Head

 

 

Nhung Hat Dau Biet Nhay (Lam Thanh Huyen, Pham Hue dich)

Những Hạt Đậu Biết Nhảy


Tại biên giới của tỉnh Tây Khương sát với Tây Tạng có một bà lão sống cô độc, chồng và đứa con trai duy nhất của bà đã qua đời. Bà sống nhờ một thửa đất nhỏ trồng ngũ cốc. Vì cuộc đời đã trải qua nhiều gian truân từ nhỏ, bà lão cảm thấy nghiệp chướng trong người rất nặng nên đã cố công tìm hỏi những người chung quanh phương pháp chuộc tội để cầu xin cho tâm hồn được bình yên. Cuối cùng thì bà được một người hành hương tốt bụng truyền cho một câu thần chú của Quán Thế Âm Bồ Tát. Câu thần chú gồm có sáu chữ:


Om Ma Ni Bay May Hôm (1)


được gọi là Lục Tự Ðại Minh Chú, có thể dùng để giải trừ những nghiệp chướng. Tội nghiệp cho bà già thôn dã ít học nên không biết chữ, trên đường về nhà bà lẩm bẩm cố học thuộc lòng, nhưng đã nhớ lộn cách phát âm trở thành:        

Om Ma Ni Bay May Khuya.


Ðể khích lệ cho việc đọc câu kinh sám hối này, bà bày ra hai cái chén, một cái chén không, còn một cái thì để đầy những hạt đậu nành. Mỗi khi đọc xong một câu thần chú, bà nhặt một hạt đậu từ trong chén đầy bỏ sang cái chén không, đến khi cái chén không đã chứa đầy đậu thì bà làm ngược trở lại. Bà lão đã không ngừng nghỉ, thành tâm tụng niệm suốt 30 năm.

Lòng thành kính của bà đã ứng hiện, cho nên sau này những hạt đậu không còn cần đến bàn tay của bà nhặt lấy, cứ một câu thần chú vừa được phát âm ra thì một hạt đậu tự động nhảy sang cái chén bên cạnh. Bà lão thấy những hạt đậu tự động nhảy nhót, cộng hưởng với âm điệu của câu thần chú thì biết rằng sự tu hành đã đúng đường và giai đoạn sám hối sắp sửa chấm dứt cho nên bà càng vui vẻ tụng niệm hăng say hơn nữa!


Một hôm có vị cao tăng từ Tây Tạng vân du qua đó, khi đi ngang qua chiếc lều tranh lụp sụp của bà, nhà sư thấy có ánh hào quang tỏa ra rực rỡ. Vị cao tăng lấy làm kinh ngạc, ông nghĩ rằng bên trong chiếc lều tranh thế nào cũng có một vị chân tu đắc đạo. Ông vội vã ghé vào thăm hỏi. Bà lão lấy làm vui mừng khi thấy vị cao tăng đến thăm, bà quì xuống đảnh lễ, mà miệng thì vẫn cứ tiếp tục lẩm bẩm câu thần chú Om ma ni bay may khuya. Vị cao tăng lấy làm ngạc nhiên vì không hiểu ánh hào quang rực rỡ mà ông thấy phía bên ngoài phát xuất từ nơi đâu? Ông lần lần hỏi thăm:

- Chẳng hay nữ thí chủ tu luyện bao nhiêu năm rồi? Ở đây còn có ai khác nữa không?

- Thưa ngài, ở đây chỉ có một mình tôi sống cô độc hơn ba mươi năm nay. Bà lão đáp.

- Thật tội nghiệp, bà ở một mình chắc buồn lắm nhỉ?

- Không đâu, tuy chỉ ở một mình nhưng hàng ngày tôi tu hành và tụng kinh sám hối để kiếp sau có thể hưởng được nhiều phúc đức của kiếp này, nhờ vậy mà tôi không cảm thấy buồn khổ. Nhất là từ lúc một người hảo tâm chỉ cho cách tu luyện thì tôi càng có can đảm để sống hơn.

