Head

 

Dong Tho Chinh Khi Viet nam (Viet Than)
09-12-2012 | VĂN HỌC

Dòng Thơ Chính Khí Việt Nam

 VIỆT THẦN

Chưa khi nào trong nước nhiều người làm thơ đến thế, một hiện tượng đặc
biệt hơn các thời đại, triều đại trước. Một nhà giáo dạy môn Xã hội học thốt
lên: "Từ lâu tôi đã bỏ dạy học, chỉ làm thơ chơi mà thôi..."


     Tướng, Sĩ bàn việc nước trong truyện tranh Lịch sử
của Bảo Vân (không rõ tên họa sĩ). Nguồn: Khởi Hành

Người làm thơ suốt đời đi tìm cho mình một thi vị ở đời. Cuộc sống này, thi vị này, tiên thiên nó là một nguồn cảm hứng thoát tục, như người đời xưa không ham bả lợi danh và quyền thế. Họ rất bình dị, sống không xu thời cũng không tùy thời. Họ cũng không để cho mình thành một triết gia có hệ thống tư tưởng hay một đạo gia sống bo bo giữ cái lý tuyệt đối của mình.


Họ làm thơ và chỉ làm thơ chơi, đơn giản thế thôi, tâm hồn hài hòa cùng vạn hữu. Tiếng thơ đó bỗng nhiên có lúc huyền diệu mông lung, có lúc gay gắt như những nhát gươm linh chém vào mạch nước thời gian làm lay động cỏ lau và bầy cá đang lượn lờ bơi lội.


Thơ bỗng dưng là kết tinh của khối tình cảm con người, thi sĩ cảm hứng trước diễn biến của sắc màu âm thanh, của cuộc sống thời đại và bứt phá mọi xiềng xích đen tối chung quanh, của mọi lề thói dung tục và đầy tham vọng, mọi tư duy thô thiển và dối trá lừa lọc. Lúc đó nói theo thời đại này, tiếng thơ nổi giận và dấy lên điệu phản kháng, chống lại kẻ thống trị, cùm xích nó.


Chính khí vừa là tinh thần dân tộc Việt, vừa là điều thiêng liêng của dân tộc, điềm lành của quốc gia xã hội.


Tương truyền đời Lê Hiếu Tôn (1740) thường có tàn vàng hiện lên ở triều thiên, có rồng đen từ trên trời quanh co hiện xuống, người dân ra xem thấy mường tượng mây vẩy rồng. Nhiều linh tích xuất hiện luôn. Dưới đời Lý và Lê, mỗi khi đầu canh năm xuất quân, tướng sĩ hội thề thì rước sắc thần để chứng giám cuộc lễ. (*). Nội dung lời thề là trung quân ái quốc thương dân và tạo điều tốt điều lành cho quốc gia xã hội. Đó là nét điển hình của văn hóa và chính thống giáo Thần đạo Việt Nam.

Cho nên quan Thái phó triều Lê nhân có làm bài thơ như sau:


Non Đài chầu lại nước bao vây

Chung đúc anh linh tại chốn này

Bầu dốc trên đàn mưa tưới khắp

Trống khua trời thẳm giặc tan bay

Bia rùa, triện đá ngàn sương biếc

Trát phượng, niêm vàng chói nắng gay

Kim cổ, cuộc cờ bao xóa đổi

Lẫy lừng chính khí nước non dầy.

NGUYỄN VĂN KHẢI

(Nguyên Đăng Thục, "Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam")


Chính khí là nguồn cảm hứng, là hào khí hào hùng bất khuất của người dân yêu lẽ phải, thương nước thương nòi. Đó cũng là cái "Thời Trời, Đất lợi lại Người hòa" mà nên. Lúc đất nước suy vong, nhiễu nhương tan tác để Phan Thanh Giản phải viết tiếp:


Thời Trời Đất lợi lại Người hòa

Cám cảnh ngồi coi chẳng nói ra!


