Head

 

 

Phu Nu Trong Dong Van Hien Viet Nam (Tran Lam Giang)
30-08-2012 | TIỂU LUẬN

Phụ Nữ Trong Dòng Văn Hiến Việt Nam

 TRẦN LAM GIANG

Tơ nhân sợi nghĩa, dây lưng trắng;
Dạ sắt lòng son, nét máu hồng.
(Câu Đối Quốc Sỹ PHAN BỘI CHÂU
Viết ở Miếu Thờ Bà ẤU TRIỆU)

Trong dòng văn-minh tiến-hóa của nhân loại, thân-phận nữ-giới gánh chịu nhiều bất-công, thiệt-thòi. Công-trình đóng góp cho cuộc sinh-tồn của phụ-nữ rất là to-tát, nhưng hằng-hà danh-tính họ bị chìm-đắm lãng quên, địa-vị họ bị nhìn là thứ-yếu trong xã-hội. Đệ tử đức Đại Từ Phụ Thích-Ca, các vị đạt quả Bồ-tát toàn là nam giới, trừ Long Nữ. Nàng trong một kiếp, tu đạo bỏ được nữ thân, hóa thành nam thân rồi đạt quả Bồ-tát (theo Đề-bà-đạt-Đa, phẩm 12 trong Diệu-pháp Liên-Hoa Kinh).


72 vị Hiền đệ-tử đức Vạn Thế Sư Biểu Trọng Ni đều là nam giới.

Các thánh Tông-đồ môn-dệ đức Ky-Tô, không một bóng quần-thoa.

Có thực trạng bi-đát ấy, không phải vì nhân-phẩm phụ-nữ thua kém giới mày râu mà chỉ vì ý-niệm trọng nam khinh nữ đã thành nền vững chắc, khó bề lay chuyển.


Hiếm-hoi có dân-tộc như dân-tộc Việt, uống nước nhớ nguồn, tôn-kính đấng Tạo-hóa vĩnh-hằng chí-công, thờ- phụng tổ-tiên, hiếu với đấng sinh-thành, đễ cùng anh chị em, yêu thương đồng-bào như tình máu mủ, tạo thành một nền đạo-đức nhân-bản bình-đẳng về ý-nghĩa của yếu-tính làm người, không phân-biệt nam và nữ:

"Trai mà chi, gái mà chi,

Ở cho có nghĩa, có nghì thì hơn"


Sử tích Rồng-tiên (1) cho thấy ý- niệm nam nữ bình đẳng đã có trong tim óc Việt tộc tự thủa ban-sơ lập-quốc: cần khai-khẩn đất nước, cha dẫn 50 con xuống miền Nam Hải, mẹ dẫn 50 con lên miền Sơn-lâm. Trách nhiệm và bổn phận đồng đều trước công-nghĩa.


Có thể có người cho rằng sử-tích Rồng Tiên là hoang-đường vu-khoát. Dù vậy cũng phải công-nhận rằng mọi người Việt qua từng thế-hệ nối tiếp, ai cũng biết và tuyệt-đại đa-số tin sử-sách ấy là gốc nguồn đích-thực hoặc bao-hàm ẩn-dụ về gốc nguồn đích-thực.

Để bảo-chủng sinh-tồn, phải phân- công thích-ứng. Nam sức-vóc, chịu-đựng gió sương, gánh-vác việc bên ngoài. Nữ nhu-hòa nhẫn-nại, gánh-vác việc bên trong. "Sao cho trong ấm thì ngoài mới yên", thành-ngữ quen thuộc này cho biết giá-trị trong, ngoài, tương-đồng cân- xứng, cao-quý như nhau, phải có đủ hai, thiếu một thì đời sống không còn hạnh-phúc.


