Head

 

 

That hien trong Hoi Hoa VN

"Thất hiền" trong hội họa Việt Nam

Vài giai thoại về hội họa Việt Nam:

Giá tiền của những bức tranh

Người Mẫu Khỏa Thân


:: "Thất hiền" của hội họa Việt Nam:


1) Vai trò của Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương

và công lao của Giám đốc Victor Tardieu:


Trong bài tổng kết Văn học Nghệ thuật, tuần báo Asiaweek số kỷ niệm 25 năm hiện diện (11/2000) đã nhận định: Hội họa Việt Nam tiến bộ nhất Châu Á.(*) Nhiều nhà bình luận cho rằng đó là nhờ Việt Nam thành lập trường Mỹ thuật sớm nhất: Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (École des Beaux Arts de L' Indochine) thành lập năm 1924, Giám đốc: họa sĩ Victor Tardieu, người Pháp.

Victor Tardieu có dịp thăm viếng các đền đài, lăng tẩm; nghiên cứu các ngành mỹ thuật, mỹ nghệ của ta và nhận ra rằng Việt Nam có một nền nghệ thuật cổ truyền độc đáo, phong phú, khiếu thẩm mỹ của người Việt rất tinh tế. Do vậy, ông tích cực vận động để thành lập trường và được Toàn Quyền Merlin thông qua ngày 27-10-1924. Đến năm 1925, trường mới thực sự giảng dạy khóa đầu tiên, ban giảng huấn toàn người Pháp, chỉ một phụ giáo người Việt là Nguyễn Nam Sơn. Đến năm 1930, lớp sinh viên đầu tiên tốt nghiệp.




"Trường Mỹ Thuật Đông Dương truyền thụ cái nhìn theo phép viễn cận khoa học đã được hoàn chỉnh từ thời Phục Hưng nước Ý ...Dĩ nhiên, cái nhìn khoa học này đã giúp bốn, năm thế kỷ hội họa bác học Âu Châu đạt ý nguyện miêu tả một cách tài tình, đẹp đẽ và hợp lý mọi vật thể trong không gian, trước hết là một cách chính xác (bằng tỷ lệ đậm, nhạt, sáng tối, phối cảnh ...). Trường biểu lộ cái ưu điểm của sự đào tạo chính qui, lấy đúc kết khoa học của Châu Âu làm bài học." (1)

Mặc dù luôn bị chính quyền thực dân phản đối, đả kích nặng nề vì cho rằng tốn phí quá nhiều mà không có lợi ích cụ thể nào, Victor Tardieu vẫn bền chí bảo vệ để trường tồn tại; mãi đến năm 1945 mới phải ngừng hoạt động: "Chỉ trong vòng chưa đầy 1/4 thế kỷ ngắn ngủi, Trường Mỹ Thuật Đông Dương đã cống hiến một tầng lớp họa sĩ tiền phong cho nền hội họa Việt Nam hiện đại. Những họa sĩ này, đã đổi mới ngôn ngữ tạo hình, đảo lộn tất cả những lề thói cũ, là một cuộc cách mạng toàn diện triệt để, để đặt nền tảng cho một nền nghệ thuật mới mẻ hoàn toàn." (2)

Trường đã đào tạo được những tên tuổi lớn: Trần Văn Cẩn, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Đỗ Cung, Vũ Cao Đàm, Lê Văn Đệ (sau là Giám đốc Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định), Lương Xuân Nhị, Lê Phổ, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, ...rồi những tài năng xuất sắc ở thế hệ cuối cùng của trường như: Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, ...

Victor Tardieu rất quý trọng, nâng đở, khuyến khích và hướng dẫn tận tình những tài năng của Việt Nam. Đích thân ông mang tranh của các họa sĩ Đông Dương về Pháp trưng bày trong dịp triển lãm tại Hội Chợ Đấu Xảo thuộc địa Paris năm 1931, rồi tại La Mã, Luân Đôn và đạt được thành công rực rỡ. Công lao của Victor Tardieu và ngôi trường này rất to lớn, nếu không thì nghệ thuật tạo hình Việt Nam sẽ còn bị xem như trùng hợp với nghệ thuật Trung Quốc!!!


2) "Cụ I":


Đó là tên tắt mà họa sĩ Nguyễn Gia Trí thường gọi một cách kính trọng họa sĩ người Pháp Joseph Inguimberty. Ông có công mở lối cho sơn mài Việt Nam. Ông lãnh đạo tổ chức Cooperative des Artistes Indochinois, có họa sĩ Trần Văn Cẩn điều hành, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các học viên mỹ thuật sản xuất mỹ nghệ theo đơn đặt hàng của tổ chức này. Họa sĩ Hoàng Tích Chù, tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật năm 1941, thường kể câu chuyện "gật, lắc" của "Cụ I" để nhấn mạnh kỹ thuật sơn mài phải được con mắt tinh tường của người họa sĩ hướng đạo. Thầy Inguimberty hay chăm chú quan sát, rồi gật hoặc lắc và học viên phải hiểu ý mà điều chỉnh, cụ lắc đến lần thứ ba thì bức tranh coi như ... vứt! (3)


3) "Thất hiền":


Như bài trước (Giải trí 37) đã đề cập, thập niên 40-50 truyền tụng về tứ trụ trong hội họa: nhất Trí, nhì Lân, tam Vân, tứ Cẩn (Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tường Lân, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn); sau 1954, ở miền Bắc lưu truyền một tứ trụ khác: "Nghiêm, Liên, Sáng, Phái" (Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái). Tổng kết lại, nói đến hội họa Việt Nam, người ta thường nhắc đến một danh sách gồm bảy họa sĩ nổi tiếng xuất thân từ trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (theo thứ tự tuổi tác): Nguyễn Phan Chánh (1892 - 1984), Tô Ngọc Vân (1906 - 1954), Nguyễn Gia Trí (1908 - 1993), Trần Văn Cẩn (1910 - 1994), Bùi Xuân Phái (1920 - 1988), Nguyễn Tư Nghiêm (1922 - ) , Nguyễn Sáng (1923 - 1988).


- Nguyễn Phan Chánh sinh tại Hà Tĩnh và mất tại Hà Nội. Ông là sinh viên khóa đầu tiên Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (1925-1930) và được đánh giá như bậc thầy về tranh lụa. Ông là một trong những người có công khởi xướng tranh lụa ở Việt Nam và cũng nhờ ông, người ta mới biết tranh lụa Việt Nam khác hẳn tranh lụa Trung Hoa và Nhật Bản.

Tranh ông màu sắc hơi sẫm tối, đó là màu nâu đen thân thiết của bùn đất ruộng đồng, của quần áo dân quê. Tranh ông đường nét rất giản dị nhưng phát họa được đời sống nông thôn Việt Nam một cách linh động, sắc sảo, lại còn ẩn tàng nỗi nhớ dĩ vãng xa xưa, nhớ "những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ" (Vũ Đình Liên).