Riêng một danh sĩ là Hoàng Quang vào đời Lê mạt là thời tối tăm của lịch sử dân tộc, trong Hoài Nam Khúc có câu: "Sau thời giá lạnh ắt có mùa xuân ấm / Sau thời loạn ly ắt có thời hòa bình." (sđd)


Đó là niềm tin về lẽ tồn vong và lẽ tuần hoàn xoay vòng trôn ốc của thế cuộc. Chính khí luôn luôn bàng bạc khắp nơi qua thi ca, văn chương của kẻ sĩ. Trong thời thực dân, Tản Đà, đơn độc khốn khó vẫn tin tưởng vào Tình Xuân bất tận, tinh thần và chính khí bất diệt.


Xuân bất tận, trời cho có mãi

Mảnh gương trong đứng lại với tình

Trăm năm ta lánh cõi trần

Nghìn năm mình giữ tinh thần chớ phai.


Tinh thần đó trong tiếng thơ của Tản Đà, người anh cả của giòng thơ chính khí hiện đại, mở đầu cho biết bao nét hào hoa phóng khoáng bất khuất cho tinh thần người Việt trước cảnh đời bất nghĩa bất trung, loạn thần tặc tử đầy đường từ đó đến nay. Thơ của muôn dân nói lên lời trước bạo ngược bất công xã hội.


Chưa khi nào trong nước nhiều người làm thơ đến thế, một hiện tượng đặc biệt hơn các thời đại, triều đại trước. Một nhà giáo dạy môn xã hội học thốt lên: Từ lâu tôi đã bỏ dạy học, chỉ làm thơ chơi mà thôi. Và với muôn vàn người làm thơ chung quanh, ông nói: Đó là vì tâm trí bị ẩn uất quá. bị cùm kẹp quá phát thành tiếng nói, tiếng than, tiếng thét, tiếng sắt, tiếng đồng phản kháng qua thơ. Muôn người Việt đang làm thơ, cũng trước hết là giải tỏa bớt sự căng thẳng của tinh thần, trở thành một phong trào văn hóa mãnh liệt. Đó là một cuộc đấu tranh giữa con người trước thực tại, trước mọi áp bức, khống chế bạo tàn và ngu dân độc trị.


Thơ cũng song song với các nhà tôn giáo văn hóa. Tinh thần càng bị trị, càng duy lý, duy vật nặng nề cùm gông chừng nào thì tiếng vọng tâm linh càng bức thiết càng dậy cao, lớp sóng tâm linh đó càng thâm-mật hơn. Chúng ta đừng vội khen chê họ làm thơ hay hay dở, chỉ biết họ làm thơ khắp mọi nơi để giải tỏa cái ý hướng hay khát vọng tự do của họ trong bốn bề toàn loại "văn hóa độc hại của tuyên truyền mỵ dân" lôi kéo và làm ngu dân để mưu thống trị càng lâu, bóc lột càng nhiều càng tốt. Và rồi họ viết ra năm ba vần điệu để tinh giàn bớt nỗi uất khí của một kiếp nô dịch xu thời khó xử. Làm thơ để xả bớt cái không khí u mê ám chướng bất đồng, một cách thoát xiếng xích nô lệ tinh thần.


Nhưng trong thời loạn, cái xử thế của bậc anh hùng nghĩa sĩ thì tiếng thơ lại bao la dằng dặc và nghĩa khí bốc lên thành mây bão, thành lửa rực, sấm sét mà u hoài, cùng u uất mênh mông vô tận hơn như kẻ sĩ đời Trần:


Thế sự du du nại lão hà

Vô cùng thiên địa nhập hàm ca

Thời lai đồ điếu thành công dị

Sự khứ anh hùng ẩm hận đa

Trí chúa hữu hoài phù địa trục

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà

Quốc thù vị phục đầu tiên bạch

Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma.

(ĐẶNG DUNG, Thuật hoài)


Việc đời bối rối tuổi già vay

Trời đất vô cùng một cuộc say

Bần tiện gặp thời lên cũng dễ

Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay

Vai khiêng trái đất mong phò chúa

Giáp gột sông trời khó vạch mây

Thù trả chưa xong đầu đã bạc

Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.