Phân-công ngoài và trong cho nam và nữ chỉ có tính-cách ước-lệ chung chung, không phải là cái khung cứng ngắc. Cũng có thể có hạng đàn ông quét cửa dọn nhà, cũng có thể có bậc nữ-lưu tài ba lỗi-lạc. Sử sách còn ghi Hai Bà Trưng phất cờ nương-tử, lấy lại chủ quyền dân tộc. Bà Lê-Chân xông pha tên lửa đánh đuổi ngoại thù. Bà Triệu: "Tôi muốn cười cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá tràng-kình ở bể Đông, quét sạch bờ cõi, để cứu dân ra khỏi nơi đắm-đuối" và đã làm cho "Giặc Ngô mấy trận khiếp oai vua bà".

Rồi gần đây cô Bắc, cô Giang, bà Ấu Triệu (2) đã làm cho thực-dân Pháp đổ mồ-hôi hột, tay run họng súng. Nhà văn-học ái-quốc Sở-Cuồng Lê-Dư có ghi chép hành-trạng các bậc Anh-Thư liệt-nữ nước ta thành cuốn Nam Quốc Nữ Lưu. Cuốn này chỉ có thể biểu-trưng đôi chút. Hàng chục cuốn giá-trị như vậy cũng không ghi đủ được các bậc liệt nữ anh-hùng của nước ta.


Ngoài sách sử thành văn còn thấy tràn ngập trong văn-học dân-gian - với tục- ngữ, ca-dao, dân-ca, cổ-tích - như một rừng hồng ngát thơm công-lao điểm-tô sơn-hà, xây dựng văn-hiến, gìn vàng giữ ngọc lẽ sống tình người của người phụ nữ Việt Nam. Ngàn trang giấy viết cũng chưa đủ trọn. Chúng tôi ghi lại dưới đây chuyện các Hòn Vọng Phu dọc trên non nước ta. Tình-tiết các chuyện tuy có khác nhau, nhưng tất cả đều nhằm nói lên tấm-lòng tiết-liệt yêu chồng của người phụ nữ dòng giống Rồng Tiên.


HÒN VỌNG PHU


Dọc theo non nước ta có các Hòn Vọng Phu ở các tỉnh Lạng Sơn, Thanh Hóa, Bình Định, Khánh Hòa và Côn Sơn. Mỗi hòn có sự tích với những dị đồng. Nhưng tất cả đều cho thấy giá trị cao đẹp của người vợ trẻ hết lòng yêu chồng, chung thủy sắt son, bền gan chờ đợi cho đến hóa đá, như năm dạ nhớ không nguôi.


SỰ TÍCH HÒN VỌNG PHU Ở LẠNG SƠN:


Theo sách Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi: "Vọng Phu là tên núi ớ phía tây thành Lạng. Trên núi có một tảng đá nhô lên, trông xa như hình người quay lưng về phía Nam, quay mặt về phía Bắc. Tục truyền rằng ngày xưa ớ phủ Nam-Sách có người tên là Đậu Thao là tướng của Tiền Ngô Vương, đem quân chống giữ biên-giới phía Bắc. Vợ họ Tô tên Huệ thủ tiết 10 năm, dệt bức gấm hồi văn gửi cho chồng. Sau cùng với gia nô trèo lên ngọn núi Cô Sơn ở Lạng Sơn, ngóng chồng không thấy. Bèn gieo mình chết, thây hóa đá. Nhân vì chuyện này mà người sau đặt tên núi là Hòn Vọng Phu".


Ca dao có bài:

Con cò bay bổng bay cao,

Bay qua cửa bể bay vào Đồng Đăng

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh...


Sách Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi được ba vị danh nho cùng thời với ông là Nguyễn Thiên Túng viết lời tập chú, Nguyễn Thiên Tích viết lời cẩn ẩn và Lý Tử Tấn viết lời thông luận. Các nhà Nho uyên bác ròng rã nối đời, không một lời bình phẩm là có điềm sai, như vậy cũng đáng để cho đời nay tin cậy hơn chuyện kể về Đá Vọng Phu của một vài cây bút tân thời.