Trong dịp triển lãm ở Hội Chợ Đấu Xảo tại Paris năm 1931, Nguyễn Phan Chánh đã gửi những bức họa: Rửa Rau, Em Bé Cho Chim Ăn, Bữa Cơm, Người Hát Rong, Lên Đồng, Chơi Ô Ăn Quan để tham gia và đích thân Giám đốc Victor Tardieu mang tranh cúa các họa sĩ Đông dương về Pháp trưng bày.


Giám đốc đã viết thư riêng cho Nguyễn Phan Chánh: "Tôi vui mừng báo cho anh hay là các bức tranh lụa của anh rất được hâm mộ và thành công rất lớn, tất cả đều đã bán hết ... Chúng ta sắp bày tranh ở La Mã và sau đó ít lâu, ở Luân Đôn. Nếu anh còn có những bức tranh lụa như những bức tôi mang theo, tôi bảo đảm là sẽ bán hết cho anh". (2)

Trong số khoảng 130 tranh lụa ông sáng tác trong đời, đa số nằm trong các viện mỹ thuật hoặc các bộ sưu tập tư nhân nước ngoài, chỉ có khoảng 45 bức còn ở lại trong nước. Tranh lụa của ông được nhà Christie bán đấu giá cao nhất so với tranh Việt Nam. Hiện Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật ở Sài Gòn có phòng riêng để trưng bày tranh ông.


- Bùi Xuân Phái sinh và mất tại Hà Nội. Ông là họa sĩ hậu ấn tượng, thuộc thế hệ cuối cùng của Trường Mỹ Thuật Đông Dương mà ông theo học từ năm 1941 - 1946 và bắt đầu dạy ở Trường Mỹ Thuật Hà Nội năm 1957. Tranh ông vẽ những vùng nông thôn miền Bắc, những anh chị chèo ngộ nghĩnh, các chân dung, khỏa thân, những ký họa erotic ... nhưng nổi tiếng nhất là những bức tranh vẽ phố Hà Nội cổ kính rêu phong. Ông dành hầu hết thời gian và sức lực để vẽ hàng ngàn bức tranh về phố cổ với sự say mê đặc biệt. Người thưởng ngoạn có thể cảm nhận được sự thân quen, ấm áp từ những bức tranh đó và dân gian thường gọi ngắn gọn "Phố Phái" để tỏ lòng trân trọng và nhấn mạnh tính độc đáo của nó.


Trong nhiều cuộc triển lãm hội họa ở Hồng Kông, Singapore, Thái Lan, ... tranh Việt Nam được đánh giá cao ở khu vực Đông Nam Á Từ tháng 3/1997, dịp bán đấu giá họa phẩm các nước Đông Nam Á của nhà Christie's ở Singapore, có họa phẩm của những họa sĩ nổi tiếng Việt Nam như Trần Văn Cẩn, Mai Trung Thứ, Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Nguyễn Sáng, ... thì bức "Sông Đà" của Bùi Xuân Phái được ghi giá 22 ngàn mỹ kim. Tranh ông có bức bán đến 28,500 mỹ kim trong dịp bán đấu giá của nhà Sotheby's ngày 26-9-1997.

Bùi Xuân Phái lúc nào cũng miệt mài vẽ, ngồi đâu vẽ đó, cả đến trước giờ lâm chung cũng còn vẽ: "Ông vô cùng mê hội họa, hội họa cũng không xua đuổi ông: ông là một mảng tạo hình đặc biệt, tài hoa, thanh nhã, đạt được cái thô mộc bậc thầy của nền nghệ thuật Việt Nam hiện đại". (4)


4) Hội Họa Sĩ Trẻ:


Năm 1954, hiệp định Genève chia đôi đất nước, Sài Gòn trở thành trung tâm văn hóa của miền Nam và toàn dân đều mong muốn góp tay xây dựng cuộc sống mới trong hòa bình, tự do và dân chủ. Những người làm văn học nghệ thuật cũng rất khao khát sáng tạo. Trong không khí nô nức ấy, Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định đã ra đời. Trường được thành lập ngày 31-12-1954, giám đốc là họa sĩ tài danh Lê Văn Đệ, người đã từng có những công trình mỹ thuật tại Vatican khoảng năm 1936-1937. Vài năm sau, Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế được thành lập, họa sĩ Tôn Thất Đào, tốt nghiệp Trường Mỹ Thuật Hà Nội năm 1938, từng đoạt huy chương vàng Hội Chợ Đấu Xảo Mỹ Thuật Huế năm 1938, làm giám đốc. Hai trường đã góp phần đào tạo một thế họa sĩ mới đầy tài năng, nhờ vậy, "trong lãnh vực tạo hình, một nền nghệ thuật Việt Nam hiện đại đã phát triển rất nhanh, bắt kịp được tiếng nói thời đại, rồi trên đà chuyển động về phía trước, tính đến năm 1975, chỉ với 20 năm ngắn ngủi, đã dựng nên được một nền nghệ thuật rực rỡ, trẻ trung, rất hiện đại, và vô cùng sáng tạo như chưa từng thấy". (5)


Ngoài những họa sĩ di cư từ Bắc vào Nam như Thái Tuấn, Duy Thanh, Ngọc Dũng; các họa sĩ trẻ miền Nam qui tụ trong nhóm nghệ thuật tiền phong của Sài Gòn là "Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam": Trịnh Cung, Đinh Cường, Nghiêu Đề, Lê Tài Điển, Hồ Thành Đức, Nguyễn Đồng, Đỗ Quang Em, Nguyên Khai, Cù Nguyễn, Nguyễn Phước, Nguyễn Quỳnh, Rừng, Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Trung, ... Ngoài ra còn có một số họa sĩ không ở trong nhóm trên như: Hiếu Đệ, Đằng Giao, Duy Liêm, Nguyễn Trọng Khôi, Nguyễn Hữu Nhật, Lâm Triết, Vị Ý, ...


5) Vợ chồng đều là họa sĩ:


Hai cặp vợ chồng đều là họa sĩ khá nổi tiếng, đó là Hồ Thành Đức-Bé Ký và Nguyên Đồng-Nguyễn Thị Hợp.

Hồ Thành Đức - Bé Ký hiện sống ở Westminster, California. Bé Ký là một họa sĩ tài hoa, độc đáo và sáng tạo. Nhiều người Âu Châu thích sưu tập tranh Bé Ký. Bà có tranh trong bộ sưu tập của Nhà Bảo Tàng Á Châu Thái Bình Dương, Ba Lan. Năm 1995, Bé Ký được mời tham dự cuộc triển lãm quốc tế Women: Beyond Borders di chuyển qua nhiều quốc gia trong vòng 5 năm (1995-2000), cuối cùng trở lại Hoa Kỳ lưu giữ trong bộ sưu tập thường xuyên.

