1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      Thư viện Người Việt:
      NAM PHONG
      TRI TÂN
      THANH NGHỊ
      NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
       

       

    2. Nhận Diện Chân Dung Nhà Văn (Lý Hồng Xuân)

      05-07-2014 | VĂN HỌC

      Nhận Diện Chân Dung Nhà Văn

       LÝ HỒNG XUÂN

      Chân Dung Nhà Văn (Xuân Sách, chuthuhang.net)


           Nhà thơ Xuân Sách (1932-2008)

      ... Xuân Sách là "Người gẩy đàn". Chúng tôi thử làm vai trò "Người nghe", thưởng thức khúc độc tấu của ông!... Qua những trang viết của Chân Dung Nhà Văn (CDNV) - Tôi trong số những người nghe đó - cảm nhận, suy nghĩ... nêu lên chủ ý của mình, góp thêm tiếng nói vào việc làm sáng tỏ những nhận định của tác giả CDNV. Tập lại thành cuốn sách Nhận diện Chân Dung Nhà Văn và gửi tới bạn.

      Xin Bạn cùng đồng cảm với tôi và thưởng thức khúc nhạc của người gẩy đàn Xuân Sách!...

      Hải ngoại tháng 9/1999 (L.H.X)

      (Trích Lời Bạt sách "Nhận Diện Chân Dung Nhà Văn" của Lý Hồng Xuân)

      27.13

      (27 là thứ tự trong tác phẩm CDNV của Xuân Sách, số 13 bên cạnh là thứ tự chân dung

       được nhận diện trong sách NDCDNV của Lý Hồng Xuân)


      "Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi"!

      Về làm xiếc khỉ với đời thôi

      Nhà đồi một nóc chênh vênh lắm

      Sống tạm cho qua một kiếp người

      Áo sờn thay chiếu anh về đất

      Mây đầu Ô trắng, Ba vì xanh

      Gửi hồn theo mộng về Tây Tiến

      "Sông Mã gầm lên, khúc độc hành"!


      Sông Mã (thơ), Ba Vì (thơ), Tây Tiến (thơ), Mây Đầu Ô (tập thơ)... là những thi phẩm của nhà thơ QUANG DŨNG, tác giả của những bài thơ nổi tiếng: Tây Tiến, Đôi Mắt Người Sơn Tây, Đôi Bờ, đã được phổ thành bài hát.


      Thơ Quang Dũng phảng phất chất hoài niệm, lắng đọng, pha lẫn chất hùng ca. Trong các bài thơ của Quang Dũng, chúng ta luôn được nghe ông nói đến các địa danh Sơn Tây của ông! Thật kỳ lạ, người đọc tự nhiên cũng đồng cảm cùng tác giả. Trí tưởng tượng của họ bị kích thích mạnh, bởi lời thơ mộc mạc, giản dị, thắm đượm tình người, tình yêu quê hương đất nước...


      Đêm 19/12/1946, Người Hà Nội mang đồ vật trong nhà của mình ra xây dựng chiến lũy, ngăn chặn quân thù rồi ra đi kháng chiến, để lại sau lưng họ "khói lửa ngút trời". Khi xa Hà Nội, mỗi khi nghĩ về Hà Nội, ai cũng trào dâng xúc cảm... Quang Dũng đã nói hộ họ nỗi niềm tâm sự này trong bài thơ Tây Tiến. Ai đã đọc Tây Tiến, đều xúc động nhớ về Hà Nội, qua câu thơ đấy gợi cảm:


      "... Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

      Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều Thơm..."


      Quan văn nghệ Tố Hữu đọc được câu thơ này chẳng những không thích thú, mà còn buông lời châm chọc, xỏ xiên... Quang Dũng bị ức chế, bị tổn thương tinh thần của một sĩ phu Bắc Hà thứ thiệt. Ông không còn hứng thú viết những vần thơ hay, thấm đượm tình nhân ái nữa, về sống lặng lẽ trong căn phòng nhỏ hẹp cùng gia đình của những văn nghệ sĩ chân chính, không xu nịnh để kiếm miếng đỉnh chung...


      Tạng người Quang Dũng to cao. Nhà nghèo, ông cảm thấy quanh năm đói, chỉ thèm được ăn một bữa dù là cơm rau, nhưng được no nê mà vẫn không được. Hoàn cảnh của nhân dân Miền Bắc lúc bấy giờ (trước năm 1975), ai cũng như ai. Nếu làm việc ở cơ quan hành chính sự nghiệp, mỗi người, mỗi tháng chỉ được mua 13 Kg gạo, 250 gram thịt, 250 gram đường, 5 mét vải... Với sức vóc như ông, cái đói triền miên là tất nhiên... Sau năm 1975, các tiêu chuẩn này được nhích lên, nhưng cũng chẳng là bao. Quang Dũng vẫn ở trong số những văn nghệ sĩ đói!