Một vài nhà biên-khảo văn-học của Đảng Cộng Sản Việt Nam phê bình Nguyễn Trãi, Nguyễn Thiên Túng, Nguyễn Thiên Tích, Lý Tử Tấn đã lầm chuyện Đậu Thao cùng Tô Thị của Tần thành chuyện Việt Nam! Lời đúng là lời phê bình nông cạn của những người làm công việc biên khảo văn-học không chịu khảo đính cặn kẽ.


Bài Chức Cẩm Hồi Văn của nàng Tô Thị hóa đá ở thành Lạng Sơn gồm 280 chữ, dệt gấm theo lối vòng vo như đường mê cung. Bài này được ông Ngô Thế Vinh, hiệu là Trúc Đường, người làng Bái Dương tỉnh Nam Định đỗ Tiến-sỹ năm kỷ sửu niên hiệu Minh Mệnh thứ 10, dịch thành thơ Nôm dưới thể song thất lục bát.


Theo sách Thú Vị Thi Tam Bách Thủ do Từ Nguyên tuyển chú, nhà xuất bản Cổ Tịch Thượng Hải ấn hành, thì bài Chức Cẩm Hồi Văn của nàng Tô Huệ bên Tầu gồm 841 chữ, không dệt theo lối vòng vo mê cung. Muốn đọc bài này, chỉ có thể đọc theo dọc, ngang, chéo, xuôi, ngược. Nghĩa là đọc theo đường thẳng. Có thể đọc thành 7958 bài thơ 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ và 7 chữ.


Hai bài thơ dệt gấm khác biệt, thêm vào đó: Nàng Tô Huệ của chuyện Tầu có chồng phạm tội bị đày, nhờ thơ vợ được vua cho về đoàn tụ. Nàng Tô Huệ của cổ tích nước ta có chồng làm tướng trấn giữ biên cương, mong chồng không được gặp, chết mà hóa đá. Như vậy, phải là hai chuyện khác biệt, không vay mượn hoặc lầm lẫn. Chỉ là 2 nàng trùng tên một cách ngẫu nhiên.


SỰ TÍCH HÒN VỌNG PHU Ở THANH HÓA:


Trên đỉnh núi Nhôi thuộc tỉnh Thanh Hóa có một khối đá hình người đàn bà bồng con. Theo lời truyền tụng dân gian: "Ngày xửa ngày xưa, có người vợ trẻ bồng con tiễn chồng đi đánh giặc tại đỉnh núi này. Người chồng đi không trở lại. Người chinh phụ bế con chờ chồng, mỏi mòn hóa đá vọng phu".


SỰ TÍCH HÒN VỌNG PHU Ở BÌNH ĐỊNH:


Trên đỉnh núi Bà, thuộc xã Cát Chánh, huyện Phù Cát có một tảng đá nhìn xa giống hình người đang ngồi, bên cạnh có tảng đá nhỏ hơn giống hình đứa bé. Người địa phương gọi là Hòn Vọng Phu. Dân gian lưu truyền về hòn vọng phu này như sau: "Ngày xửa ngày xưa có hai vợ chồng nông phu nghèo sinh được hai con. Đầu lòng là đứa con trai. Em nó, là gái.

Vợ chồng nghèo nắng mưa vất vả ngoài đồng. Ở nhà, đứa bé con trai thay cha mẹ coi sóc em nó.

Ngày kia kiếm được cây mía, hai vợ chồng trước khi ra ruộng làm công, dặn đứa con trai ở nhà róc mía, tiện cho em ăn. Thằng bé vâng lời. Chẳng may nhà nghèo, dao cùn cán lỏng. Khi nó đẵn mía, lưỡi dao sút cán, văng vào đầu em, máu chảy linh láng. Sợ hãi, nó bỏ nhà ra đi.