Sáu tuổi Bé Ký đã biết vẽ, 12 tuổi đã vẽ dễ dàng chim muông, thú vật và những hoạt cảnh xung quanh mình. Bé Ký vẽ ký họa rất tài tình, chỉ vài nét đơn sơ là lột tả hết "cái thần" của những hoạt cảnh ở miền quê, phố thị một cách sinh động. Đó là loại tranh dân gian ấm áp tình quê mà ai cũng ưa thích, nhất là những người xa xứ như chúng ta. Vài tuyệt tác của Bé Ký: Đàn nguyệt, Đàn cò, Đàn độc huyền, Bà cháu, Mẹ con, Trẻ em chơi thổi bong bóng ...Ba ngày xuân mà có tranh Bé Ký treo trên tường vẽ cô thiếu nữ cầm cành mai vàng hay nhánh hồng đào, em bé thả diều hoặc đốt pháo, chiếc xe thổ mộ chở đầy hoa tiến về thành phố ... thì thật đậm không khí Tết. "Hội họa Bé Ký cho chúng ta thấy một điều rất hiển nhiên là có những giá trị dân gian vẫn rất quí giá, cần phải được giữ gìn và bảo vệ. Nếu đi tìm một tiếng nói của dân tộc thì hội họa của Bé Ký chính là một trong những tiếng nói đó, đầy bản sắc và có thừa tư cách để phát biểu." (6)


Nguyễn Đồng - Nguyễn Thị Hợp, năm 1979 định cư ở Tây Đức, năm 1985 qua Cali phụ trách mỹ thuật cho nhật báo Người Việt.

Hai người trước 1975 cũng đều là thành viên nòng cốt của Hôi Họa Sĩ Trẻ. Nguyễn Thị Hợp tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định năm 1964. Ngoài triển lãm tranh, bà còn trình bày và minh họa cho một số ấn phẩm về truyện nhi đồng, kinh điển Phật giáo, sách khảo cứu, tranh lịch Tết ...Có thể nói tranh bà tràn ngập khắp nơi, được mọi người yêu thích và tạo cảm tình sâu đậm trong lòng người Việt.

Tranh lụa của bà thoạt nhìn, thấy đường nét giản dị, thanh thoát, mềm mại, tràn đầy cốt cách dân tộc nhưng thật ra đó là một tổng hợp nhiều kỹ thuật phương pháp tạo hình Đông Tây, với bố cục vững chãi, màu sắc nhẹ nhàng mong manh tạo nên một họa pháp và phong cách hoàn toàn riêng biệt của bà.


Những bức tranh vẽ các thiếu nữ ngồi đọc sách trong vườn, các bé thơ nô đùa giữa vườn xuân, Mẹ con, Khỏa thân và măng cụt ... là những tuyệt tác về tranh lụa, đã mang lại cho giới thưởng ngoạn "một vẻ đẹp chân chất mà lại rất tươi mát, kỳ ảo, quyến rũ. Hình ảnh không lộ ra một cách buông tuồng mà lúc nào cũng như e ấp, phong kín, giản dị mà vẫn kiểu cách, tao nhã ... một số tác phẩm lụa của Nguyễn Thị Hợp đã đưa bà đến chỗ ngồi của những nhà danh họa bậc nhất về lụa của đất nước". (6)


6) Khuynh hướng tương lai của hội họa Việt Nam:


Nhiều họa sĩ cho rằng hội họa trừu tượng đang chiếm giữ vị thế thượng phong và mặc nhiên được coi như một hướng đi trước mắt của giới họa sĩ Việt Nam. Sự phát triển và thành công của hội họa Việt Nam dĩ nhiên tùy thuộc rất nhiều vào tài năng của chính họa sĩ, ngoài ra muốn tạo một sức mạnh và một cá tính cho ngôn ngữ tạo hình Việt Nam, theo họa sĩ Trịnh Cung - nguyên là thành viên của Hội Họa Sĩ Trẻ trước năm 1975, nhận định: "còn phải có ít nhất hai điều kiện nữa: sức mạnh kinh tế của quốc gia và một công chúng yêu thích và có trình độ thưởng ngoạn các tác phẩm mỹ thuật" (7)

T. V. Phê

(12/2006)

Tài liệu tham khảo:

(*) Khởi Hành số 53, tháng 3/2001.

(1) Hai lần thay đổi mô hình thẩm mỹ, Thái Bá Vân, Nghiên Cứu Nghệ Thuật , Hà Nội, số 2/1984. 

(2) Vai trò trường Mỹ thuật Đông Dương, Huỳnh Hữu Ủy, Khởi Hành số 82, tháng 8/2003.

(3) Hoàng Tích Chù, người còn lại của thế hệ họa sĩ sơn mài đầu tiên, Hoàng Phổ Quang, Thế Giới Mới số 475 (25-2-2002), trang 84.

(4) Con đường mở rộng của một nền nghệ thuật Việt Nam hiện đại, Huỳnh Hữu Ủy, Hợp Lưu số 29, tháng 6&7, 1996.

(5) Hai mươi năm hội họa miền Nam, Huỳnh Hữu Ủy, Khởi Hành số 81, tháng 7/2003.

(6) Mấy nẻo đường của nghệ thuật và chữ nghĩa, Huỳnh Hữu Uỷ, Văn Nghệ, 1999.

(7) Lại nói chuyện vẽ (II), Võ Đình, Hơp Lưu số 36 tháng 8&9, 1997.


Promenade au Parc

(sơn dầu trên bố, 1933, Joseph Inguimberty, GS Trường Mỹ Thuật Đông Dương) :




- Ma cường quyền đắc thế sinh hung uy,

Thần công lý bó tay nghe tử tội. (Phan Bội Châu - Văn tế 13 liệt sĩ VNQDĐ)

- Cái đáng kinh hãi nhất ở đời chính là cái công lý bị tách rời khỏi lòng nhân ái. (F. Mauriac)

- Kẻ nào quyết định một sự kiện mà không nghe cả đối phương thì dù có đúng đi nữa cũng không thể coi là công bằng được. (Seneca)

- Phải luôn luôn đem lại công bằng trước khi thực hành nhân ái. (N. Malebranche)



:: Vài giai thoại về hội họa Việt Nam:


1) Bốn "Không" của họa sĩ Nguyễn Gia Trí :


Trên đất ngàn năm văn vật thời thập niên 40-50 đã có lời truyền tụng về tứ tượng trong nghề hội họa: nhất Trí, nhì Lân, tam Vân, tứ Cẩn (Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tường Lân, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn). Sơn mài Việt Nam trước đây chỉ làm hoành phi, câu đối; đến Nguyễn Gia Trí phát triển thành loại mỹ thuật thượng đẳng, một ngành nghệ thuật được ưa chuộng qúi trọng. Tranh sơn mài của ông kỳ ảo, sống động, đầy dân tộc tính và bán đắt vô cùng, phải tính giá từng phân vuông. Người Pháp từ trước 1945 trong Musée du Viet Nam đã gọi ông là génie (thiên tài) và rất ưa chuộng tranh sơn mài của ông nên mua tranh ông từ khi còn ở dạng phác thảo! Trong gần 60 năm, họa sĩ Nguyễn Gia Trí đã để lại đến 400 tác phẩm: "Từ trên nửa thế kỷ nay, tên Nguyễn Gia Trí ký dưới một tác phẩm hội họa nào là bảo đảm cho một giá trị bậc thầy, được khâm phục và kính trọng trong thế giới tạo hình suốt trong và ngoài nước." (1)

Những khách hàng muốn họa sĩ Nguyễn Gia Trí (1908 - 1993) vẽ tranh phải tuân thủ bốn điều kiện (2):

- Không được ra đề tài.

