Head

 

 

Nguyen Du (Index)

NGUYỄN DU (1765 - 1820)


1. Dòng dõi, quê quán


Nguyễn Du thuộc về một gia đình khoa hoạn nổi danh ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh về thời Lê mạt. Trước Nguyễn Du, sáu bảy thế hệ viễn tổ đã từng đỗ đạt làm quan. Đến thân phụ là Nguyễn Nghiễm đậu Nhị giáp tiến sĩ, làm đến chức Đại tư đồ, tước Xuân quận công. Ông này sinh hạ mười tám con trai. Người con trưởng là Nguyễn Khản đỗ Tam giáp tiến sĩ, làm đến chức Tham tụng (đời chúa Trịnh Khải). Người con thứ hai là Nguyễn Điều đậu Hương cống, từng làm trấn thủ Sơn tây. Nguyễn Du đứng hàng thứ bảy. Ông là con một bà thứ thất người Đông Ngàn (Bắc Ninh), sinh ra năm Cảnh Hưng 26 (1765), hai năm trước khi chúa Trịnh Doanh từ trần để quyền lại cho Trịnh Sâm. Nghiên cứu việc ra đời của bậc thi hào tương lai, nhà văn học sử thường ưa ghi nhận điều này: Ông thác sinh ở đất Hồng lĩnh, Lam giang là nơi "địa linh nhân kiệt" mẹ lại quê ở Bắc Ninh là đất phong nhã, hợp với giòng máu anh tuấn của cha đã tạo nên một con người thông minh, đa cảm hào hùng. Con người ấy lại sinh ra đúng vào một lúc để chứng kiến bao sự bể dâu của đất nước.


2.Quãng đời tiền Nguyễn


Năm ông lên 9 tuổi, cuộc chiến tranh với miền Nam tái phát, chính thân phụ phải theo lệnh Trịnh Sâm phụ lực tướng Hoàng Ngũ Phúc đem quân vào lấy Phú Xuân (1774). Những ngày thơ ấu đó có lẽ ông đều sống và học tập ở Thăng Long. Năm ông 17 tuổi (1782), Trịnh Sâm chết, sau đó là loạn Kiêu Binh. Kiêu Binh từng kéo đến phá nhà anh ruột ông là Tham tụng Nguyễn Khản, làm cho ông này phải bỏ chạy lên Sơn Tây với em là Nguyễn Điều. Đất Bắc đã rối loạn lắm. Tuy vậy, còn thì giờ để ông sửa soạn thi Hương và năm 19 tuổi (1784) đậu tam trường. Hai năm nữa thì Tây Sơn ra Bắc. Tình hình khi ấy có lẽ đã khá khẩn trương. Nguyễn Du theo con đường của nhiều tử đệ công khanh thời ấy đã nhảy vào nghề võ, làm thủ hiệu (tựa như lãnh binh) ở Thái Nguyên. Năm 1786, họ Trịnh đổ. Năm 1789, Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ ba dứt ngôi nhà Lê. Nguyễn Du, khi đó vẫn ở Thái Nguyên, mạnh bạo chọn con đường của ông: đánh Tây phục Lê.


Không kịp theo vua Chiêu Thống sang Tàu, ông lẻn về quê vợ ở Thái Bình, cùng người anh vợ là Đoàn Nguyên Tuấn tụ hợp dân binh mưu cuộc khởi nghĩa nhưng bị dẹp tan ngay. Khi ấy vua Quang Trung đã lên ngôi vững vàng ở đất Bắc, song ở miền Nam, Tây Sơn thua to, Nguyễn Ánh đã lấy lại được đất Gia Định. Nguyễn Du thất bại ở Quỳnh côi mới nẩy ý nghĩ lẻn vào Thanh Nghệ, toan tìm đường vô Nam, mượn sức chúa Nguyễn chống lại Tây Sơn. Ông đi đến Vinh thì bị ngăn lại và cầm tù một thời gian. Sau nhờ viên Trấn thủ Tây Sơn ở Nghệ An (Thân quận công) là người quen biết của một anh ông (Nguyễn Nhĩ) nên ông được tha. Sau đó ông trở về làng, sống trong thiếu thốn và chán nản, thường tiêu khiển bằng ngao du săn bắn, khắp vùng Hồng Lĩnh thường chỗ nào cũng có vết chân, tự hiệu là "Hồng Sơn liệp hộ".