Lưu lạc tha-phương, rày đây mai đó. Khi thì ăn mày, lúc làm đầy tớ. Giần già lớn khôn, sức dài vai rộng, hiền lành thật thà. Nặng lòng thương nhớ cha mẹ cùng em, nhưng vì lưu lạc từ thủa ấu thơ, quên mất đường về làng cũ. Đành ôm lòng đau xót, mặc cho dòng đời đưa đẩy. Lần kia dừng chân làm mướn ở một làng chài ven biển Bình Định. Được một gia đình ngư phủ nhận làm con nuôi. Vốn tính siêng năng, hiền hòa ngay thẳng, anh ta được cha mẹ nuôi thương như con đẻ, rồi cưới vợ cho. Người vợ tính nết nhu mì, thương chồng rất mực. Hai vợ chồng có được một đứa con trai, gia đình càng thêm hạnh phúc đầm ấm.


Một hôm rảnh việc, chải đầu cho vợ, thấy vết sẹo dài, mới hỏi nguyên do. Người vợ đem chuyện ngày xưa ra kể. Nàng lại nghẹn ngào sa lệ nhớ mẹ thương cha nay đã ra người thiên cổ, xót anh ruột thịt, không biết giờ đây lưu lạc phương nào. Người chồng nghe chuyện, quặn đau day dứt, choáng váng dằn vặt trong lòng, lệ sa tầm tã. Người vợ không hiểu, tưởng chồng cảm động vì thân phận mình, mỉm cười gạt lệ ru con.


Hôm sau như thường lệ, chàng dong thuyền ra biển, nói là đi đánh cá. Nhưng chàng đi mãi không về. Chờ mong mòn mỏi, người vợ bồng con lên núi nhìn ra biển cũ ngóng chồng. Gió sương lạnh lẽo, cả hai mẹ con chờ mãi, chờ mãi, rồi hóa đá. Dân địa phương, do tích ấy, gọi là Đá Vọng Phu.


SỰ TÍCH HÒN VỌNG PHU Ở KHÁNH HÒA:


Tương tự như sự tích Hòn Vọng Phu ở Bình Định, chỉ khác vài chi tiết nhỏ: Vợ chồng tiều phu sinh được một gái đầu lòng, đứa em là con trai.


SỰ TÍCH HÒN VỌNG PHU Ở CÔN SƠN:


Về sự tích này, tôi còn mù mờ, chép lại ở đậy câu chuyện do thi-sỹ Bàng Bá Lân ghi:


"Lúc ở Côn Sơn, Chúa Nguyễn Ánh có một phi tần là Lê Thị Răm, được một con trai tên là Cải. Chúa sai Cải theo Giám-mục d'Adran sang Pháp cầu viện. Không hiểu sao Cải nhất định không chịu đi (có lẽ không tán thành việc dâng đất cầu viện ngoại bang). Quá giận vì Cải dám cãi mệnh, Chúa Nguyễn sai ném xuống biển. Còn phi tần mẹ Cải bị bỏ ở lại Côn Sơn và bị một tên Biện làm nhục. Bà uất ức buồn phiền mà chết và hóa đá. Do đó có câu mà đồng-bào miền Nam thường hát như sau:


Gió đưa cây cải về trời

Rau răm ở lại chịu lời đắng cay


Hiện ở cửa vịnh Tây-Nam Côn-sơn còn phiến đá phảng-phất giống hình người đứng mà dân-chúng địa-phương gọi là Hòn Vọng Phu" (3)


Lịch-sử nhân-loại gắn liền với lịch-sử chiến-tranh. Chiến-tranh nào cũng bất-nhân và bất-chính, trừ chiến- đấu để đòi lại quyền sống và quyền làm người.

Hai nghìn năm trước, hiền-triết phương Đông là Mạnh Tử đã viết: "Tranh địa dĩ chiến, sát nhân dinh dã; tranh thành dĩ chiến, sát nhân dinh thành. Thử sở vị suất thổ nhi thực nhân nhục, tội bất dung ư tử" nghĩa là: "Tranh đất đánh nhau, giết người đầy nội; tranh thành trì đánh nhu, giết người đầy thành. Như thế tức là cho đất ăn thịt người. Bọn này tội chết, không tha".