- Không được xem phác thảo.

- Không được hạn định thời gian.

- Không được trả giá.


Nếu thoát được bốn hệ lụy trên, họa sĩ sẽ được hoàn toàn tự do sáng tác và đó là điều hạnh phúc nhất của người nghệ sĩ. Cách ứng xử của ông rất cổ quái và kiên quyết trong giao tiếp. Trước 1975 có lời đồn ông từ chối bán tranh cho Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn và đã từng đuổi ra khỏi nhà một người đại diện của chính phủ Ngô Đình Diệm khi vị này trả giá một bức tranh của ông! Sau 1975, ông đóng cửa không tiếp nhnữg nhân vật lãnh đạo văn hóa nghệ thuật từ Hà Nội vào ghé đến ông.

Giai thoại sau đây (3) kể về bà cố vấn Ngô Đình Nhu đã phạm nhiều vào "bốn không" của họa sĩ. Năm 1959, bà Nhu muốn họa sĩ vẽ cho bà một bức tranh sơn mài có năm cô thiếu nữ trong vườn. Họa sĩ nhận lời và hẹn thời hạn bốn tháng sẽ hoàn tất. Trước khi về bà Nhu hỏi ông về giá cả, ông trả lời: "Tôi chỉ nói chuyện nghệ thuật, chuyện tiền nong xin bà nói chuyện với nhà tôi". Bà Nhu sang phòng bên gặp vợ họa sĩ và được trả lời thẳng thừng: "Giá cả tính theo từng mét vuông tranh, thưa bà tôi lấy mỗi mét vuông một triệu đồng."


Mấy tháng sau, tuy chưa đến ngày hẹn nhưng vì nóng ruột quá bà ghé phòng tranh để xem thử. Ngắm bức tranh vẽ dang dở bà đề nghị sửa đổi cánh tay của một thiếu nữ, thay vì đưa lên bà muốn nó hạ xuống! Họa sĩ có lẻ rât bực, nhưng ông chỉ nhẹ nhàng nói mỉa: "Nếu bà không thích bức này thì tôi sẽ để cho người khác. Tôi khuyên bà nên đến xưởng tranh sơn mài Thành Lễ, ở đấy họ sẽ vẽ theo đúng ý muốn của bà." Bà Nhu nín thinh. Ra đến cổng, không hiểu nghĩ sao, bà lại quay vào hỏi bức tranh bao giờ vẽ xong. Họa sĩ bất đắc dĩ phải trả lời khi nào xong ông sẽ báo cho bà biết.

Vào cuối thập niên 50, họa sĩ đã vẽ nhiều bức tranh sơn mài thật lớn theo đơn đặt hàng của Phủ Tổng Thống để tranh trí Phòng Khánh Tiết và Thư Viện Quốc Gia, ngày nay những bức đó trở thành quốc bảo.

Thái Tuấn, họa sĩ nổi tiếng, từng là chủ khảo nhiều giải thưởng về hội họa trước 1975, đã nhận định: "Bước vào tranh anh, người ta sẽ bước vào một cõi giới khác lạ, sự vật trong tranh không còn là cái này cái kia; danh tính sự vật đã được xóa bỏ; cây cỏ và con người không còn ở thể vật chất; tất cả trở nên rực rỡ linh động trong suốt của chất pha lê pha trộn lẫn bạc vàng. Những vùng bóng tối ánh sáng tạo nên bởi màu nâu cánh gián hòa trong màu trắng bạc, gợi ra những nhân vật chỉ còn bóng dáng, bay lượn rong chơi trong không gian; nhắc nhở đến những nhân vật trong họa phẩm của Chagall. Tranh anh mang nặng tính siêu thực. Trong cõi giới siêu thực ấy, mọi lý luận, mọi trói buộc, mọi xung đột, do cuộc sống gây nên, đều được hóa giải. Người thưởng ngoạn sẽ nhìn thấy vẻ toàn vẹn của đời sống." (4)


Nguyễn Gia Trí sinh năm 1908 ở Thường Tín, Hà Đông, Bắc Việt. Ông học khóa 5 trường Mỹ Thuật Hà Nội, nhưng bỏ học đi vẽ quảng cáo kiếm sống vì bất đồng ý kiến với chương trình giảng dạy của trường. Giám đốc V. Tardieu đặc biệt quí trọng tài năng của Nguyễn Gia Trí, đích thân Tardieu phải cố thuyết phục để đưa ông về học lại, nhằm nghiên cứu và phát triển ngành sơn mài. Ngay trong trường, Nguyễn Gia Trí có xưởng vẽ riêng, hằng ngày Giám đốc Tardieu, Giáo sư Imguiberty đến xưởng họa đàm đạo với ông.

Sau khi tốt nghiệp trường Mỹ Thuật, Nguyễn Gia Trí cộng tác với nhóm Tự Lực Văn Đoàn, viết và vẽ cho báo Phong Hóa và Ngày Nay, bạn thân thiết của văn hào Nhất Linh. Ông cùng với Nguyễn Tường Tam thành lập Mặt Trân Quốc Gia Thống Nhất Toàn Quốc đấu tranh đòi Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam.

Ông cũng đã từng cùng với Trương Bảo Sơn thành lập chi bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng Hồng Kông, bị Pháp bắt và tra tấn dã man như dùng một vòng sắt đóng đai lên đầu, gây thương tích nặng. Ông là người hiền đức, khiêm tốn, và khoan dung. Đến năm 47 tuổi ông vẫn còn sống độc thân. Mẹ ông có ngỏ lời với bà Cát Tường là mong ước ông Trí lập gia đình trước khi cụ nhắm mắt. Bà Cát Tường giới thiệu cô em họ của mình tên Nguyễn Thị Kim với ông Trí và sau đó hôn lễ diễn ra nhanh chóng. Bà Kim nhỏ hơn Ông Trí hai mươi tuổi. Hai vợ chồng không con, chỉ có một đứa con nuôi.


Trước 1975, ông sống gần như ẩn cư ngay giữa cảnh Sài Gòn đô hội. Kẻ hậu sinh có tài như Trịnh Cung - thành viên của Hội Họa Sĩ Trẻ ở miền Nam, nhắc đến ông với giọng ngưỡng mộ: "Khoảng 30 năm, kể từ khi tôi vào đời đến nay chưa hề được thấy ông làm triển lãm ở các phòng triển lãm của thành phố, thế mà khi nhắc đến ông một cảm giác tôn kính ông như đã có từ bao giờ trong da thịt tôi...Ông chính là người đầu tiên đã làm mới tranh sơn mài, Cũng chỉ sử dụng vàng, đỏ, đen, vỏ trứng và sơn phủ như bất cứ một họa sĩ tranh sơn mài nào khác, thế mà ông đã dựng nên một thế giới hội họa rất sống động, kết qủa của sự phối thành từ hai trường phái phục hưng và hiện đại. Sư thành đạt này cũng có thể được coi như tương đương với kỳ công của Andres Ségovia - nhà thiên tài âm nhạc người Tây Ban Nha đã đưa cây đàn guitare dân gian lên địa vị một nhạc cụ hàn lâm." (5)


Sau 1975, những thay đổi phũ phàng ở miền Nam khiến ông hết muốn sáng tác, như bức tranh "Vườn Xuân Trung Nam Bắc" vẽ dở dang trước năm 1975 đến mãi vài năm cuối đời khi còn có sức mới hoàn tất! Bức tranh hiện đang trưng bày tại Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật TP/HCM. Ông qua đời ở nhà riêng tại Phú Nhuận hồi 10 giờ 30 đêm 20-6-1993, hưởng thọ 85 tuổi, để lại vợ và một con nuôi.


