1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      Thư viện Người Việt:
      NAM PHONG
      TRI TÂN
      THANH NGHỊ
      NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
       

       

    2. Anh Ngữ Hàn Lâm -4: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu And His Poem “Thề Non Nước” (Đàm Trung Pháp)

      25-9-2017 | HỌC TOÁN

      Anh Ngữ Hàn Lâm -4: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu And His Poem “Thề Non Nước”

       ĐÀM TRUNG PHÁP


          Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu
      (1889-1939)

      Tản Đà is the pen name of the poet Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939). It combines the name of a mountain, “Tản” and that of a river, “Đà” which are the two famous landmarks of his birthplace in North Vietnam. Born into a family of literati and mandarins, Tản Đà was a link between two important eras of Vietnamese literature – the writings of Confucian tradition of the nineteenth century and the writings under western influence in the early part of the twentieth century. A lifelong journalist, poet and writer, Tản Đà was the publisher of “Hữu Thanh Tạp Chí” and “An Nam Tạp Chí.” In addition, the two prestigious magazines of that time, “Đông Dương Tạp Chí” (edited by Nguyễn Văn Vĩnh) and “Nam Phong Tạp Chí” (edited by Phạm Quỳnh), sought his collaboration because of his great fame. As a poet, he was the author of such collections as “Khối Tình Con I, II, III” and “Tản Đà Xuân Sắc”; and as a prose writer, he published “Giấc Mộng Con I, II” and “Tản Đà Văn Tập.” Whether he worked for himself or for others, he remained faithful to his own philosophy of life, especially his theory of “thiên lương” (tentatively translated as “conscience” for lack of a better word). He urged people to nurture and develop this innate quality in order to serve life better. Such heartwarming aspirations pervade the poem “Thề Non Nước” (The Vow between Mountain and River) [1]. An English translation of the famous poem appears below, followed by its original in Vietnamese and annotations.


      “The mountain and the river had a solemn vow, [2]

      Yet the river kept flowing away without returning.

      Recalling their eternal pledge,

      The mountain stays idle while the river is away.

       

      Standing tall, it just watches and waits with impatience, [3]

      The extended wait has dried up its spring of tears.

      Its smattering of frail bones has worn out,

      Its cloud of hair is covered with snow and frost.

       

      The sun is setting in the west, [4]

      Revealing the mountain’s fading jade and gold.

      Tall mountain is still young,

      It misses the river, which may have forgotten it.

       

      Even though stone may wear down and water may dry up, [5]

      As long as mountain and river exist, their vow should endure.

      Tall mountain, do you know this yet?

      Carried to the sea, water now returns to its source as rain.

       

      Mountain and river shall oftentimes meet again,  [6]

      Thus, there is no reason for mountain to be so sad.

      Although river is still gone,

      With lush green mulberry fields flourishing, o mountain, perk up!

       

      Since they have pledged eternal vow to each other, [7]

      The bond between mountain and river shall never break.”.


      “Nước non nặng một lời thề,

      Nước đi, đi mãi, không về cùng non.

      Nhớ lời nguyện nước thề non,

      Nước đi chưa lại, non còn đứng không

       

      Non cao những ngóng cùng trông

      Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày.

      Xương mai một nắm hao gầy,

      Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.

       

      Trời tây ngã bóng tà dương,

      Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.

      Non cao tuổi vẫn chưa già,

      Non thời nhớ nước, nước mà quên non.

       

      Dù cho sông cạn đá mòn,

      Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa.

      Non cao đã biết hay chưa?

      Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.

       

      Nước non hội ngộ còn luôn,

      Bảo cho non chớ có buồn làm chi.

      Nước kia dù hãy còn đi,

      Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.

       

      Nghìn năm giao ước kết đôi,

      Non non nước nước không nguôi lời thề.”


      ANNOTATIONS:

      [1] “Mountain and river” (poetically rendered as “non nước”) also means “country” in Vietnamese. This poetic gem is cherished by the people, for it showed the poet’s extraordinary devotion to his native land, a theme he also expounded in other poems. In his “Vịnh bức dư đồ rách” (Ode to a torn map) he bitterly deplored the transformation of his once-splendid homeland into a “tattered and torn” country, symbolized by a map of a same condition: “Sao đến bây giờ rách tả tơi” (Why is it now tattered and torn). In his “Đêm tối” (Dark night), he asked himself, “Kiếm đâu cho thấy mặt anh hùng” (Where on earth will we find a hero) who would emancipate the country under the French yoke.

       

      “Thề non nước” (The vow between mountain and river) was not published separately; it was instead part of a story bearing the same title which related the poet’s romance with a songstress. The poet, like water in the river, kept flowing away while his lover was pining for his return. However, the poet never forgot the vow between them and indicated that he would come back. This pledge also implied the poet’s vow to his homeland – that he will return to “restore a torn map” and save a country fading under the sun.

       

      [2] The poem has a clear and tight “structure.” Presenting a sentimental drama, this opening stanza sets the “tone” for the poem. The remaining stanzas expound the pain of waiting by the mountain for the river, the explanation for the absence and the eventual return of the river, and the renewal of the vow between the mountain and the river.