      ... Cuối những năm 1980, sáng sáng người dân Hà Thành thường gặp một ông già to cao, trong đoàn các ông bà già ra công viên Thống Nhất (giờ là công viên Lê nin), tập thể dục. Người đó là nhà thơ Quang Dũng của chúng ta.

      Chân dung của ông được vẽ, dường như lấy ý từ những câu thơ hào hùng, bi ai... của ông.


      68. 24


      Hồn đã Vượt Côn Đảo,

      Thân vẫn còn trong Lao.

      Bởi nghe Lời Mẹ Dặn

      Nên suốt đời lao đao


      Vượt Côn Đảo (truyện dài), Lời Mẹ Dặn (thơ)... là hai tác phẩm nối tiếng cua nhà văn PHÙNG QUÁN (Mới mất đầu năm 1995)


      Là nhà văn trẻ (thời điểm l955 - so với Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt... nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm), quê ở Huế, (có tin nói rằng ông gọi Tố Hữu bằng cậu ruột). Khi đi theo kháng chiến, ông đã viết tác phẩm Vượt Côn Đảo, giải thưởng Văn chương Kháng Chiến chống Pháp. Khi những văn nghệ sĩ lên tiếng, đòi được "Tự do trong sáng tác" (chủ trương của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm). Phùng Quán tham gia nhiệt tình. Ông viết bài thơ: Lời Mẹ Dặn... trong đó có những câu thơ nổi tiếng... "xóc óc" (xem Phụ lục ở cuối sách):


      "... Giấy Bút tôi, ai cướp giật đi

      Tôi sẽ dùng Dao viết văn trên đá!".


      Bị chạm nọc, những người lãnh đạo tư tưởng của chế độ rất căm Phùng Quán. Ông bị trù dập nặng. Nguồn sống bị triệt hạ, không được viết, sống vất vưởng... Phùng Quán phải đi câu cá trộm ở Hồ Tây... cố sống để sáng tác! Sau này, ông thường nói đùa với bạn bè: "Cuộc đời tôi ở giai đoạn này (bị trù dập) có thể tóm tắt bằng 6 chữ: Cá trộm, Rượu chịu, Văn chui".


      Cá trộm, nói về việc ông luôn đi câu cá trộm ở Hồ Tây, do hợp tác xã Trúc Bạch quản lý. Ngay đằng sau khu nhà tập thể của vợ ông là cô giáo dạy ở trường trung học Chu Văn An.


      Rượu chịu - việc Phùng Quán luôn ra uống rượu chịu của bà hàng nước ở đầu phố, vì không bao giờ có dư tiền, thèm rượu đành uống chịu, cuối tháng vợ lĩnh lương, xin vợ nền ra trang trải, giả nợ.


      Văn chui - chỉ việc ông thỉnh thoảng viết, nhưng ký tên người khác, tiên ông không được phép xuất hiện tên văn đàn.


      Năm 1987, trước không khí cởi mở, ông cho xuất bản cuốn truyện viết cho các em, tựa đề: Tuổi Thơ Dữ Dội, được Hội Nhà Văn Việt Nam tặng giải thưởng văn chương. Xưởng phim Giải phóng dựng thành phim. Sau này ông còn viết bài thơ nổi tiếng khác: Trường ca về Cây Cà. Trước khi mất ít lâu, Phùng Quán viết đơn kiện nhà nước vì đã "bỏ tù, giam lỏng", ông và các bạn nhiều năm, chẳng hề có án, không được xét xử!


      Việc làm của ông dù giống như câu ca dao của dân ta: Con kiến mà kiện củ khoai, song vẫn nổi rõ chí khí của một sĩ phu đất Thần kinh!


      Lá đơn kiện này đã làm cơ quan quản lý tư tưởng điên ruột. Một bản thông báo vội vã được phát ra... gán ghép cho Phùng Quán và các bạn cua ông tội danh "lợi dụng... ngóc đầu dậy... chống đối..." Một số người bị liên lụy! Trong đó có Nguyễn Hộ, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Xuân Tụ (Hà Sĩ Phu)...


