiếp, gần hay xa, nặng hay nhẹ mà thôi.

- Với người đàn bà đang tự hào vì được nhiều kẻ tán tỉnh, đừng trả lời câu họ hỏi "em có đẹp không?" Trả lời đẹp thì họ thêm say sưa, xông xáo, đem sử dụng cái đẹp. Trả lời không đẹp thì họ tự ái, đem đi thí nghiệm vung vãi, để chứng minh là anh nói sai. Cả hai cách trả lời đều thiệt hại cho anh, nếu anh ... lỡ yêu người đó.

- Nằm kề bên người vợ ngoại tình, anh chồng cảm thấy thân phận mình là tên lính gác. Gác kho châu báu dành cho kẻ khác!

- Người đàn bà tầm thường dễ bị chinh phục bởi một tên vô lại đầm đìa nước mắt: "Tôi sẽ lừa giết vợ tôi, để được tự do yêu cô". Hơn là bởi một người nghiêm trang nói: "Tôi yêu cô chân thành". (trích Trầm Tư, Võ Hồng).




:: Nằm gai nếm mật:


Những cuộc khai quật khảo cổ gần đây cho thấy rằng hàng ngàn năm trước dân U Việt và
dân Lạc Việt chúng ta có nhiều điểm thật giống nhau như cùng một nguồn gốc, chẳng hạn:
- sống bằng trồng lúa, ở nhà sàn, có tục xâm mình,
- khắc hình dạng cùng một loai chim trên mặt trống, ...
Các tộc Việt sống rải rác trải dài từ Bắc Việt chúng ta ngày nay đến phía Nam sông Dương
Tử, phía Bắc sông Dương tử là tộc Hán. Thế mà U Việt bi đồng hóa bởi Hán tộc và đất đai
bị sát nhập vào nước Trung Hoa ngày nay. Chỉ có Lạc Việt của chúng ta vẫn giữ được bản
sắc và không bị đồng hóa dầu bị hàng ngàn năm lệ thuôc người Tàu. Xin thuật lại về câu
chuyện xưa có nhiều điều đáng để học hỏi liên quan đến những nhân vật nổi danh: Phạm
Lãi, Tây Thi (1) và ông vua cuối cùng của nước U Việt cổ là Câu Tiễn. Đó cũng chính là
câu chuyện liên quan đến thành ngữ "nằm gai nếm mật" trong văn học ta thường dùng.

1) Việt vương Câu Tiễn đánh thua Ngô vương Phù Sai nên phải trốn tránh ở núi Cối Kê. Đường cùng, Câu Tiễn sai đại phu tên là Chủng đem gái đẹp, của quý đút lót cho Thái tể nước Ngô là Phỉ nhờ tâu giùm với vua Ngô xin tha cho vua Việt. Đại phu Chủng đi bằng đầu gối, dập đầu nói với Ngô vương: "Kẻ bầy tôi trốn tránh của bệ hạ là Câu Tiễn, sai bồi thần (2) là Chủng mạo muội nói với các quan rằng Câu Tiễn xin làm bầy tôi, vợ xin làm thiếp của bệ hạ".


Vua Ngô sắp ưng thuận, Tử Tư can:

- Câu Tiễn là vua hiền, Văn Chủng, Phạm Lãi là tôi giỏi. Nếu bệ hạ không tiêu diệt nước Việt, sau này sẽ hối hận đấy.

Ngô vương lại nghe theo lời Thái tể Phỉ mà tha và chỉ bắt vợ chồng Câu Tiễn phải sang Ngô làm con tin, có quan tướng quốc là Phạm Lãi theo hầu. Cả ba đều bị giam trong ngục đá. Hàng ngày vua tôi phải cắt cỏ, hốt phân ngựa, gánh nước rửa chuồng, kiếm củi nấu cơm ... Suốt ba năm, chúa tôi vô cùng vất vả cực nhọc, nhưng vẫn bền chí đợi thời!

Một hôm Ngô vương bệnh, Câu Tiễn nghe theo lời của Phạm Lãi dùng khổ nhục kế là chịu nếm phân của vua Ngô để được vua Ngô tin là trung thành. Nhờ đó vua tôi được phóng thích về nước.