(TRẦN TRỌNG KIM dịch) (**)


Và rồi cha con Đặng Tất, Đặng Dung đã trầm mình giữa biển Đông khi quân Tàu bắt đưa về Trung quốc. Theo lịch sử, giòng thơ chính khí đã định hình và truyền lại cho hậu thế. Thơ đã trở thành cứu cánh cho con người trong thời thế và trong xã hội rồi vậy.


Trong ngày muộn trong đêm thâu, vô vàn người dân Việt đang âm thầm, đang ngâm thơ như những đạo âm binh kêu rên rền rĩ có ai hiểu thấu. Tại sao họ phải tìm cách giải thoát bằng thơ ca, hiểu để có một đôi lúc rùng mình sởn gáy, để biết rằng một thế lực tinh thần đang trỗi dậy khắp đất nước nổi lên đòi đất, đòi tự do, đòi quyền sống làm người.


Cái thi vị của thi ca bây giờ là cái vị đắng cay, uất hận nghẹn ngào xông lên từ ruộng đồng, sông núi bị trùm phủ tư tưởng phóng thể, nô lệ hóa con người, đòi trả lại cái chân lý thuần nhiên tinh khiết cho cuộc đời, cho dân chúng vì cuồng vọng của kẻ cuồng tín theo dị thuyết quên hết cả giống nòi là dòng tộc Văn Lang thuở xưa kia.


Trước đây người nông dân than trời trách đất vì khí hậu đổi thay, mùa màng thất bát nên trông đợi:


Trông trời trông đất trông mây

Trông mưa trông gió trông ngày trông đêm

Trông cho chân cứng đá mềm

Trời êm bể nặng mới yên tấm lòng


Bây giờ trời đất luôn bị khuấy động, di dịch, cướp bóc để dễ thống trị. Dân như cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, dân trong chảo dầu của bọn ngu dốt.

Cái thời hắc ám đó trước đây khi nhà Lê vừa đánh tan giặc Minh, triều đình và bọn công thần địa vị nổi lên như chòm ong. Lũ ruồi nhặng đó đã gây cho nhà thơ khai quốc công thần một nỗi u uất trong cô đơn cùng cực:


Chiếc thuyền lơ lửng bên sông

Biết đem tâm sự ngỏ cùng ai hay

Chắc chi thiên hạ đời nay

Mà đem non nước làm rầy chiêm bao

Đã buồn về trận mưa rào

Lại đau về nỗi ào ào gió đông

Mây trôi nước chảy xuôi dòng

Chiếc thuyền hờ hững bên sông một mình.

(NGUYỄN TRÃI, Tự thán, theo Văn Đàn Bảo Giám, quyển III, ti. 133)


Từ nỗi cô đơn bất hợp tác, ông trở về Lệ Chi Viên ở Côn Sơn và cuối cùng chịu cái án Thị Lộ đến tru di tam tộc. Cũng ở trong cảnh xô bồ hỗn độn thời Lê mạt, Nguyễn sơ, Phạm Thái đem gươm trừ loạn tặc, thất bại để trở thành nhà tu hành ngồi viết Sơ Kính Tân Trang và những bài thơ Chính Khí tuyệt vời:


Năm bảy năm nay cứ loạn ly

Cảm thương thân phận nhỡ qua thì

Ba mươi tuổi lẻ là bao tá

Năm sáu đời vua thật chóng ghê

Một tập thơ sầu ngâm sảng sảng

Vài nai rượu kếch ních tì tì

Chết về tiên bụt cho xong kiếp

Đù ỏa trần gian sống mãi chi


Ông từng nổi tiếng với hai câu thơ:

Công hầu khanh tướng trong thiên hạ

Rót lại chưa đầy mắt mỹ nhân.


Khúc Vịnh Tây Hồ phú của ông để lại mối buồn thiên cổ lụy vì sóng tình của mỹ nhân Trương Quỳnh Như như một thất bại của cuộc đời.