      23.25


      Mấy lần Lỡ Bước Sang Ngang

      Thương con Bướm đậu trên giàn mồng tơi

      Trăm hoa thân cánh rã rời

      Thôi đành lấy đáy Giếng Thơi làm mồ.


      Lỡ Bước Sang Ngang (tập thơ), Cô Hàng Xóm (thơ), Trăm Hoa (Báo), Nước Giếng Thơi (tập thơ)... (Giàn Mồng Tơi là một câu trong bài thơ Cô Hàng Xóm)... đó là những tác phẩm của nhà thơ NGUYỄN BÍNH.


      Ông là nhà thơ chân quê, nhà thơ của sự chia ly, của tình yêu dang dở... Thơ ông thắm đượm tình yêu quê hương, mộc mạc, phảng phất hương vị ca dao, truyện Kiều. Ông chẳng những có tài làm thơ, mà dịch thơ, vịnh thơ, xuất khẩu thành thơ cũng tài giỏi tuyệt đỉnh... (xem phụ lục).


      Trước năm 1945, ông có các tập thơ Lỡ Bước Sang Ngang, Nước Giếng Thơi, Hương Cố Nhân, Cô Gái Ở Lầu Hoa... sau 1945 đi kháng chiến, chỉ xuất bản được một tập Đêm Sao Sáng, cũng nói về đề tài chia ly, vì chiến tranh... chất lượng nghệ thuật của Đêm Sao Sáng kém xa những thi phẩm trước đây của ông.


      Vốn tính lãng tử, thích đi đây đó tìm hiểu phong tục, ngắm nhìn đất nước. Nguyễn Bính phiêu bạt vào Nam. Chiến tranh ập tới, ông đi kháng chiến... năm 1954 tập kết ra Bắc. Ông đặc biệt kính trọng, sùng bái Thi hào Nguyễn Du. Trong bài thơ Quê Hương, viết năm 1965, trước khi chết ít lâu, ông tuyên bố:


      "Quê hương tôi...

      Có Nguyễn Trãi có Bình Ngô Đại cáo

      Có Nguyễn Du và có một truyện Kiều...


      Đối với Nguyễn Bính, Việt Nam chỉ có Nguyễn Trãi, mới đích thực là nhà quân sự, nhà chính trị tài giỏi, nhân hậu.


      Lúc này, người ta đang "sùng bái" Tố Hữu, Sóng Hồng (Bí danh của Trường Chinh). Các vị ấy đang được hệ thống thông tin đại chúng, trực tiếp, gián tiếp... tâng bốc tận mây xanh. Nhưng với Nguyễn Bính, Việt Nam chỉ có Nguyễn Du và một Truyện Kiều thôi!


      Theo Tô Hoài, khi Nhân Văn - Gian Phẩm "đang hoành hành", ban Tuyên huấn Trung ương quyết định cho ra báo Trăm Hoa, làm đối trọng để lấn át đối thủ trên mặt trận Văn Nghệ. Người được chọn lãnh đạo tờ báo là Nguyễn Bính.


      Nhưng khi bắt tay vào việc, tờ Trăm Hoa chẳng những không "trấn áp" được Nhân Văn - Giai phẩm, trái lại, còn có biểu hiện phụ họa với đối thủ... Các xếp sòng tức giận, cách chức chủ nhiệm, "dẹp tiệm" Trăm Hoa, đuổi Nguyễn Bính về Ty văn hóa thông tin Nam Hà quản thúc...


      Nghèo, đói! (không có đủ tiền mua một chiếc xe đạp để đi làm). Bị o ép về tư tưởng... Nguyễn Bính đau buồn, gác bút.


      Người xưa nói "Văn tức là Người", đối với Nguyễn Bính điều đó thật đúng! Trước khi mất ít lâu - vào cuối năm 1965 - Ty Văn Hóa Thông Tin Tỉnh Nam Hà chuẩn bị lễ kỷ niệm 200 năm đại thi hào Nguyễn Du. Trưởng ty Chu Văn - (hiện nay gọi là Giám đốc Sở) tổ chức một cuộc họp yêu cầu nhân viên nộp bài tham luận về Nguyễn Du, các bài viết đăng trong tờ báo địa phương (báo Nam Hà) số Xuân để lãnh đạo duyệt trước...


      Nguyễn Bính rút túi lấy ra bài thơ tiêu đề "Tặng cụ Nguyễn Du và Truyện Kiều", đọc to cho mọi người cùng nghe:


      Cảo thơm lần giở trước đèn

      Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa

      Trăm năm trong cõi người ta

      Một thiên tuyệt bút, gọi là để sau

      Khen tài nhả ngọc phun châu

      Mười lăm năm ấy, biết bao nhiêu tình.