2) Khi được trở về cố quốc, nhớ đến nổi thất bại nhục nhã và bị giam cầm hành hạ khốn khổ, Câu Tiễn vô cùng phẩn uất, lòng canh cánh mưu toan báo thù. Tướng quốc Phạm Lãi cũng thường nhắc: Chúa công chớ lúc nào quên cái nhục thua trận và bị giam cầm như nô lệ thì mới có cơ báo thù được nước Ngô.

Nhà vua tôn hiền đãi sĩ, kính người già thương kẻ nghèo, đối xử trăm họ như anh em nên được mọi người mến phục. Đến mùa làm ruộng, Câu Tiễn cũng cày bừa, vương phi cũng dệt cửi, ăn mặc đạm bạc giản dị, cùng dân chia sự lao khổ. Câu Tiễn cố sức làm việc suốt ngày đêm mong sao cho đất nước sớm cường thịnh; khi nào buồn ngủ thì lấy rau răm xoa vào mắt cho cay để tỉnh ngủ. Vua bỏ cả giường êm nệm ấm, lấy gai và củi lót nằm; quả mật luôn luôn treo ở chỗ ngồi, chỗ nằm, thỉnh thoảng lại nếm một ít vị đắng như để nhắc lại nổi tủi nhục, khổ đau ngày trước!  Hai chữ "Cối Kê" lúc nào cũng lẩm bẩm ở miệng!


3) Đại phu Văn Chũng hiến 7 kế để phá nước Ngô, trong đó dùng mỹ nhân kế là kế thứ ba. Nửa năm tuyển được 2000 mỹ nữ, và người đẹp nhất là Tây Thi (nổi tiếng là "trầm ngư" trong tứ đại mỹ nhân (3) Trung Quốc). Sau 3 năm dạy múa hát cho thật thành thạo rồi sai Phạm Lãi đem sang cống cho Ngô Vương.

Phù Sai mê mẩn say sưa nhìn Tây Thi và nghĩ rằng nàng như thần tiên mới giáng hạ! Từ đó Phù Sai cứ ở luôn trên Cô Tô đài, bốn mùa vui chơi, rượu chè đàn địch hát xướng, chẳng thiết gì đến việc nước. Đã vậy, công qũy kiệt quệ vì mỗi nơi mà Tây Thi ngự đến là Phù Sai đều kiến trúc cho thành một "di tích lịch sử" như: Quán Khuê cung trang trí toàn bằng châu ngọc để Tây Thi ra dạo ngắm cảnh, Cầm đài để nàng ngồi đàn, Hưởng điệp lan, Ngoạn hoa trì, Ngoạn nguyệt trì, giếng Ngô vương để nàng đến ngắm hoa, thưởng trăng và soi bóng mình dưới làn nước trong.


Phù Sai lại cho đào một con sông ở trong thành- từ nam sang bắc- rồi làm một chiếc thuyền buồm gấm để cùng Tây Thi dong thuyền...!!

Tây Thi, con người tuyệt sắc ấy, tuy có một thân hình mảnh mai như cành liễu yếu nhưng tiềm tàng một sức mạnh phi thường làm lật đổ cả triều đại nhà Ngô để đem chiến thắng vinh quang về cho tổ quốc. Mỗi lần mặt nàng cau là một cái đầu của viên tướng Ngô bị  rơi. Mỗi lần môi nàng cười là kho nhà Ngô vơi đi biết bao bạc vàng châu báu; bàn tay xưa kia quay tơ dệt lụa thì nay đã bóp nát dần cả một nước Ngô có binh hùng tướng  mạnh cho đến ngày tàn!


4) Thái tể Phỉ gièm Ngũ Tử Tư với vua Ngô. Lúc đầu nhà vua không nghe. Đến khi biết Tử Tư gởi con ở nước Tề (vì sợ nước Ngô mất) nên nhà vua cả giận qui cho Tử Tư tội muốn làm phản rồi ép Tử Tư tự sát.

Tử Tư cười nói rằng:

- Ta giúp nhà ngươi nên nghiệp bá, ta đưa nhà ngươi lên ngôi. Nhà ngươi muốn chia một nửa nước Ngô cho ta, nhưng ta không nhận. Ta can nhà ngươi những điều phải để giữ nước Ngô vững mạnh. Giờ ngươi lại nghe lời gièm pha mà giết ta!

Trước khi chết, Tử Tư trối với sứ giả:

- Hãy móc mắt ta treo ở cửa Đông Môn nước Ngô để ta xem quân Việt tiến vào.