       

      [3], [4] These two stanzas depict the pining of the mountain as it hopelessly awaits the river’s return. Tản Đà uses conventional, yet refined, terms to describe the lonesome mountain as well as the moral and physical deterioration of a woman gnawed by an extended wait. The terms “xương mai, hao gầy, tóc mây,” and the phrase “đã đầy tuyết sương,” albeit trite, elegantly describe her frail beauty. At the same time, the terms “mây, sương, tuyết” are all apt for describing a mountain landscape. The terms “vẻ ngọc” and “nét vàng” in the third stanza suggest that the woman’s good looks stay on despite the passing of time. The last verse of this stanza, “Non thời nhớ nước, nước mà quên non” is a passionate appeal from the mountain to the river. This heartfelt appeal will be matched by a categorically reassuring response from the river (please see annotation [7]).

       

      [5], [6] These two stanzas cover the river’s reiteration of the vow and the sharing of some uplifting news, based on a scientific explanation of the water cycle in nature – the eventual return of water in the form of rain is a certainty. Along with the uplifting news is the river’s calm consolation for the mountain and urging it to cheer up because they will meet again.


      [7] This couplet clinches the poem with a heartening renewal of the eternal vow between the mountain and the river. Many readers understand this vow as a sworn determination by Vietnamese patriots who fought to regain their country’s sovereignty. Thus, while the mountain symbolizes those who remained at home, the river stands for those who had to go far away to achieve this common goal.


      TỪ VỰNG QUAN TRỌNG (THEO THỨ TỰ XUẤT HIỆN):


      • stanza = nhóm câu được coi như đơn vị xây dựng trong một bài thơ, tương đương với chữ “paragraph” trong văn xuôi

      • literati = giới văn chương

      • mandarin = quan lại

      • confucian tradition = truyền thống nho học

      • prestigious = có uy tín

      • heartwarming = làm ấm lòng

      • aspiration = hoài bão

      • pervade = bao tỏa

      • solemn = long trọng

      • nurture = nuôi dưỡng

      • snow and frost = tuyết sương

      • endure = bền vững

      • lush green = xanh tốt

      • mulberry field = ruộng dâu hay “tang điền”

      • perk up = vui lên.


      [ĐTP 09-21-2017]

       

      Đàm Trung Pháp

      (Nguồn: diendantheky.net)




      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu And His Poem “Thề Non Nước” Đàm Trung Pháp Anh ngữ

      - Chinh Phụ Ngâm diễn nôm, một dịch phẩm thần kỳ Đàm Trung Pháp Biên khảo

      - Biện Pháp Tu Từ “LIKE” Đàm Trung Pháp Anh ngữ

      - Những Từ Viết Giống Nhau, Đọc Khác Nhau, Nghĩa Khác Nhau Đàm Trung Pháp Anh ngữ

      - Ngữ-Vựng Tiếng Việt của Giáo sư Trần Ngọc Ninh Đàm Trung Pháp Giới thiệu

      - Những Từ “Đồng Âm Dị Nghĩa” Đàm Trung Pháp Anh ngữ

      - Điểm sách: Hán Việt Tự Điển (Trần Trọng San & Trần Trọng Tuyên) Đàm Trung Pháp Giới thiệu

      - Evoking the spirits of those who perished at sea Đàm Trung Pháp Dịch thơ

    3. Bai Doc Them & Bai Tap Hinh

       

       

      Bài Đọc Thêm

       

      Việc Thành Lập Hệ Thống Thái Dương

      (Trần Hồng Văn)

      Thiên Chúa không chơi xúc xắc. Một sai lầm của Einstein (Nguyễn Hoài Vân)

      Thuyết Tương Đối Tổng Quát đã được 100 năm (Nguyễn Hoài Vân)

      Về Với Vũ Trụ Khác (Trần Hồng Văn)

      Albert Einstein, Nhà Bác Học Tị Nạn Chính Trị (Trà Nguyễn)

      Câu Chuyện Về Charles Darwin Và Thuyết Tiến Hóa (Trần Hồng Văn)

      Câu Chuyện Về Chất Phản Vật Chất (Trần Hồng Văn)

      Thời Gian (Hoàng Dung)

      Con số 5 (Nguyễn Xuân Vinh)

      Toán học (Hoàng Xuân Hãn)

      Con ong giỏi toán (Hoàng Xuân Hãn)

      Tôi và Toán học (Nguyễn Xuân Vinh)

      Định lý Fermat đã được làm sáng tỏ? (Hoàng Vũ)

      Ông Vua Toán Học (Thu Giang)

      Hàn Tín Điểm Binh (Hoàng Xuân Hãn)

      Lý Luận Thường Và Lý Luận Khoa Học

      (Hoàng Xuân Hãn)

      Bourbaki, Nhà Toán Học Của Thế Kỷ Hai Mươi (Nguyễn Xuân Vinh)

       

      Hình Học (Bài Học)

       

      Bất đẳng thức

      Hình bình hành

      Tứ giác

      Điểm và đường thẳng

      Tóm tắt định lý

       

      Hình Học (Bài Tập)

       

      Bài 1 - 25,   Bài 26 - 50,  Bài IOM

       

      Anh Ngữ

       

      Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu And His Poem “Thề Non Nước” (Đàm Trung Pháp)

      Biện Pháp Tu Từ “LIKE” (Đàm Trung Pháp)

      Những Từ Viết Giống Nhau, Đọc Khác Nhau, Nghĩa Khác Nhau (Đàm Trung Pháp)

      Những Từ “Đồng Âm Dị Nghĩa” (Đàm Trung Pháp)

       

      Đố Vui

       

       

      Link
       

      Liên Kết

      IMO
      Wolfram MathWorld
      The Math Forum
      Related Materials
      Komal
      MathLinks
      Cut-The-Knot

         Từ Điển Anh Việt

       

          

       


       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)