      Mấy lời kỳ cựu đinh ninh

      Rằng tài nên trọng mà tình nên thương

      Khen rằng giá đáng thịnh đường

      Thì trao giải nhất, chi nhường cho ai

      Gẫm âu người ấy báu này

      Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào

      Nàng vì chút nghĩa xưa sau

      Mà cho thiên hạ trông vào cũng hay

      Thương vui bởi tại lòng này

      Tan sương đầu ngõ, vén mây cuối trời

      Lòng thơ lai láng bồi hồi

      Tưởng người nên lại thấy người về đây...


      Theo Chu Văn kể lại trong hồi ức: Mọi người nghe xong bàng hoàng. Toàn bài thơ là lời được nhặt ra từ Truyện Kiều. Nhưng kinh ngạc hơn còn ở chỗ, bài thơ tổng kết cuộc đời tài hoa của nàng Kiều, song ai cũng ngậm ngùi nhận ra hình ảnh của Nguyễn Bính trong đó.


      Cám động nhất là những câu kết:

      Thương vui bởi tại lòng này

      Tan sương đầu ngõ, vén mây cuối trời

      Lòng thơ lai láng bồi hồi

      Tưởng người nên lại thấy người về đây!


      Mọi người lặng đi!


      Bài thơ thật hay nhưng thấy quá buồn... Nhà văn Chu Văn là xếp nên đề nghị Nguyễn Bính sửa mấy câu kết "đọc nghe xái quá"!...

      Nguyễn Bính kiên quyết không nghe:

      - "Một chữ cũng không sửa. Các vị đừng mê tín... cốt hay là được!..."


      Sau buổi họp, nhà văn Q.L. - lúc đó mới tốt nghiệp đại học tổng hợp được phân về công tác cùng địa phương với Nguyễn Bính - vốn quý trọng nhà thơ, lại cũng thuộc Kiều, Q.L. mời Nguyễn Bính đi "ăn hàng". Rượu vào làm Nguyễn Bính rất vui... Q.L. biết tính "Đại ca"... anh 1ựa 1ời... nhìn Nguyễn Bính đọc:


      "Rằng hay thì thật là hay

      Xem ra ngậm đắng nuốt cay thế nào...

      Lạ chi những bậc tiêu tao

      Thiệt lòng mình cũng nao nao lòng người..."


      Nguyễn Bính mặc dù đang say sưa, nghe "chú em lẩy Kiều", trợn mắt nhìn Q.L, nối tiếp ngay:


      "Rằng quen mất nết đi rồi

      Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao..."


      Buổi lễ kỷ niệm 200 năm thi hào Nguyễn Du diễn ra long trọng, suông sẻ. Bài tập Kiều của Nguyễn Bính đăng trên trang nhất báo Nam Hà, được bạn đọc khen ngợi...


      Tết dương 1ịch 1966 qua đi.

      Tết âm 1ịch 1966 (Bính Ngọ) đang đến! Nguyễn Bính từ biệt gia đình, đến nhà một người bạn yêu thơ ông, ăn Tết, theo lời mời khẩn khoản của vợ chồng họ...


      Sáng 30 tháng chạp năm Ất Ty (1965): ông chủ nhà cùng Nguyễn Bính ra vườn ngắm cảnh hái lộc... Một cơn gió độc ập tới... Nguyễn Bính trúng gló, ngã nằm đè lên những nhánh lộc Xuân, trong bùn đất của tiết đầu Xuân. Chủ nhà vốn là một thầy lang, cố công cứu chữa, nhưng Nguyễn Bính đã ra đi vĩnh viễn!


      Điều này dường như Nguyễn Bính đã "sinh Gở", gửi gắm lại cuộc đời những trối trăn trong bài thơ tặng Cụ Nguyễn Du, hồi cuối năm l965 - trước khi "ra đi" ít ngày - Và xa, lâu hơn nữa, từ mấy chục năm trước: Trong bài Nhạc Xuân in ở tập Hương Cố Nhân, xuất bản năm 1939, ở một đoạn ông viết:


      "... Năm mới, tháng giêng mồng một Tết,

      Còn nguyên vẹn cả một mùa Xuân"...


      Còn hai câu kết của bài Nhạc Xuân, thì:


      "Giờ đây chín vạn bông trời nở

      Riêng có tình ta khép lại thôi!"