2) Mona Lisa Việt Nam:


Ông Paul Zetter, một nhà soạn nhạc người Anh ví bức tranh sơn dầu "Em Thúy" của họa sĩ Trần Văn Cẩn, như là bức tranh Mona Lisa của Leonardo da Vinci. Ông bị cám dỗ bởi sự kiêu hãnh thầm lặng của cô bé, qua đó ông cảm nhận được một cơn giông lớn sắp xẩy ra trong lịch sử Việt Nam mà thế hệ của cô bé phải đương đầu.

Bức tranh là nguồn hứng để Paul Zetter sáng tác "Điệu minuet cho Em Thúy". Bức tranh cũng ám ảnh ông đến nỗi khi có dịp qua Việt Nam, ông cố tìm cho được người mẫu của nó dù bức tranh đã vẽ trên nửa thế kỷ. Rất may, ông đã gặp em, bây giờ đã là Bà Thúy, 67 tuổi! (6)

Họa sĩ Trần Văn Cẩn vẽ Em Thúy, chân dung cô cháu, con người chị ruột năm ông 33 tuổi, tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Đông Dương, cùng khóa với Nguyễn Gia Trí. Đôi mắt tư lự của cô bé khoảng 8 tuổi là một thế giới đầy bí ẩn mà chỉ cô bé mới biết rõ. Bức tranh sống động khiến người xem phải tò mò tự hỏi trong đôi mắt ấy chứa đựng những gì?


T. V. Phê

(08/2006)

Tài liệu tham khảo:

(1) Đi thăm Nguyễn Gia Trí buổi đầu xuân, Phan Lạc Phúc, Thế Kỷ 21 số 189&190 (Xuân Ất Dậu), 2005.

(2) Nói chuyên với họa sĩ Rừng: hành trình 40 năm đến với mỹ thuật, Mấy nẻo đường của nghệ thuât & chữ nghĩa, Huỳnh Hữu Uỷ, Văn Nghệ, 1999.

(3) Người học trò của họa sĩ, Nguyễn Tường Thiết, Thế Kỷ 21 số 189&190 (Xuân Ất Dậu), 2005.

(4) Họa sĩ Nguyễn Gia Trí, Thái Tuấn, Tuyển tập tranh và tiểu luận, VAALA, 1996

(5) Nguyễn Gia Trí, Huỳnh Hữu Ủy, Thế Kỷ 21 số 189&190 (Xuân Ất Dậu), 2005.

(6) Mona Lisa Việt Nam, Hồ Tùng Nghiệp và Liên Hoa, Khởi Hành số 82, tháng 8-2003.


Đám Cưới Nhà Quê (Tranh sơn mài, Nguyễn Gia Trí):




- Chúng ta phải công nhận những sự thật sáng như ban ngày này: tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng, đều được tạo hóa ban ân những quyền không thể mất mà trong đó là đời sống, tự do và theo đuổi hạnh phúc. (Jefferson)

- Bất bình đẳng là điều duy nhất cấu tạo thành cái bất công. Nếu chúng ta phân tích tất cả cái bất công thông thường hay riêng biệt, chúng ta sẽ nhận rõ ràng tất cả đều do cái nền tảng bất bìng đẳng mà ra. (Benjamin Constant)

- Những công dân xứng đáng với bổn phận phải được ban thưởng bằng vinh dự chứ không thể bằng đặc quyền. (J. J. Rousseau)

- Đặc quyền nào cũng là sự xúc phạm đến tự do. (Diderot)



:: Giá tiền của những bức tranh (*):


1) Bình hoa mắt tiền nhất: 


Đó là bức tranh sơn dầu vẽ hoa hướng dương của Vincent Van Gogh (1853-1890) được công ty The Yasuda Fire and Marine Insurance Co. ở Nhật mua với giá 39.5 triệu mỹ kim trong dịp bán đấu giá tại Christie's vào năm 1987.

Họa sĩ Vicent van Gogh vẽ bức SunFlowers này vào khoảng tháng 8 năm 1888 lúc ông đang sống ở Arles, miền Nam nước Pháp.

Theo quan niệm riêng của tác giả, hoa hướng dương là biểu tượng cho ánh sáng và nắng ấm của vùng ông đang sống, còn mười bốn bông hoa trên nền vàng xanh nhạt là màu của sự lạc quan và hạnh phúc trong đời sống.

Van Gogh sinh tại Groot Zundert, Hà Lan, ngày 3-3-1853. Năm 1886 ông đến Paris, năm 1888 ông sống ở Arles, miền Nam nước Pháp. Nơi đây ông kết bạn với Paul Gauguin, và trong một cơn điên loạn, ông đã tìm cách giết bạn, rồi tự cắt tai mình. Lo sợ tai họa do những cơn điên loạn như thế tái diễn, Van Gogh tự kết liễu đời mình ngày 29-7-1890, mới có 37 tuổi. 

Tranh của Van Gogh có bức Hoa Diên Vĩ cao giá đến 53.9 triệu mỹ kim. Nhớ lại vào thời của ông, họa sĩ Émille Bernard từng tiết lộ một cách chua chát: "Tranh của Vincent Van Gogh được bó thành mười bức một bó bán đấu giá chỉ được 50 xu cho tới một đồng phật lăng (từ .35 cents tới .70 cents mỹ kim)"!!! (**) Nếu đúng như vậy thì thật là tội nghiệp cho những người hy sinh cả cuộc đời cho nghệ thuật!


2) Đĩa trái cây cao giá nhất:


Nhưng kinh khủng nhất là bức tranh tĩnh vật vẽ màn cửa, bình nước và trái cây (Still Life with Curtain, Jug and Compotier) của danh họa Paul Cézanne (1839-1906) đã có người mua với gía 60 triệu rưỡi mỹ kim trong cuộc bán đấu giá của Sotheby tại Manhattan.

Paul Cézanne sinh tại Aix-en-Provence, Pháp, ngày 19-1-1839, trong một gia đình làm chủ ngân hàng. Ông bắt đầu vẽ từ năm 20 tuổi, nhưng thời kỳ trước năm 1870, ông chỉ vẽ theo cảm hứng cá nhân mà không chú ý đến màu sắc.


Khi cộng tác với họa sĩ phái Ấn tượng là Camille Pissarro (1831-1903), mới giúp ông nhận thức được hiệu quả của màu sắc.

