29-1-2026 | VĂN HỌC

Phóng Sự

  TRẦN BÍCH SAN

Phóng sự là một loại văn mới của Chữ Quốc Ngữ có từ đầu thập niên 1930 ở nước ta. Phóng sự, thể loại mà sau khi tìm hiểu sự việc có tính cách thời sự dưới các góc cạnh đặc biệt, tác giả đã trung thực ghi lại những điều tai nghe mắt thấy kèm với nhận xét hay phê bình.


Vũ Trọng Phụng                -                Hoàng Hải Thủy

Phóng sự có hai loại: phóng sự xã hội và phóng sự chiến trường. Khi người và việc trong một thiên phóng sự xã hội với những nhân vật và sự kiện có thật được nhà văn tiểu thuyết hóa tạo hấp dẫn mà vẫn giữ được yếu tố sự thật làm căn bản thì được gọi là phóng sự tiểu thuyết. Nhưng nếu phần hư cấu, tưởng tượng của nhà văn lại nặng hơn, lấn át phần sự thật, lúc đó phóng sự mang tên tiểu thuyết phóng sự. Phóng sự tiểu thuyết và tiểu thuyết phóng sự là anh em sinh đôi của bà mẹ phóng sự.


Xe tay kéo “2 bánh không bàn đạp

Tôi Kéo Xe (1932) của Tam Lang Vũ Đình Chí là phóng sự đầu tiên ở nước ta. Sau đó có các phóng sự của Trọng Lang, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam (các phóng sự ngắn ký Việt Sinh đăng trên Phong Hóa, Ngày Nay). Các phóng sự này đều là phóng sự xã hội, tuy nhiên của Tam Lang, Trọng Lang, Thạch Lam thuộc về phóng sự tiểu thuyết, còn của Vũ Trọng Phụng được xếp vào loại tiểu thuyết phóng sự.


Trọng Lang                -               Tam Lang

Luận về thể văn phóng sự và vai trò của nó, nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan nhận xét:

Phóng sự là con đầu lòng của nghề viết báo. Phóng sự bao gồm lối tả thực của văn ký sự, lối trào phúng của văn châm biếm, và cảm người ta bằng văn tiểu thuyết. Như vậy, viết được một thiên phóng sự hay, nhà viết báo không những cần phải có tài đặc biệt về nghề báo, mà còn cần phải có nhiều "chất văn sĩ" mới được. Những nhà viết báo nổi danh nhất hoàn cầu đều là những nhà viết báo đã nổi danh về phóng sự, nhưng họ cũng lại là những văn sĩ có tiếng, những văn sĩ ưa sống một cách bồng bột và gần gũi với những cảnh sống luôn luôn thay đổi... Những thiên phóng sự xứng với cái tên của nó đều có cái chức vụ giúp cho người đời trong sự đào thải và cải cách. Những người viết phóng sự chân chính bao giờ cũng là người bênh vực lẽ phải, bênh vực sự công bình". (Nhà Văn Hiện Đại, quyển 3, trang 558).

Quan niệm trên phù hợp với sự đóng góp cho công cuộc cải thiện bất công xã hội của thiên phóng sự Tôi Kéo Xe. Khởi đăng trên tờ Hà Thành Ngọ Báo năm 1932, mở đầu cho lối văn phóng sự ở nước ta, Tam Lang Vũ Đình Chí thực hiện với ước vọng cải thiện chế độ "ngựa người". Mười năm sau, chiếc xe tay hai bánh "người kéo người" được thay thế bằng chiếc xích lô đạp ba bánh "người đạp người".


Mấy chục năm sau chế độ "cai xe" gần như không còn nữa, cải tạo xã hội đã đạt được một phần. Tuy chiếc xe biến đổi từ hai bánh không bàn đạp thành ba bánh hai bàn đạp, nhân phẩm người lao động lương thiện có được nâng lên chút đỉnh nhưng tâm hồn phu xe chưa được gột rửa, vẫn còn một số anh xe xích lô mồi chài gái cho khách làng chơi. Nhà văn có thể dùng phóng sự đưa ra ánh sáng sự bất công, nhưng cải tạo xã hội lại nằm trong việc nâng cao dân trí (do nhà ái quốc Phan Bội Châu đề xướng) đòi hỏi thời gian và nỗ lực trong lãnh vực giáo dục.