Ngặt, cái bọn mà thầy Mạnh kết tội chết ấy thời nào cũng không thiếu!


Kể từ ngày có lịch-sử nhân-loại, chưa một quốc-gia nào phải gánh chịu chiến-tranh do ngoại nhân đem đến lớn và lâu dài như quốc-gia Việt Nam.

Kể từ ngày phát minh khoa-học vật chất, vũ khí tân kỳ được chế-tạo một cách hợm-hĩnh, chưa một dân-tộc nào phải đưa lưng hứng bom đạn nhiều như dân-tộc Việt Nam.

Kể từ ngày họa Cộng-Sản duy vật bành-trướng như nạn dịch-hạch khổng lồ, cho đến bây giờ tàn-tạ vì lạc-hậu và ngược nhân-tính, chưa người dân nước nào phải chịu cảnh đau đớn trong lòng như người dân nước Việt Nam.


Sống quen cảnh khốn khó thiếu thốn, mắt quen nhìn súng đạn sát nhân, óc ngày đêm đối phó với mưu gian ác độc, vậy mà thiếu nhi Việt Nam vẫn lớn khôn lương-thiện, khiến cho trong nước Việt Cộng đang trên đà suy-thoái hiển- nhiên; khiến cho ngoài nước, Cộng-đồng Việt ty nạn bền-chặt vững-vàng, cùng nhân-loại chen vai thích-cánh, tiến về tương-lai xán-lạn. Một ngày quang-phục không xa.


Ngẫm rằng bên ngoài gia đình cha anh lao đao khốn đốn, trong bếp lửa gia đình con em vẫn được thành-nhân là nhờ cậy hoàn-toàn nơi các bậc từ-mẫu, các bà chị đảm, các cô em đôn-hậu.

Công-lao phụ-nữ trong dòng Văn hiến Việt thiệt là to-tát.


Cô gái Việt-Nam ơi

Nếu chữ hy-sinh có ở đời

Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực

Cho lòng cô gái Việt-Nam tươi.


Cám ơn thi-sỹ Hồ Dzếnh.


Trần Lam Giang

(Khởi Hành số 77, tháng 3.2003)



(l) Lạc Long Quân tên là Sùng Lãm, dòng dõi Thần Nông, là người tài-ba lỗi-lạc, đức độ cao quý, ví như Rồng giữa đám đàn ông.

Bà Âu-Cơ nết-na đức-hạnh, nhan-sắc tuyệt trần, ví như Tiên giữa đám đàn bà.

2) Bà Ấu Triệu: bà tên là Lê Thị Đàn, người Xã Thế-lại Thượng, phủ Thừa-Thiên. Năm Canh-Tuất triều vua Duy Tân (1910) vì hoạt-động Cách Mạng (Việt Nam Quang Phục Hội) bị giặc Pháp bắt giam, tra tấn rất là tàn-nhẫn. Bà không thèm trả lời bất cứ câu hỏi nào của giặc. Ngày 16 tháng 3 năm Canh-Tuất (1910), để giữ bí mật cho Việt Nam Quang-phục Hội, bà đã tự-tuẫn bằng giải thắt lưng trắng. Nhờ vậy, nhiều đồng-chí của bà không bị sa vào lưới giặc. Cụ Phan Bội Châu đặt tên thụy bà là Ấu Triệu (bà Triệu nhỏ). Sau có đền thờ bà trong khu vườn nhà cụ Phan ở dốc Bến Ngự.

(3) Về chuyện Hòn Vọng Phu này chúng tôi chú-thích để ghi hai chữ "còn ngờ" bởi lẽ nhiều người khẳng-định đã tìm thấy mộ bà Lê Thị Răm ở Hòn Cau.