      27 năm sau - năm Bính Ngọ, Năm Nguyễn Bính 49 tuổi (l966) - ông chết đúng như lời ông đã viết trong bài thơ kia! (Nguyễn Bính sinh năm Mậu Ngọ 1918, đồng niên với nữ sĩ Anh Thơ...).


      76. 27


      Em ơi buồn làm chi?

      - Em không buồn sao được!

      Quan họ đã vào Hợp tác

      Đông Hồ gà, lợn nuôi chung.

      Bên kia Sông Đuống em trông

      Tìm đâu thấy Lá Diêu Bông hỡi chàng!


      Bên Kia Sông Đuống (tập thơ), Lá Diêu Bông (thơ)... là hai trong số nhiều thi phẩm của nhà thơ HOÀNG CẦM. Ông nổi tiếng trong Kháng chiến chống Pháp. Tập Bên kia Sông Đuống đã đưa ông lên vị trí của nhà thơ tài năng. Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, từ chiến khu trở về, (1954) ông được bổ nhiệm làm Trưởng đoàn Văn công Tổng cục chính trị (Văn công Quân đội). Khi nhóm chủ trương Nhân Văn - Giai phẩm lên tiếng, Hoàng Cầm nhiệt thành ủng hộ. Ông bị trừng phạt rất nặng: Đuổi khỏi biên chế quân đội, tước chức vụ Trưởng đoàn Văn Công Tổng Cục Chính Trị, bị o ép, thậm chí cả tù đày...


      Những ngày tháng này, tai họa nọ nối tiếp tai họa kia ập xuống đầu ông: Vợ chết, ít lâu sau, con gái chết theo. Sự chịu đựng của con người có hạn, thế nhưng đối với Hoàng Cầm những bất hạnh đó thật vô hạn. Ông diễn tả tâm trạng mình trong bài thơ Ngã Ba Sông ở đoạn kết thật não nề:


      ...

      Ngự đỉnh đài bóng nguyệt xuyên canh

      Đón chào nữ chúa khóc vô thanh

      Hỏi thăm ai nấc rung hoàn vũ

      Ba nhánh sông cùng đáp chính anh!


      Nhà thơ đau khổ đến độ khóc không thành tiếng, bật ra tiếng nấc rung động cả vũ trụ... Hoàng Cầm hoàn toàn sụp đổ, trở thành lẩn thẩn... Nhờ bạn bè thương cảm chăm sóc, an ủi... Hoàng Cầm dần qua khỏi.


      Tuy sống trong hoàn cảnh như vậy, ông vẫn lặng lẽ chịu đựng và viết. Tập thơ Về Kinh Bắc, được ông sáng tác trong khoảng từ 1958 đến 1968. Đặc biệt bài thơ Lá Diêu Bông ra đời năm 1959, đã trở thành bài thơ nổi tiếng, được nhiều nhạc sĩ trong, cũng như ngoài nước phổ nhạc: Phạm Duy, Lê yên, Trần Tiến, Ngọc Thanh và gần đây là Nguyễn Tiên, mặc dù bài thơ Lá Diêu Bông lúc đó không được chính thức phổ biến.


      Đây là bài thơ có sức cuốn hút kỳ lạ đối với Hoàng Cầm và độc giả đọc Lá Diêu Bông. Trong một lần, hồi đầu năm 1997, nhạc sĩ Phạm Duy - bạn thân của Hoàng Cầm - khi sang châu Âu thăm cộng đồng người Việt Nam tại Thành phố Frankfurt/Main (Đức Quốc). Trả lời cuộc phỏng vấn của phóng viên tờ Đối Thoại (Cộng hòa Liên Bang Đức), ông (PD) nói về lịch sử của chiếc 1á này như sau:

      "... Phạm Duy (PD):

      - Anh (Phóng viên) sống ở Miền Bắc, có biết Lá Diêu Bông là chiếc lá gì không?

      - PV: Không! tôi chưa bao giờ nghe nói và nhìn thấy lá Diêu Bông!

      - PD: Đúng! Trên thực tế, không hề có lá Diêu Bông, chỉ có lá Bông Diêu. Hoàng Cầm đã gọi lái đi, lá Bông Diêu thành lá Diêu Bông. Lá Bông Diêu là thứ lá mọc ở bờ bụi, miền đồng bằng châu thổ sông Hồng. Nó lành tính, mát, được các bà, các cô hái đem về, vò ra, lấy nước xoa lên mặt. Thứ lá này có một chút gì đó... làm cho da mặt của người được xoa mát, mịn màng, trở nên đẹp...