Từ tiền chiến đến năm 1954 có thêm phóng sự Trên Vỉa Hè Hà Nội (1953) của Triều Đẩu. Sau hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước, miền Bắc hoàn toàn không có phóng sự, miền Nam có 3 cây bút Tam Lang, Trọng Lang, Triều Đẩu từ Bắc di cư vào Nam. Trọng Lang viết thêm 1 phóng sự À! Sè Goòn đăng trên báo Dân Chủ 1955-1956 rồi ngưng. Triều Đẩu thực hiện thêm 2 thiên phóng sự Trên Vỉa Hè Sài Gòn (1957) và Những Thiên Đường Lỡ (1957).


Xe cyclo đạp “3 bánh 2 bàn đạp”

Từ 1956, giới phóng sự miền Nam có thêm Hoàng Hải Thủy, giống Vũ Trọng Phụng của thời tiền chiến. Vũ Nữ Sài Gòn đăng trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong từ 1956 (xuất bản 1967) với lối viết trào phúng mới mẻ, sáng tạo những từ mới lạ (phát âm khác đi) dí dỏm có duyên hấp dẫn được độc giả.


Các phóng sự Tây Đực Tây Cái, Bà Lớn, Yêu Tỳ viết trong thời gian sau của Hoàng Hải Thủy, cũng như Lành Rách của Thanh Thương Hoàng (1965) thuộc loại tiểu thuyết phóng sự do hư cấu, tưởng tượng và tiểu thuyết hóa, không đi sát theo các sự kiện có thực ngoài đời.


Từ 1932 đến giữa thập niên 1960 văn học Việt Nam chỉ có loại phóng sự xã hội. Phải về sau khi cường độ chiến tranh ở Miền Nam ngày một sôi động khốc liệt thì phóng sự chiến trường bùng nở mỗi lúc một nhiều. Loại này trở nên phong phú, sôi nổi.


Mỗi khi có trận đánh lớn cấp sư đoàn, các nhà báo trẻ khoác áo lính, làm việc hay được đào tạo bởi Việt Tấn Xã có mặt ngay tại mặt trận, ở Bộ Tư Lệnh Tiền phương, hay theo các tiểu đoàn tác chiến. Họ bám sát trận địa, tường thuật tại chỗ những phóng sự sống động đăng trên báo hàng ngày. Họ là các phóng viên chiến trường như Ngô Đình Vận, Đông Duy, Lê Thiệp, Trần Công Sung, Lê Phú Nhuận, v.v.


Các phóng sự chiến trường tràn ngập trên các nhật báo tường thuật những trận đánh lớn như biến cố Tết Mậu Thân (1968), quân lực VNCH tấn công vượt biên sang vùng Mỏ Vẹt Kampuchia (1970), cuộc tổng công kích mùa Hè của Cộng Sản Bắc Việt trên toàn lãnh thổ Miền Nam (1972), trận Hạ Lào (1973), các cuộc lui binh của quân khu I và II, trận chiến phòng thủ Xuân Lộc (1975). Phóng sự thu hút nhiều người đọc nhất là Cuộc Triệt Thoái Liên Tỉnh Lộ 7 của Nguyễn Tú đăng hàng ngày trên báo Sóng Thần tường thuật tại chỗ ngay từ ngày đầu cuộc lui binh.


KẾT LUẬN


Ký sự và phóng sự cả hai đều nặng về việc ghi chép sự việc, nhưng ký sự có trước, phóng sự ra đời sau do nhu cầu của nghề báo. Trọng tâm của phóng sự chủ ở người và sự việc khách quan (facts) mà tác giả (phóng viên) thu thập, quan sát rồi tường thuật. Ngược lại, trong ký sự không có tính cách thời sự, người viết là trung tâm điểm, sự việc diễn tiến đi theo vết chân của tác giả.


Phóng sự là con đầu lòng của nghề viết báo, đồng thời nó cũng là con đẻ của thể ký sự. Phóng sự là thoái thân của ký sự.


Ký sự xã hội thu hút được nhiều độc giả nhờ đưa ra ánh sáng những bất công xã hội hay bí mật động trời. Phóng sự chiến trường đáp ứng được thời gian tính của các trận đánh lớn mà người đọc đang nóng lòng theo dõi.


Phóng sự có thể gây sôi nổi một thời nhưng không có giá trị lâu dài vì nặng về sự việc và tính cách thời sự. Riêng các tác phẩm thuộc về ký sự, bút ký hoặc tiểu thuyết phóng sự có một vị trí khác nhờ thiên về tư tưởng và sáng tạo.


Trần Bích San

Nguồn: Việt Nam Văn Học Sử
Nxb Cỏ Thơm, 2021