Thời nhà Nguyễn về sau, Tú Xương cũng đã kêu lên với bọn sĩ phu co đầu rút cổ không còn một chút liêm sĩ và nghĩa khí gì trước cảnh quốc phá gia vong: Sĩ khí co đầu gà thấy cáo

Biết rằng lũ cáo độc ác vô song nhưng Cao Bá Quát với ngọn bút lông cũng tung hoành nổi loạn. Cuối cùng trước khi bị tử hình ông cười:


Ba hồi trống giục mồ cha kiếp

Một phát gươm đưa bỏ mẹ đời.


hay khi trong tù ngục vì chống lại một triều đại tham tàn đàn áp nhân dân, ông viết:


Một chiếc cùm lim chân có đế

Ba vòng xích sắt bước thời vương.


hay chạnh lòng tưởng nước nhớ non như Nguyễn Khuyến khắc khoải bơ vơ:


Khắc khoải sầu đưa giọng lẳng lơ

Đấy hồn Thục đế thác bao giờ

Năm canh máu chảy đêm hè vắng

Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.

(Cuốc kêu cảm hứng)


hay hoài vọng mơ tưởng như Tú Xương tong bài Lạc Đường


Một mình đứng giữa quãng chơ vơ

Có gặp ai không để đợi chờ


Và lại chua xót như Nguyễn Khuyến với ông Phỗng Đá


Ông đứng làm chi mãi thế ông

Trơ trơ như đá vững như đồng

Giữ gìn non nước cho ai đó

Dâu bể cuộc đời có biết không?


Khi quân Pháp đánh thành Hà Nội, quan án sát chạy trốn, quan đề đốc cũng bỏ chạy luôn, nên có bài thơ của Ba Giai Giễu Quan Đề như sau:


Nhắc câu Thái lĩnh với hồng mao

Chí khí quan đề khẳng khái sao

Thắt cổ chân lê buông xuống đất

Trẫm mình đầu ngóc nghển lên cao

Sờ lưng thuốc độc rơi đâu mất

Lấy hốt làm gươm thích chẳng vào

Tứ bất tử rồi ngơ ngẩn mãi

Hỏi thăm quan Án chạy nơi nào


Cảnh lầm than của đất nước đen tối vô cùng, nhiều người vào chùa tụng kinh quên đời, những nhà thơ vô danh từng viết ra lời ta thán trong bài Xuất Thế sau đây, có người nói là của nhà sư nữ ở chùa Non Nước, em gái vua Minh Mệnh:


Thế sự nhìn xem rối cuộc cờ

Càng nhìn càng ngắm lại càng dơ

Đánh tan tục niệm hồi chuông sớm

Gõ vỡ trần tâm, tiếng mõ trưa

Chu tử ngán mùi nên ấm vải

Đỉnh chung lợm giọng hóa chay ưa

Lên đàn cứu khổ, toan quay lại

Bể ái trông ra, nước đục lờ.


Chu tử là sắc đỏ và tía, ý nói sự vinh hoa phú quý, có thể nói đây cũng là một vần điệu chính khí trước cảnh điêu linh của lịch sử thời Pháp thuộc của bậc nữ lưu đầy ý thức.


Những bài thơ vịnh của cụ Nguyễn Đình Chiểu, lục bát Lục Vân Tiên có câu mà người nông dân Nam bộ ngày nay hay đọc lên trước bọn cướp:


Bớ kia cái đảng côn đồ

Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân


Cái thú thi vị là dù không làm được thơ, người ta cũng sính thơ dù đọc thơ Lục Vân Tiên, Lục Súc Tranh Công của người xưa hay thơ của Tản Đà: "Nước đi ra bể lại mưa về nguồn." Thơ của Thế Lữ trong cái ý nghĩa Hổ Nhớ Rừng: Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt, thơ của Truy Phong đang được diễn lại ở các câu:


Dân ngu vì bị làm ngu

Đễ dân làm ngựa làm trâu suốt đời

(Một thế kỷ mấy vần thơ)


Và để người ta hồi tưởng lại với Phạm Giật Đức:


Em tôi lên Bắc từ năm trước

Tin vắn đưa về đi dân công

Gánh gạo sang Tàu không trở lại

Vắng nó hoang thêm những ruộng đồng

(Đường sang khu chiến)


Những Chính Khí Ca khi Hà thành thất thủ: Thất kinh thành Hoàng Diệu ngã trên thây. Rồi cả dân tộc lủi thủi như em bé tìm thức ăn:


Em bé lên sáu tuổi

Lủi thủi tìm thức ăn

Bố cường hào nợ máu

Trả nợ trước nhân dân.