 

 

Tiểu Luận

 

 

Tiểu Luận

 

Thái Độ "Kẻ Sĩ" Triều Quang Trung (Nguyễn Đăng Thục)

Tiếng cười của dân Việt (Võ Thu Tịnh)

Mười "Chiến-Lược Chắc Ăn" để giúp người Việt thăng-hoa Anh-ngữ (Ðàm Trung Pháp)

Giá Trị Triết Học Tôn Giáo Trong Truyện Kiều (Thích Thiên Ân)

Cái Bánh Chưng Và Nền Văn Hiến Việt Nam (Trần Ngọc Ninh)

Vũ Trụ Nhân Sinh Quan Trong Văn Hóa Hiện Đại (Thạch Trung Giả)

Kỹ Thuật Và Cảm Xúc Trong Văn Chương (Thạch Trung Giả)

Tinh Thần Và Thể Chế Dân Chủ (Nguyễn Sỹ Tế)

Những Dòng Nghệ Thuật (Thạch Trung Giả)

Nguồn Gốc, Bản Thể, Công Dụng Của Nghệ Thuật (Thạch Trung Giả)

Trần Trọng Kim với Việt Nam Sử Lược (Trần Anh Tuấn)

Tuyết Xưa (Trần Ngọc Ninh)

Truyền Thống Văn Hóa Dân Tộc Việt Nam Trong Văn Chương Đối Liễn (Trần Công Định)

Năm Ngọ Nói Chuyện Ngựa (T. V. Phê)

Mùa Xuân Với Những Quả Dưa Dân Tộc (Thái Văn Kiểm)

Gương Mặt Của Dân Lạc Việt Qua Ngôn Ngữ Việt Nam (Bình Nguyên Lộc)

Sự Đồng Thanh Tương Ứng Giữa Đức Phật, các Đạo Gia và các Khoa Học Gia (Nguyễn Hữu Hiệu)

Nền Giáo Dục Của Chế Độ Việt Nam Cộng Hòa: Sự Tiếc Nuối Vô Bờ Bến (Thiết Trượng)

Tổng Quát về Văn Hóa (Duyên Hạc)

Nền Quốc Học Việt Nam và Vai Trò Đại Học Trong Tương Lai (Trần Hồng Châu)

Tài liệu về Quần Đảo Hoàng Sa & Trường Sa (Nguyễn Khắc Kham)

Trận Đống Đa với chính nghĩa của dân tộc (Nguyễn Đăng Thục)

Lá Rụng Về Cội (Phạm Ngọc Lũy)

Người Nữ Như Hiền Mẫu (Nguyễn Hữu Hiệu)

Ngôn Ngữ Ngậm Ngùi (Lê Hữu)

Nọ Bức Dư Đồ Thử Đứng Coi (Thái Văn Kiểm)

Dân Tộc Là Gì (Trần Ngọc Ninh)

Phụ Nữ Trong Dòng Văn Hiến Việt Nam (Trần Lam Giang)

Cá Tính Của Dân Tộc Việt Nam (Nguyễn Sỹ Tế)

Đêm Giao Thừa Nhớ Mẹ (Trần Mạnh Hảo)

Văn Hóa Người Việt Qua Tên Họ (Nguyễn Vy Khanh)

Tinh thần giáo dục trong văn hóa Việt Nam (Nguyễn Sỹ Tế)

Đẹp là gì? (Phạm Quỳnh)

Một bông hồng cho cha (Võ Hồng)

Giá trị gia đình trong văn hóa Việt Nam (Nguyễn Sỹ Tế)

Gió đưa cành trúc la đà (Vũ Quốc Thúc)

Dân tộc tính (Nguyễn Đăng Thục)

Bờm Có Cái Quạt Mo (Vĩnh Như)

Huyền Trân Công Chúa (T. V. Phê)

Một cây làm chẳng nên non (Nguyễn Viết Hồng)

Nụ Cười Việt (Doãn Quốc Sỹ)

Đi tìm dân tộc tính trong cổ tích Việt Nam (Doãn Quốc Sỹ)

Mẹ Yêu Muôn Đời (Ngọc Khánh)

 

 

 
© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)