3. Quãng đời dưới Nguyễn


Năm 1802, Nguyễn Ánh thống nhất Nam Bắc, xuống chiếu chiêu dụng các cựu thần nhà Lê, các tử đệ cố gia có khoa danh. Nguyễn Du 38 tuổi ở trong số được tân triều vời. Ông ra ứng chiếu. Thoạt đầu ông được bổ tri huyện Phụ dực, ít lâu sau thăng tri phủ Thường tín. Năm Gia Long 3 (1806) ông cáo bệnh về nhà, được một tháng lại bị triệu ra, lĩnh chức Đông các đại học sĩ. Năm Gia Long 8 (1809) bổ làm Cai bạ (Bố chính) Quảng bình. Năm Gia Long 12 (1813) thăng Cần chính Đại học sĩ, sung chức chánh sứ sang Tàu. Đến khi về được thăng Lễ bộ Hữu tham tri. Năm Minh Mạng 1 (1820) lại có chỉ sai ông đi sứ Tàu nữa, nhưng chưa kịp đi thì mất, ngay tại kinh đô, thọ 56 tuổi.

Hai câu thơ nôm của Nguyễn Du trong lòng một
chiếc dĩa Tàu (*)

4. Văn nghiệp


Nền nếp văn chương lại bẩm tính thông tuệ, nên sự học của ông sớm vững chắc và uyên bác. Lại thác sinh vào nơi phú quí ăn chơi, nên con người tài hoa cũng luyện thành từ tấm bé, rất sành các nghề cầm kỳ thi họa. Nhất là nghề thơ càng là sở trường. Thời Nguyễn sơ, người Tàu nói về thi gia nước ta thường khen "An nam ngũ tuyệt", trong số có Nguyễn Du. Thơ Hán của ông để lại tương truyền có:

- Thanh Hiên tiền hậu thi tập

- Nam trung tạp ngâm

- Bắc hành thi tập.


Đặc biệt ông lại có tài về quốc âm. Cũng là do ảnh hưởng của thời đại (thời Lê mạt văn nôm phát triển). Và ảnh hưởng của trong nhà nữa. Nguyễn Nghiễm từng được biết với bài phú Khổng tử mộng Chu công, Nguyễn Thiện nổi danh với Hoa Tiên ký. Nguyễn Huy Hổ có Mai đình mộng ký.

Ông Hoàng Xuân Hãn đã nhìn ra ở đó sự xuất hiện của tất cả một văn phái quốc âm. Riêng với Nguyễn Du, nay hiện còn lại:

- Bài thác lời trai phường nón

- Bài văn tế sống Trường lưu nhị nữ

- Bài văn cúng Thập loại chúng sinh hay Chiêu hồn ca

- Truyện Kiều hay Đoạn trường tân thanh.


Bài thứ nhất (48 câu) để tạ lòng một cô phường vải, bài thứ hai (98 câu) tỏ nỗi uất hận vì mối tình đầu với hai cô gái phường vải khác, đều là những áng văn tuổi trẻ của Nguyễn Du làm ra khoảng 20 tuổi đầy khí vị tình ái lãng mạn, nghệ thuật câu lục bát chưa được vững vàng, chỉ là những bước sơ tập của một thi tài. Hai áng văn sau xứng danh kiệt tác, chúng ta sẽ để ý nghiên cứu, nhất là truyện Đoạn trường tân thanh.

Phạm Thế Ngũ

(Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên II,
Đại Nam xuất bản tại Hoa Kỳ, không đề năm)


Chú thích:

(*) Nhiều sách kể rằng Nguyễn Du khi sang sứ Tàu có ghé thăm một lò chế đồ sứ. Chủ nhân xin ông vài chữ để đề vào một kiểu đĩa mai hạc. Ông viết cho 2 câu thơ nôm trên (Nghêu ngao vui thú yên hà, Mai là bạn cũ hạc là người quen). Đĩa này sau bán sang ta, hiện còn lưu lại ở viện Bảo tàng Khải Định (Hình rút trong B.A.V.H. 1929).


 

 

Link (Nguyen Du)

 

Bài viết về Nguyễn Du

 

NGUYỄN DU ĐI SỨ TRÊN QUÊ HƯƠNG LÝ BẠCH: «Đường Trung Hoa Sâu Hiểm, Quanh Co Giống Lòng Người- Trung Tín Thảy Không Nhờ Cậy Được» (Phạm Trọng Chánh)

Một bài Văn tế của một nhân vật tiểu thuyết cho một nhân vật tiểu thuyết: Văn Kim Trọng tế Thúy Kiều… (Nguyễn Văn Sâm)

NGUYỄN DU (1765 - 1820) (Phạm Thế Ngũ)

Bảng Niên Biểu Nguyễn Du (Trần Ngọc Ninh)

Truyện Kim Vân Kiều của Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

Thơ Trong Truyện Kiều (Trần Ngọc Ninh)

Đọc Lại Truyện Kiều Để Yêu Thêm Tiếng Việt (Đàm Trung Pháp)

  Tủ sách Talawas:

Chân dung Nguyễn Du (Nhiều tác giả)