5) Nước Ngô ngày càng suy yếu. Nước Việt thừa thế tấn công. Ngô thua to, Việt lại dồn Ngô vương lên núi Cô Tô. Vua Ngô sai Công Tôn Hùng ở trần, đi bằng đầu gối đến xin giảng hòa với vua Việt và nói: "Kẻ cô thần của bệ hạ là Phù Sai xin phơi bày gan ruột: Trước đây thần có tội ở Cối Kê, Phù Sai không dám trái mệnh trời nên được giảng hòa với nhà vua và về, nay nếu nhà vua giơ gót ngọc mà giết cô thần, cô thần cũng xin vâng theo mệnh, vâng theo nhà vua. Nhưng cũng muốn nhà vua tha tội cho cô thần như việc xảy ra trước đây ở Cối Kê. Không biết có được không?". Câu Tiễn không nỡ, muốn bằng lòng tha nhưng Phạm Lãi lấy lời hơn lẽ thiệt một mực can ngăn.

Ngô Vương Phù Sai tuyệt vọng che mặt than: "Ta không còn mặt mũi nào nhìn thấy Ngũ Tử Tư nữa!", rồi tự sát.


6) Bây giờ quân của Việt làm bá chủ ở phía Đông sông Giang, sông Hoài. Chư hầu đến mừng gọi Câu Tiễn là bá vương. Sau hơn hai mươi năm bền chí, khổ công nhọc sức, "nằm gai nếm mật", cùng với bầy tôi giỏi một dạ trung thành là Phạm Lãi, Văn Chủng; cộng với sức tàn phá ngấm ngầm của mỹ nhân Tây Thi; cuối cùng Việt Vương đã rửa được cái nhục ở Cối Kê thuở trước.

T. V. Phê

(12/2005)

Tài liệu tham khảo:

- Sử Ký, Tư Mã Thiên, Phan Ngọc dịch, tập I; NXB Văn Học, 1988, trang 252.

- Điển Hay Tích Lạ, Nguyễn Tử Quang, NXB Khai Trí, 1974, trang 246, 424.

(1) Sử Ký của Tư Mã Thiên không có nhân vật Tây Thi, trong truyền thuyết mới nói đến.

(2) Câu Tiễn là tôi của Phù Sai mà Chủng lại là bầy tôi của Câu Tiễn. Bồi thần tức bầy tôi hai lần.

(3) Bốn người con gái đẹp nhất Trung Quốc ngày xưa:

- Tây Thi (cuối đời Xuân Thu) có vẻ đẹp trầm ngư (cá lặn),

- Chiêu Quân (đời Tây Hán) có vẻ đẹp lạc nhạn (nhạn trông thấy phải sa),

- Điêu Thuyền (đầu đời Tam Quốc) có vẻ đẹp bế nguyệt (trăng thẹn),

- Dương Ngọc Hoàn tức Dương Quí Phi (đời Đường) có vẻ đẹp tu hoa (hoa nhường).

Hình trong bài: Bảo Kiếm hai lưỡi của Câu Tiễn (496 - 465 tr. CN)(Khởi Hành số 56)


Thiếu nữ đêm hè (Họa sĩ Nguyễn Thị Hợp) :





 

 

Nhan Vat

 

   
 

Nhân Vật

 

- Người Chàm Trong Mắt Tôi (Nguyễn Ngọc Chính)

- Công lao Tổng thống Ngô Đình Diệm cần được tôn vinh (Lê Công Định)

- Alexander Solzhenitsyn: Văn Tài và Đạo Đức của Sự Thật (Bùi Tiên Khôi)

- Bùi Thị Minh Hằng (Vũ Đông Hà)

- "Lạc Lõng" Cậu Nho Sinh Người Mỹ Gốc Việt

(Thiên An)

- Thủ Bút Của Trần Trọng Kim - Thư Gửi Hoàng Xuân Hãn (Nguyễn Đức Toàn)

- Chú Hề Buồn Bã (Lê Hữu)

- Giải mã lãnh tụ: Một đóng góp quan trọng của Trần Đức Thảo (Đoàn Thanh Liêm)

- Vịn Câu Thơ Mà Đứng Dậy (Trần Trung Đạo)

- Bài Thơ Cho Đỗ Thị Minh Hạnh (Trần Trung Đạo)

- Ngõ Phất Lộc: Từ Nguyễn Hiến Lê đến Người Buôn Gió (Đoàn Thanh Liêm)