Ông có biệt tài về tranh tĩnh vật (vẽ Apples, Peaches, Curtain, Jug, Vase, Pitcher, Bottle, Compotier...), tranh chân dung (vẽ bà Cézane, Gustave Geffroy, Ambroise Vollard, tự họa ...), tranh phong cảnh lập thể vẽ quê hương ông (Le Château Noir, Mont Sainte Victoire...) và nhiều kiệt tác trong những năm sau cùng vẽ người tắm và người chơi bài như: Bathers, The Card Players.... Mãi đến gần cuối đời, tranh ông mới nỗi tiếng. Ông mất ngày 23-10-1906, thọ 67 tuổi.


3) Tình Mẫu Tử: 50 triệu mỹ kim:


Bức họa Maternité II (Tình Mẫu Tử II) do Paul Gauguin vẽ năm 1899 lúc ông ở đảo Tahiti, phía Nam Đại Tây Dương. Bức tranh tả một người mẹ trẻ đang ngồi cho con bú. Người mẫu là một cô gái Polysian 17 tuổi tên Pahura, chính là người tình của ông. Bức Maternité (I) đang trưng bày tại viện bảo tàng Hermitage Museum, thành phố St. Petersburg, Nga. Bức tranh có "cuộc đời" thật trôi nổi, giới "sử gia" hội họa tiết lộ: Sau khi Gauguin qua đời, toàn bộ gia tài của nhà danh họa được bán đấu giá tại Papeete, thủ đô Tahiti. Một sĩ quan hải quân Pháp đã mua được với giá 150 đồng phật lăng, sau đó bức tranh lần lượt lọt vào tay các nhà sưu tập: tỷ phú David Rockefeller, bà Barbara Piaseka Johnson, tổ hợp các nhà buôn tranh Nevill Keating Pictures, hoàng thân Jefri Bolkiah - em quốc vương Brunei. Hoàng thân "túng tiền" phải bán lại một phần bộ sưu tập của ông.


Cuộc đời Paul Gauguin (1848-1905) cũng đầy gian nan. Ông sinh tại Paris ngày 17-7-1848, cha là ký giả và mẹ là người Peru lai Pháp. Khởi đầu, ông là thủy thủ, sau về Paris làm môi giới chứng khoán rất thành công. Năm 26 tuổi ông bắt đầu vẽ vào những ngày cuối tuần.

Năm 35 tuổi, do lời khuyến khích của Camille Pissaro - họa sĩ nổi tiếng trường phái Ấn tượng đang gây sóng gió trong giới hội họa cổ điển, Gauguin bỏ nghề, ly thân cả vợ với 5 con để mẹ nuôi, và dành hết thời giờ cho hội họa.

Ông đứng vào hàng ngũ họa sĩ Ấn tượng và tham gia các cuộc triển lãm của trường phái này khoảng từ 1879 đến 1886.

Nhằm phản đối nền văn minh cơ khí mà ông cho là một "căn bệnh", năm 1887 ông lên tàu đi Panama và đảo Maritnique sống như người tiền sử.

Vì bị bệnh quá, lại trở về Pháp. Sau đó ông ở chung với Van Gogh tại Paris một thời gian ngắn, nhưng kết thúc thật bẽ bàng.

Năm 1888, ông và Émille Bernard (1868-1941) giới thiệu lý thuyết synthetist về nghệ thuật với bức tranh điển hình nhất của lý thuyết này là bức The Yellow Christ. Sau đó ông đến Tahiti sống trong hai năm. Năm 1893, trở về Pháp rồi lại đi Nam Đại Tây Dương vào năm 1895. Ông sống những năm cuối đời thật nghèo túng, bệnh hoạn, tuyệt vọng và chết tại đảo Hiva Oa thuộc quần đảo Marque sas Island.

Nghĩ đến giá cả bức tranh của ông bây giờ, nhớ lại thuở sinh thời vào năm 1899, lúc đã có tên tuổi trong giới họa sĩ cùng thời, nhưng với ba lần triển lãm tranh đều thất bại, khiến ông phải thốt lên: "tôi sẽ bán ngay mọi bức tranh của tôi với ai chịu trả chỉ 200 phật lăng thôi (128 mỹ kim thời đó)". Cũng chẳng có ai chịu mua! Thời sinh tiền thì bức cao giá nhất của ông là kiệt tác Where do we come from?, nhà buôn tranh Ambroise Vollard đã mua với giá 2 ngàn phật lăng (khoảng 1500 mỹ kim) vào năm 1902.

Bức tranh cuối cùng Breton Village in the Snow (hiện đang trưng bày tại viện bảo tàng Jeu de Paume Museum, Paris), họa sĩ vẽ trước khi nhắm mắt chỉ bán được 7 phật lăng, tương đương 5 mỹ kim!!! Nhưng cũng còn đỡ hơn tranh của Van Gogh một chút!

Trên đây là sơ lược về ba danh họa nỗi tiếng nhất của trường phái Hậu Ấn tượng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, chi phối cả hội họa Tây phương thời bấy giờ. Còn giá tranh của ông tổ trường phái hội họa lập thể (Picasso) thì sao?


4) Lương giờ cao nhất:



Họa phẩm Still Life With Tulips (Tĩnh Vật Với Hoa Uất Kim Hương) do Picasso vẽ từ năm 1932 với chân dung người tình của ông là Marie Thérèse Walter, bán đêm 9-5-2000 tại Christie's, Nữu Ước với giá 28.6 triệu mỹ kim. Picasso vẽ bức họa này chỉ trong vòng 2 giờ rưỡi, tính ra mỗi giờ làm việc của ông là 11 triệu mỹ kim!!!


Trong cuộc đấu giá này, có 4 bức tranh bán cao giá nhất (tổng cộng 72.9 triệu mỹ kim) lại cũng của Picasso.


5) "Giấc Mơ" đắt giá nhất:


Một buổi chiều Ba Lê lạnh giá, Pablo Picasso (1881 - 1974) chợt nhìn thấy, bên ngoài một cửa hàng khu Galleries Lafayette, bóng dáng nẩy nở của một thiếu nữ tóc vàng với cặp mắt thật sắc. Cô là thể hiện nguyên trinh của mẫu người phụ nữ trẻ thơ. Picasso bị thu hồn đi theo ....

Mới 17 tuổi, Marie Thérèse Walter chưa bao giờ nghe đến tên họa sĩ, lúc ấy đã 47 tuổi. Picasso dẫn cô tới một tiệm sách gần đấy, chỉ cho cô xem những quyển sách có in hình mình. Hai ngày sau, hoa sĩ dẫn cô bạn trẻ đi xem xi nê. Marie Thérèse trở thành người mẫu và người yêu của họa sĩ (khoảng thời gian từ 1927-1936).

Chỉ trong ngày chủ nhật 24-1-1932, Picasso đã vẽ xong The Dream. Bức họa vẽ Marie-Thérèse ngồi ngả trong ghế bành, đang đi vào giấc ngủ rất thỏa mãn! Vị trí của hai cánh tay và bàn tay thật độc đáo! Picasso nói rằng tấm tranh đó ca ngợi Tình yêu và Hạnh phúc của hai người.