Nguyễn Du, nghệ thuật như một chiến thắng (Đặng Tiến)

Tạp chí VĂN, số đặc biệt tưởng niệm Nguyễn Du

 

Tác phẩm

 

Truyện Kiều

Bắc hành thi tập

Chiêu hồn ca

Long thành cầm giả ca

Trang thơ (Ngâm Kiều)

 

 

 

Bài Viết về Văn Học
 

Bài viết về Văn Học

 

- Nguyễn Đình Toàn (Võ Phiến)

- Thử Tìm Hiểu Ý Tưởng Của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương Trong Bài "Đọc Lại Người Xưa: Tr (Trần Từ Mai)

- Thành Tôn, nhà thơ... ‘sống đẹp’ (Du Tử Lê)

- Thiếp trong khung cửa (Trùng Dương)

- Giáo Sư Trần Ngọc Ninh ra mắt 3 cuốn sách dạy tiếng Việt cho trẻ em (Quốc Dũng)

- Nghĩ Về Thơ Biểu Cảm Và Thơ Biện Luận (Qua Thi Phẩm của Thành Tôn) (Trần Văn Nam)

- Điểm sách: Hán Việt Tự Điển (Trần Trọng San & Trần Trọng Tuyên) (Đàm Trung Pháp)

- Tuệ Sỹ, viễn mộng mấy khung trời

(Nguyễn Mạnh Trinh)

- Cung Trầm Tưởng, Sự Thăng Hoa (Nguyễn Đức Tùng)

- Ý kiến về một bài trên Học Xá (Viên Linh)

- Nửa Đêm Chợt Nhớ Bài Thơ Cũ (Nguyễn Dương Quang)

- Khởi Hành Trong Trí Nhớ Hoang Vu (Nguyễn Lệ Uyên)

- Số Báo Cuối Cùng (Tưởng Năng Tiến)

- Những câu chuyện Di Tản của nhà văn Tiểu Tử

(Tường An)

- Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam (Viên Linh)

  Giai Thoại Văn Học

Giai Thoại Văn Học

 

Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

Quả Báo (T. V. Phê)

Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

 

Tác phẩm Văn Học

 

Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

        Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

Sách Xưa (Quán Ven Đường)

Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

  (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

Van Hoc

 

 

Tác Giả

 

Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

  Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

  Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

  Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

  Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

  Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

 (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Du Tử Lê,  Dương Nghiễm Mậu,  Hà Thượng Nhân,  Hàn Mặc Tử,  Hoài Khanh,  Hoàng Khởi Phong,  Hoàng Ngọc Hiển,  Hoàng Xuân Sơn,  Huỳnh Hữu Ủy,  Khoa Hữu,  Lâm Chương,  Lâm Hảo Dũng,  Lâm Vị Thủy,  Lê Hữu,  Lê Văn Trung,  Luân Hoán,  Mặc Đỗ,  Mai Thảo,  Ngô Nguyên Nghiễm,  Nguyễn Âu Hồng,  Nguyễn Bắc Sơn,  Nguyễn Lệ Uyên,  Nguyễn Mạnh Côn,  Nguyễn Ngọc Tư,  Nguyễn Phan Thịnh,  Nguyên Sa,  Nguyễn Tất Nhiên,  Nguyễn Thị Hoàng,  Nguyễn Thị Thanh Bình,  Nguyễn Thị Thuỵ Vũ,  Nguyễn Văn Sâm,  Nguyễn Vỹ,  Nguyễn Vy Khanh,  Nguyễn Xuân Hoàng,  Nguyễn Xuân Thiệp,  Nguyễn Đình Toàn,  Nguyễn Đức Sơn,  Nhật Tiến,  Nhất Tuấn,  Phạm Cao Hoàng,  Phạm Ngọc Lư,  Phạm Phú Minh,  Phan Lạc Phúc,  Phan Nhật Nam,  Phan Trang Hy,  Phùng Cung,  Phùng Thăng,  Sơn Nam,  Tâm Thanh,  TchyA,  Thái Văn Kiểm,  Thanh Nam,  Thanh Tâm Tuyền,  Thành Tôn,  Thảo Ca,  Tiểu Tử,  Tô Thùy Yên,  Trần Hoài Thư,  Trần Mộng Tú,  Trần Phù Thế,  Trần Thúc Vũ,  Trần Tuấn Kiệt,  Trần Văn Nam,  Trần Yên Hòa,  Trịnh Y Thư,  Từ Thế Mộng,  Tuệ Sỹ,  Viên Linh,  Võ Phiến,  Vũ Hữu Định,  Vũ Khắc Khoan,  Xuân Thao,  Xuân Vũ,  Y Uyên,  Đặng Phú Phong,  Đào Anh Dũng,  Đỗ Quyên,  

 
 

 

 

© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)