- Gió Bão Ngoại Giao Thời Thịnh Trần và Vị Sứ Thần Lỗi Lạc Đinh Củng Viên (Phạm Khắc Hàm)

- Sứ Thần Giang Văn Minh Không Làm Nhục Quốc Thể (Tạ Quốc Tuấn)

- Việt Dzũng, nghệ sĩ đấu tranh không tàn tật tâm hồn (Võ Đại Tôn)

- Để So Sánh Các Anh Hùng Trước Nguyễn Huệ với Nguyễn Huệ (Phạm Văn Sơn)

- Nelson Mandela, Quyền lực của sự tha thứ

(Nguyễn Hưng Quốc)

- Bình Luận và Vịnh Nhị Trưng (Dương Bá Trạc)

- Gia Đình Trưng Vương (Hoa Bằng)

- Trần Danh San, Tiếng hò khoan đã tắt

(Phan Nhật nam)

- Danh Tướng Thi Nhân Phạm Ngũ Lão (Tạ Quốc Tuấn)

- Cuộc Khởi Nghĩa của Hai Bà Trưng (Hà Mai Phương)

- Chiến Thắng Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền Năm 939 (Hà Mai Phương)

- Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà và Anh Hùng Đánh Tống-Bình Chiêm Lý Thường Kiệt (Lý Tế Xuyên)

- Lê Lợi, Nguyễn Trãi và Cuộc Cách Mệnh Lam Sơn

(Trần Ngọc Ninh)

- Phạm Ngũ Lão (Phan Kế Bính)

- Đặng Dung, Bậc Anh Hùng Lỡ Vận và bài thơ "Cảm Hoài" (Phạm Khắc Hàm)

- Sử Thi Về Hai Bà Trưng (Viên Linh)

- Ô cửa nhỏ của Thục Vy (Lê Hữu)

- Bà Lương Giết Giặc Minh Hạ Thành Cổ Lộng

(Chu Thiên)

- Hiểm họa từ Trung Quốc (T. V. Phê)

- Feb 1, 2003: Phi thuyền con thoi Columbia bị nổ tung (T. V. Phê)

- Chuyện trùng hợp lạ kỳ (T. V. Phê)

- Đạt Phan, người giễu hay nhất nước Mỹ năm 2003 (T. V. Phê)

- Dương Nguyệt Ánh góp phần chiến thắng tại A Phú Hãn (T. V. Phê)

- Người làm rạng danh tổ quốc: Mai Văn Hòa

(T. V. Phê)

- Ngôn ngữ thời Internet (T. V. Phê)

- Tiếng Việt lý thú (T. V. Phê)

- Tiệc đầu khỉ, cỗ đầu người (T. V. Phê)

- Nhạc võ Tây Sơn (T. V. Phê)

- Vua Quang Trung (T. V. Phê)

- Cảnh nghèo khó và bệnh tật của thi hào Nguyễn Du (T. V. Phê)

- Cỏ cây trong Truyện Kiều (T. V. Phê)

- Ngày giờ nàng Kiều bị bắt (T. V. Phê)

- Cái ghen của Hoạn Thư (T. V. Phê)

- Cù lao chín chữ (T. V. Phê)

- Mối tình của nữ sĩ Hồ Xuân Hương với Nguyễn Du (T. V. Phê)

- Áo dài Lemur: "thủy tổ" những chiếc áo dài ngày nay (T. V. Phê)

- Ca trù hồi sinh (T. V. Phê)

- Câu đối (T. V. Phê)

- Sáu luật về dấu hỏi ngã (T. V. Phê)

- Nước ta có Sử từ đời nào? (T. V. Phê)

- Dòng giống Tiên Rồng (T. V. Phê)

- Người Việt xấu xí?! (T. V. Phê)

- Người Chăm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam

(T. V. Phê)

- Không mới nhưng ... lạ (Minh Nguyệt)

- Ông tổ triết thuyết hiện sinh sống ra sao?

(T. V. Phê)

- Dũng khí của nhà văn (T. V. Phê)

- Nằm gai nếm mật (T. V. Phê)

- Chết vì một bài thơ (T. V. Phê)

- Ai công hầu, ai khanh tướng (T. V. Phê)

 

Phim Tài Liệu

 

L'exode du Nord Viet Nam

 

 

 
© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)