Theo giới phê bình hội họa, đây là một trong những bức tranh lãng mạn và dâm tình nhất trong hội họa mới. Đã không đủ chỗ kê ghế ngồi trong phòng bán đấu gía tại Christie's - New York- năm 1997. Tất cả đều phải đứng. Người ta vỗ tay khi chiếc vồ đập xuống ở lời rao cuối cùng: 48.8 triệu Mỹ kim !!

Họa phẩm bán giá cao nhất của Picasso là: Pierrette Wedding: 51 triệu Mỹ kim! Bức tranh nổi tiếng nhất của ông là bức Guernica vẽ năm 1937 nhằm tố cáo cuộc ném bom của phát-xít Đức trong tháng 4-1937 vào Guernica, một vùng ở phía bắc Tây Ban Nha, quê hương ông.


Pablo Picasso nổi danh thiên tài, và có số "đào hoa"! Bảy người đàn bà đã chính thức đến với ông, người sống chung với ông ngắn nhất khoảng 4 năm (Marcelle Humbert từ 1911-1915) và lâu nhất là 20 năm (Jacqueline Roche từ 1953-1973).

Ông sống với Dora Maar, nhiếp ảnh gia siêu thực, trong 9 năm (1936-1944), vừa như người tình, vừa như người mẫu, trước khi bỏ nàng đi yêu Francoise Gilot, năm 1944. Ông từng nói, ông không thể hình dung Dora như thế nào, ngoài việc khóc lóc. Giới sinh hoạt nghệ thuật quên hẵn Dora Maar cho đến khi bà chết trong một bệnh viện ở Ba Lê hôm 16-7-1997, thọ 89 tuổi. Lúc ấy người ta mới khám phá ra bà còn giữ nguyên 10 tấm tranh Picasso vẽ bà, trong đó có bức Weeping Dora và bức Dora Maar and The Minotaur, một tấm tranh rất lớn, gợi dục và bạo lực, vẽ năm 1937.

Tranh Picasso bán đấu giá rất cao. Người ta thắc mắc: bà Maar không giàu, nhưng không thèm bán đi bức nào cả, không hiểu tại sao? Một kho tàng đã bị bỏ quên hay đó là những tặng vật vô giá liên quan đến những kỷ niệm riêng tư mà bà trân trọng lưu giữ!?


T. V. Phê

(06/2006)

Tài liệu tham khảo:

(*) Xem thêm: http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_most_expensive_paintings

(**) Khởi Hành số 25, tháng 11/1998; số 44, tháng 6/ 2000; số 47, tháng 9/ 2000; số 102, tháng 4-/2005. 


Where Do We Come From? (Paul Gauguin, 1897)





:: Người Mẫu Khỏa Thân:


1) Khi danh họa Tây Ban Nha Francisco de Goya (1746-1828) vẽ bức họa The Nude Maja (1800). Ðó chính là chân dung người yêu của ông - nàng công tước giòng họ quý tộc Anh, thì ông bị kết tội phạm pháp quả tang với lý do: vẽ người trần truồng là một hành động chống lại thượng đế, chống lại con người là tội đáng chết. Song vì kính trọng người yêu và kính trọng vẻ đẹp con người nói chung, Goya đã dũng cảm phản bác: "Thân thể trần truồng của đàn bà là tác phẩm tuyệt mỹ của tạo hóa, còn ý thức tà dâm về sự trần truồng ấy là sản phẩm của bản chất lưu manh".


2) Ngày nay tác phẩm khỏa thân đã có chỗ đứng trân trọng giữa những kiệt tác của nghệ thuật nhân loại. Vì vậy làm người mẫu khỏa thân trong thời hiên đại cũng là chuyện thường tình.Tuy vậy, ở Việt Nam không phải ai cũng xem việc trần truồng đứng làm mẫu là một nghề đứng đắn phục vụ cho nghệ thuật. Ngay chính đa số người mẫu nữ đã hành nghề rồi cũng không muốn người ngoài biết mình làm người mẫu khỏa thân.


3) Hình họa là môn học căn bản của hội họa và rất cần người mẫu để tác phẩm sống động. Các bài thực tập về chân dung hay điêu khắc đều yêu cầu có người mẫu khỏa thân. Ở Sài Gòn hiện nay có 6 trường cao đẳng, đại học có khoa Mỹ thuật: ÐH Mỹ thuật, ÐH Kiến trúc, ÐH Sư phạm, ÐH dân lập Văn Lang, ÐH Hồng Bàng, CÐ Văn hóa nghệ thuật mà trung bình sinh viên cần phải tiếp xúc người mẫu 16 giờ mỗi tuần.

Nhu cầu cao như thế nên nhiều trường đến tuyển người ở một số trung tâm tìm việc làm, nhưng một số thì bỏ ngang sau vài giờ làm mẫu, một số té xỉu vì không chịu đựng nổi (thử tưởng tượng phải ở một tư thế khỏa thân bất động khoảng 1 giờ dưới ánh đèn vàng nóng hực, mồ hôi chảy dài từ trán xuống cổ cho hàng chục cặp mắt ở nhiều góc độ khác nhau đang chòng chọc nhìn vào các bộ phận trên cơ thể mình để quan sát hoặc đo đạc!).


4) Tiêu chuẩn tuyển chọn là người mẫu cần có những đường nét, cơ bắp hiện rõ; yếu tố cao thấp, mập ốm, già trẻ còn tùy thuộc yêu cầu cụ thể của bài thực hành chứ không xét theo tiêu chuẩn số đo như người mẫu thời trang. Yêu cầu quan trọng nhất là người mẫu không được cục cựa nhiều vì sẽ phá hỏng những góc độ được bố trí sẵn của sinh viên, nôm na là phải chịu ... mỏi cho giỏi!

Hiện trường Ðại học Mỹ thuật có 30 người mẫu đang làm việc: 10 người có hợp đồng chính thức, được hưởng lương như công nhân viên của nhà trường, số còn lại là nghiệp dư, lãnh tiền theo giờ.


5) Nghề mẫu khỏa thân là một nghề đặc biệt, yêu cầu sức chịu đựng bền bĩ với một ý chí mạnh mẽ; nhưng thù lao hiện nay còn quá thấp: trung bình mỗi buổi làm mẫu (khoảng 4 - 5 tiết học) chỉ 40.000$VN cho người mẫu nam và gấp đôi cho người mẫu nữ. Như vậy đa số người mẫu phải làm thêm công việc khác mới đủ sống. Ðây cũng là một trong những nguyên nhân khó tìm người mẫu. 


Maja Khỏa thân, xem: www.artchive.com/atrchive/G/goya.html#images

Tài liệu tham khảo: Làm người mẫu khỏa thân, Hương Trà, Báo CA/TPHCM Xuân 2002. 