- Bà đang tu luyện kinh sách nào vậy?

- Ồ, tôi không biết chữ, cho nên chỉ tụng niệm duy nhất một câu thần chú Om Ma Ni Bay May Khuya.

Nhà sư thở dài tiếc nuối:

- Bà lão ơi, bà đã đọc sai câu thần chú đó rồi, phải phát âm là: Om Ma Ni Bay May Hôm mới đúng.

Ðến lúc này thì bà lão mới biết là đã đọc sai câu thần chú hơn ba mươi năm. Bà rất đau buồn vì sự nhầm lẫn trọng đại này, như vậy thì công trình 30 năm tụng niệm coi như xe cát biển đông. Tuy nhiên bà cũng cảm ơn sự cải chính của nhà sư:

- Dù sao thì ngài cũng đã sửa cho kịp lúc, bằng không thì tôi còn tiếp tục sai mà không biết cho đến bao giờ mới điều chỉnh cho đúng được.


Nhà sư từ giã bà lão để tiếp tục con đường truyền đạo của ông. Bà lão lại tiếp tục công việc tụng niệm của bà mà lần này với câu thần chú mới Om Ma Ni Bay May Hôm. Thế nhưng tâm tư của bà còn hỗn độn vì sự việc vừa rồi cho nên ý chí của bà không được tập trung. Mỗi câu thần chú của bà đã không còn làm cho những hạt đậu hứng khởi nhảy sang cái chén bên cạnh như lúc trước. Bà lão vừa tụng niệm mà nước mắt cứ tuông rơi, bà thầm tiếc cho công trình tu luyện hơn ba mươi năm như trôi theo dòng nước vì đã đọc sai câu thần chú.

Nhà sư đi được một đỗi xa, ông ngoái đầu nhìn lại thì thấy căn nhà của bà lão không còn hào quang chói sáng. Bây giờ túp lều tranh hiện hình dột nát mà lại âm u buồn bã. Nhà sư giật mình và nghĩ rằng chính ông đã làm hại người Phật tử này không còn tập trung được tư tưởng như lúc trước.


Ông vội vã trở lại túp lều tranh và nói với bà lão rằng:

- Lúc nãy ta chỉ đùa với bà thôi, câu thần chú của bà tụng mới thật là đúng.

- Nhưng tại sao sư phụ lại dối gạt tôi như vậy?

- Ta muốn thử xem lòng thành kính của bà đối với Tam Bảo (2) như thế nào vậy thôi. Từ nay về sau, bà cứ tiếp tục tụng niệm y như cũ là phải phép rồi.

- Cám ơn Phật, vậy mà con cứ tưởng rằng công lao 30 năm tụng niệm đã trôi theo dòng nước, đa tạ sư phụ chỉ điểm.

Sau khi nhà sư ra đi, bà lão lại tiếp tục công việc tụng niệm, mỗi một câu Om Ma Ni Bay May Khuya được niệm ra thì tâm hồn bà rộn rã tươi vui và một hạt đậu tự động nhảy sang cái chén bên cạnh.

Nhà sư đi đến đỉnh núi, ông ngoái đầu nhìn trở lại thì thấy hào quang phát ra từ túp lều tranh của bà lão đã làm sáng rực cả một góc trời! (3)



(1) Câu thần chú trên đây đã được phiên âm ra Việt ngữ là Án Ma Ni Bát Mê Hồng. Ðại ý có nghĩa: "Cầu xin tự tâm thanh tịnh, Liên Hoa Phật nở rộ trong lòng". Người ta luyện câu thần chú này như một phương thức rèn luyện nội công thiền định. 


(2) Phật Pháp Tăng gọi chung là Tam Bảo. Phật tượng trưng cho từ bi chánh nghĩa. Pháp là lời của Phật dạy hay còn được ghi chép lại thành kinh điển. Tăng là người tu hành, có nhiệm vụ diễn dịch và giảng dạy những ý nghĩa trong kinh điển cho tín đồ.