(Hoàng Cầm)


Những Phan Khôi, Hữu Loan, Phùng Quán, Quang Dũng, Phùng Cung, Tạ Hữu Thiện, cả Dào Duy Anh và Trần Đức Thảo... của thời Nhân Văn Giai Phẩm nghĩa khí ngất trời.


Ngày nay, việc sùng bái cá nhân, thần thánh hóa lãnh tụ sau thời gian thất điên bát đảo vẫn trỗi dậy không ngưng. Ở Tân An, dân nghèo cùng cực, vùng tràn ngập lúa gạo mà hằng ngày phải ăn cơm nửa buổi với trái bần chua chát. Chiến lược bần cùng hóa dân chúng vẫn đang tiếp diễn, che đậy bởi cái hào nhoáng vô lương của văn minh đô thị mới. Thi ca chính khí ngày càng phát triển tràn lan trong nước đã nói ra sự phá sản ý thức hệ Cộng Sản ngày nay vốn trước đây khi định hình Duy vật chủ nghĩa đã tự phá sản tinh thần trước lẽ phải, lẽ Chân Thiện Mỹ của văn học hiện đại rồi.

Sài gòn, 2011


Việt Thần

(Khởi Hành số 177, Tháng 7.2011)

* Triều Lý, Lý Thái Tổ vừa băng hà, Lê Phụng Hiểu định phản loạn, giết ngay Hoàng tử Võ-đức vương, khiến khi thái tử Phật Mã lên ngôi, là Lý Thái Tông, đã lập ra lệ hàng năm các quan phải đến Đền Đồng Cổ (thờ Thần Trống Đồng) làm lễ đọc lời thề rằng: "Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, ai bất hiếu bất trung, xin quỉ thần làm tội." Các quan trốn thề sẽ bị đánh 50 trượng. (Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, 1953, trang 99.) An Tiêm.

** Theo Văn Đàn Bảo Giám, quyển II, trang 2 và 3. An Tiêm sao lục.


THƠ CHÍNH KHÍ


NGUYỄN SƯỞNG (1)


BẠCH ĐẰNG GIANG


Kinh quánh như sơn thảo mộc xuân,

Hải triều húng húng thạch lân tuân.

Thùy tri vạn cổ Trùng Hưng nghiệp,

Bán tại quan hà bán tại nhân.


Sông Bạch Đằng

Đào Phương Bình dịch


Mồ thù như núi, cỏ cây tươi,

Sóng biển gầm vang, đá ngất trời.

Sự nghiệp trùng hưng ai dễ biết,

Nửa do sông núi, nửa do người.


TRẦN MẠNH

(MINH TÔNG, 1300-1357, con thứ tư Trần Anh Tông)


BẠCH ĐẰNG GIANG


Vãn vãn kiếm kích bích toàn ngoan,

Hải thẩn thôn triều quyển tuyết lan.

Xuyết địa hoa điền xuân vũ tễ,

Hám thiên tùng lại vãn sương hàn.

Sơn hà kim cổ song khai nhãn,

Hồ Việt doanh thâu nhất ỷ lan.

Giang thủy đình hàm tà nhật ảnh,

Thác nghi chiến huyết vị tằng can.


Sông Bạch Đằng

Đào Phương Bình dịch


Chạm mây gươm giáo, xanh von vót,

Sóng tuyết khi đầy lại lúc vơi.

Mưa tạnh hoa phô vàng mặt đất,

Sương lùa thông réo tiếng vang trời.

Non sông kim cổ hai lần dậy, (2)

Hồ Việt hơn thua, một thoáng thôi.

Chan chứa dòng sông ngầu bóng xế,

Ngỡ là máu giặc hãy còn tươi.


1. Nguyễn Sưởng, không rõ quê quán, chỉ biết sống cùng thời và ở trong thi xã Bích Động của Trần Quang Triều (1286-1325, là anh vợ vua Trần Anh Tông), tác phẩm ông để lại gồm 16 bài thơ.