Brennus and His Loot, 1893 (Paul Jamin, 1853 - 1903):

(http://www.ocaiw.com/galleria_nudo/gallery.php?lang=it&author=457)




Cái cười ý nghĩa của Án Tử:


Cảnh Công nước Tề đi chơi núi Ngưu Sơn, trèo lên mặt thành, đứng ngắm rồi tràn nước mắt vừa khóc vừa nói:

- Nước ta đẹp quá chừng! Thật là sầm uất và thịnh vượng! Thế mà tuổi mỗi ngày một già, tiếc phải lìa đất nước mà chết. Giả sử con người được sống mãi, quả nhân quyết không bỏ nước Tề để đi nơi khác. 


Bọn quần thần xiểm nịnh thấy vua khóc cũng rống lên khóc theo và tâu rằng:

- Lũ hạ thần đội ơn vua có cơm rau mà ăn, có ngựa dở xe xấu mà đi; cũng còn chẳng muốn chết, huống chi là bệ hạ.

Một mình Án Tử đứng bên cạnh phá lên cười vang. Cảnh Công gạt nước mắt, ngoảnh lại hỏi Án Tử:

- Quả nhân hôm nay đi chơi thấy cảnh mà buồn, ai cũng cám cảnh khóc theo; cớ sao một mình nhà ngươi lại cười?


Án Tử thưa:

- Nếu người giỏi còn sống để giữ nước này thì Thái Công, Hoàn Công đã giữ mãi. Nếu người mạnh còn sống để giữ nước này thì Linh Công, Trang Công đã giữ mãi. Như vậy làm sao đến phiên bệ hạ, bệ hạ chắc đang mặc áo tơi, đội nón lá, ra đồng cày ruộng; rỗi đâu mà lo đến cái chết! Chỉ vì đời sống muôn loài có sinh có diệt, nên ngày nay bệ hạ mới có cơ hội làm vua; thế mà bệ hạ lại than khóc thì thật là bất nhân. Nay tôi thấy vua bất nhân, lại thấy bầy tôi xiểm nịnh cho nên tôi cười!




 

 

Nhan Vat

 

   
 

Nhân Vật

 

- Bùi Thị Minh Hằng (Vũ Đông Hà)

- "Lạc Lõng" Cậu Nho Sinh Người Mỹ Gốc Việt

(Thiên An)

- Thủ Bút Của Trần Trọng Kim - Thư Gửi Hoàng Xuân Hãn (Nguyễn Đức Toàn)

- Chú Hề Buồn Bã (Lê Hữu)

- Giải mã lãnh tụ: Một đóng góp quan trọng của Trần Đức Thảo (Đoàn Thanh Liêm)

- Vịn Câu Thơ Mà Đứng Dậy (Trần Trung Đạo)

- Bài Thơ Cho Đỗ Thị Minh Hạnh (Trần Trung Đạo)

- Ngõ Phất Lộc: Từ Nguyễn Hiến Lê đến Người Buôn Gió (Đoàn Thanh Liêm)

- Gió Bão Ngoại Giao Thời Thịnh Trần và Vị Sứ Thần Lỗi Lạc Đinh Củng Viên (Phạm Khắc Hàm)

- Sứ Thần Giang Văn Minh Không Làm Nhục Quốc Thể (Tạ Quốc Tuấn)

- Việt Dzũng, nghệ sĩ đấu tranh không tàn tật tâm hồn (Võ Đại Tôn)

- Để So Sánh Các Anh Hùng Trước Nguyễn Huệ với Nguyễn Huệ (Phạm Văn Sơn)

- Nelson Mandela, Quyền lực của sự tha thứ

(Nguyễn Hưng Quốc)

- Gia Đình Trưng Vương (Hoa Bằng)

- Bình Luận và Vịnh Nhị Trưng (Dương Bá Trạc)

- Trần Danh San, Tiếng hò khoan đã tắt

(Phan Nhật nam)

- Từ Rosa Parks đến Nguyễn Đắc Kiên (Đinh Từ Thức)

- Danh Tướng Thi Nhân Phạm Ngũ Lão (Tạ Quốc Tuấn)

- Cuộc Khởi Nghĩa của Hai Bà Trưng (Hà Mai Phương)

- Chiến Thắng Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền Năm 939 (Hà Mai Phương)

- Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà và Anh Hùng Đánh Tống-Bình Chiêm Lý Thường Kiệt (Lý Tế Xuyên)

- Lê Lợi, Nguyễn Trãi và Cuộc Cách Mệnh Lam Sơn

(Trần Ngọc Ninh)

- Phạm Ngũ Lão (Phan Kế Bính)

- Đặng Dung, Bậc Anh Hùng Lỡ Vận và bài thơ "Cảm Hoài" (Phạm Khắc Hàm)

- Sử Thi Về Hai Bà Trưng (Viên Linh)

- Ô cửa nhỏ của Thục Vy (Lê Hữu)

- Bà Lương Giết Giặc Minh Hạ Thành Cổ Lộng

(Chu Thiên)

- Hiểm họa từ Trung Quốc (T. V. Phê)

- Feb 1, 2003: Phi thuyền con thoi Columbia bị nổ tung (T. V. Phê)

- Chuyện trùng hợp lạ kỳ (T. V. Phê)

- Đạt Phan, người giễu hay nhất nước Mỹ năm 2003 (T. V. Phê)

- Dương Nguyệt Ánh góp phần chiến thắng tại A Phú Hãn (T. V. Phê)

- Người làm rạng danh tổ quốc: Mai Văn Hòa

(T. V. Phê)

- Ngôn ngữ thời Internet (T. V. Phê)

- Tiếng Việt lý thú (T. V. Phê)

- Tiệc đầu khỉ, cỗ đầu người (T. V. Phê)

- Nhạc võ Tây Sơn (T. V. Phê)

- Vua Quang Trung (T. V. Phê)

- Cảnh nghèo khó và bệnh tật của thi hào Nguyễn Du (T. V. Phê)

- Cỏ cây trong Truyện Kiều (T. V. Phê)

- Ngày giờ nàng Kiều bị bắt (T. V. Phê)

- Cái ghen của Hoạn Thư (T. V. Phê)

- Cù lao chín chữ (T. V. Phê)

- Mối tình của nữ sĩ Hồ Xuân Hương với Nguyễn Du (T. V. Phê)

- Áo dài Lemur: "thủy tổ" những chiếc áo dài ngày nay (T. V. Phê)

- Ca trù hồi sinh (T. V. Phê)

- Câu đối (T. V. Phê)

- Sáu luật về dấu hỏi ngã (T. V. Phê)

- Nước ta có Sử từ đời nào? (T. V. Phê)

- Dòng giống Tiên Rồng (T. V. Phê)

- Người Việt xấu xí?! (T. V. Phê)

- Người Chăm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam

(T. V. Phê)

- Không mới nhưng ... lạ (Minh Nguyệt)

- Ông tổ triết thuyết hiện sinh sống ra sao?

(T. V. Phê)

- Dũng khí của nhà văn (T. V. Phê)

- Nằm gai nếm mật (T. V. Phê)

- Chết vì một bài thơ (T. V. Phê)

- Ai công hầu, ai khanh tướng (T. V. Phê)

 

Phim Tài Liệu

 

L'exode du Nord Viet Nam

 

 

 
© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@hotmail.com)