(3) Câu chuyện này nói lên rằng: Âm điệu của thần chú tuy rất quan trọng, thế nhưng lòng thành kính, sự tín ngưỡng, và ý chí chân thành trong lúc niệm thần chú còn quan trọng hơn nhiều. Triết lý nhà Phật luôn cho rằng khi muốn tâm hồn đạt được sự thanh tịnh, tất cả phải do sự tự phát từ đáy lòng của con người mà ra. Khi bà lão tụng Lục Tự Thần Chú, tâm địa của bà trong sạch, quang minh lỗi lạc như bầu trời không vướng bận một áng mây, vì vậy mà cách phát âm đúng hay sai của câu thần chú lúc đó không còn là một yếu tố quan trọng.


Lâm Thanh Huyền

(Những Hạt Ðậu Biết Nhảy)
Phạm Huê dịch



 

 

Truyen

 

Truyện

 

Hà Nội uống như thế ấy (Thế Giang)

Không phải tại em (Trần Yên Hòa)

Hồi Sinh (Viên Linh)

Thầm Lặng (Doãn Kim Khánh)

Người Tù Thiền (Trà Đoá)

Sẹo Tháng Tư (Trương Đình Phượng)

Duyên (Trần Yên Hòa)

Ba tôi, người đánh máy mướn (Đoàn Xuân Thu)

Mẹ Và Con (Ngọc Linh)

Quán Cà Phê Ngoại Thành (Hoàng Ngọc Hiển)

Ông già Noel và chú lùn Số Một (Lê Hữu)

Những Điều Chúa Thương (Huy Trâm)

Ông Già Noel Là Mẹ (Ngọc Ánh)

Một Cái Chết (Vũ Trọng Phụng)

Qua Cầu (Trần Yên Hòa)

Cát Lệ Lan (Phạm Hảo)

Đêm Vu Lan Trên Đảo Galang (Liên Hương)

Người Lính Già Trên Chuyến Tàu Đêm (Nguyên Nhung)

Người Quân Tử (Linh Bảo)

Chuyện Cổ Tích Cuối Thế Kỷ 20 (Quan Dương)


Truyện Đạo

 

Im Lặng Của Thiền Sư (Phan Trang Hy)

Kể Lại Vài Giai Thoại Trong Tập Vào Thiền

 (Doãn Quốc Sỹ)

Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp (Hồ Hữu Tường)

Sợi Tơ Nhện

   (Akutagawa Ryùnosuke, Nguyễn Văn Thực dịch)

Những Hạt Ðậu Biết Nhảy

   (Lâm Thanh Huyền, Phạm Huệ dịch)

Mẹ Quán Thế Âm

   (A. Ryùnosuke, Lâm T. Huyền, Phạm Huệ dịch)

Maria Quán Thế Âm

   (Lâm Thanh Huyền, Phạm Huệ dịch)

 
   

Phim VN trước 1975

 

(Thẩm Thúy Hằng-Kiều Chinh-ThanhNga-BạchTuyết)

 

- Chiếc Bóng Bên Đường   - Nàng (1970)

- Người Cô Đơn (1972)    - Xa Lộ Không Đèn

- Bão Tình (1972) - Sóng Tình (1972)

- Chúng Tôi Muốn Sống (1956)

- Trường Tôi (1973) - Nắng Chiều (1973)

- Giỡn Mặt Tử Thần (1975)

- Năm Vua Hề Về Làng (1974)

- Tứ Quái Sài Gòn  - Những Giọt Sương Khuya

- Như Hạt Mưa Sa 1 - Như Hạt Mưa Sa 2

- Như Hạt Mưa Sa 3 - Như Hạt Mưa Sa 4

- Vượt Sóng

 

 

 
© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)