2. Ý nói sông Bạch Đằng đã chứng kiến hai chiến công oanh liệt: Ngô Quyền năm 939 và Trần Quốc Tuấn phá quân Nguyên năm 1288.

Hai bài thơ trên trích từ Tinh Tuyển Văn Học Việt Nam, Văn Học Thế Kỷ X-XIV của TS Nguyễn Đăng Na, NXB Khoa Học Xã Hội, 2004.


PHAN BỘI CHÂU


NGHĨ XEM SỰ THẾ


Nghĩ xem sự thế thế nào đây

Ngoảnh lại giang sơn giọt lệ đầy

Một lũ quan dân phường lính lệ

Vài câu kinh nghĩa giấc đêm khuây

Dại chi xấu mặt cam lòng chịu

Khôn cũng tung lòng cất cánh bay

Khúc ruột gan này ai chẳng có

Có ai nghĩ đến cái văn này.


Những bài thơ trên trích ở các sách Văn Đàn Bảo Giám (III & IV), Văn Học Tùng Thư, Nam Ký chủ trương (nxb Đại Nam sau 75)Thơ Văn Lý Trần (thế kỷ XI đến XIV), không kể bài thơ đầu thế kỷ XX của cụ Phan.

(Khởi Hành số 177, Tháng 7.2011)



Cùng Tác Giả

Cùng Tác Giả:

 

- Chiếm Đoạt Lịch Sử Rồi Để Lại Gì Cho Dân Tộc? Việt Thần Nhận định

- Dòng Thơ Chính Khí Việt Nam Việt Thần Khảo luận

 

Link (Tac Gia)

 

Bài viết về Văn Học

 

Từ Rosa Parks đến Nguyễn Đắc Kiên (Đinh Từ Thức)

Các Tạp Chí Văn Nghệ Miền Trung Thời Chiến Tranh (Nguyễn Lệ Uyên)

Cuốn Sách Nào Đã Ảnh Hưởng Nhiều Nhất Tới Tôi? (Viên Linh)

Trấn Nam Quan, Cửa Ải Gắn Liền Với Dòng Sử Việt (Trần Lam Giang)

Dòng Thơ Chính Khí Việt Nam (Việt Thần)

Ghi (1954 - 1960) (Trần Dần)

Tiểu Thuyết (Võ Phiến)

Nói Chuyện về Tiểu Thuyết Việt Nam Hiện Nay (Nhiều tác giả)

Vài Tuyển Tập Truyện Ngắn Miền Nam Trước 1975 (Viên Linh)

Vài Ý Nghĩ về Truyện Ngắn (Bình Nguyên Lộc)

Mười năm Truyện Ngắn (Tam Ích)

Nỗi Nhớ Qua Một Số Tác Giả (Nguyễn Vy Khanh)

Thụy An (Lưu Thị Yến) (Vũ Ngọc Phan)

Thụy An (1916-1989) (Thụy Khuê)

Đọc một số Tuyển tập Văn chương Nữ Việt Nam sau 1975 (Nguyễn Tà Cúc)

Nguyễn Thị Thụy Vũ với Lòng Trần (Hồ Trường An)

Nguyễn Thị Hoàng với Tan Trong Sương Mù (Hồ Trường An)

Thi ca miền Nam 1954-1975 (Nguyễn Vy Khanh)

Ấn Phẩm Xám và Những Người Viết Trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

Ý Thức: Đời Sống Của Tôi (Nguyên Minh)

Thạch Lam và những cái Tết thanh đạm (Vương Trí Nhàn)

Tinh thần tự do trong văn giới Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas) (Nhiều tác giả)

Giai Thoại Văn Học

Giai Thoại Văn Học

 

Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

Quả Báo (T. V. Phê)

Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

 

Tác phẩm Văn Học

 

Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

        Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

 

 

Van Hoc

 

 

Tác Giả

 

Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

  Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

  Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

  Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

  Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

  Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

 (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

An Khê,  Bàng Bá Lân,  Bích Khê,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Bích Hà,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Vĩnh Phúc,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Tiêu,  Cao Đông Khánh,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Chu Tử,  

 
 

 

 

© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)