      Lá DIÊU BÔNG - Bông Diêu - là thứ lá làm đẹp vẻ mặt bên ngoài..."

      Xuân Sách đã vẽ chân dung Hoàng Cầm, trên nền xanh ngát của chiếc lá kỳ lạ này...


      Lý Hồng Xuân

      Nhận Diện Chân Dung Nhà Văn
      Nxb Văn Nghệ, California, 2000



      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Nhận Diện Chân Dung Nhà Văn Lý Hồng Xuân Nhận định

    3. Link (Văn Học VN dưới chế độ CS)

       

      Văn Học Việt Nam dưới chế độ CS

       

      Nghi Án 60 Năm (Trần Gia Phụng)

      Nhận Diện Chân Dung Nhà Văn (Lý Hồng Xuân)

      Tự Do Học Thuật (Nguyễn Hưng Quốc)

      Nhân chuyện người lính buồn trong thơ Văn Lê (Trần Mạnh Hảo)

      Vĩnh Biệt Sơn Nam (Tưởng Năng Tiến)

      Tiểu thuyết Gửi người yêu và tin của Nguyễn Thị Từ Huy (Mặc Lâm)

      Vụ Án Nhã Thuyên (Nguyễn Hưng Quốc)

      Những cái chết tức tưởi của nhà văn, chuyện bây giờ mới kể (Thái Doãn Hiểu)

      Thụy Khuê với Nhân Văn Giai Phẩm (Hồ Trường An)

      Nhóm “Mở Miệng”: lịch sử văn học đẫm máu sắp lập lại? (Mặc Lâm)

      Luận văn Đỗ Thị Thoan, một Nhân Văn Giai Phẩm thứ hai (Thanh Phương)

      Phê Bình Văn Học dưới chế độ cộng sản (Nguyễn Hưng Quốc)

      Cú giãy cuối cùng của nền phê bình chỉnh huấn (Phạm Thị Hoài)

      Ghi (1954 - 1960) (Trần Dần)

       

      Thụy An (1916-1989) (Thụy Khuê)

      Về Kinh Bắc (Hoàng Cầm)

      Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt (Lưu Quang Vũ)

      Đêm Giữa Ban Ngày (Vũ Thư Hiên)

      Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất (Nguyễn Khải)

      Chuyện Kể Năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn)

      Hậu Chuyện Kể Năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn)

      Ba Người Khác (Tô Hoài)

      Đèn Cù - I (Trần Đĩnh)

      Đèn Cù - II (Trần Đĩnh)

      Thời Của Thánh Thần (Hoàng Minh Tường)

      Trần Đức Thảo - Những Lời Trăng Trối

      (Tri Vũ - Phan NGọc Khuê)

      Chế độ kiểm duyệt sách báo tại Việt Nam

       (Nguyễn Hưng Quốc)

      Phong Trào Nhân Văn Giai Phẩm (Thuỵ Khuê)

      Thụy Khuê và Nhân Văn Giai Phẩm (VietNam Film Club)

       

      Phim tài liệu (VietNam Film Club, 2013):

      Tập I:  Nhân Văn Giai Phẩm

      Tập II: Cải Cách Ruộng Đất

       

      Tác Giả

      Bùi Ngọc Tấn,  Hà Minh Tuân,  Hoàng Cầm,  Hữu Loan,  Lưu Quang Vũ,  Nguyễn Bính,  Nguyễn Tuân,  Phan Khôi,  Phùng Quán,  Quang Dũng,  Thâm Tâm,  Thuỵ An,  Trần Đĩnh,  Trần Đức Thảo,  Vũ Anh Khanh,  

       

       

      Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Chuyện Phiếm Về Tiểu Thuyết (Triều Sơn)

      - Nuôi Sẹo (Trần Hoài Thư)

      - Lê Hữu Mục: Tâm moa là mây (Nguyễn Văn Sâm)

      - Điểm sách Vietnamese/Tiếng Việt Không Son Phấn của GS Nguyễn Đình Hòa (Đàm Trung Pháp)

      - Thơ Tình Vương Đức Lệ (Giang Hữu Tuyên)

      - Nhà thơ Nguyễn Bính và "Tỉnh Giấc Chiêm Bao"

      (Nguyễn Ước)

      - Thử đọc lại vài trang sách của Trần Doãn Nho

      (Lương Thư Trung)

      - Thơ Thành Tôn, thân xác như một ám ảnh hiện sinh (Trần Doãn Nho)

      - Một Vài Kỷ Niệm Với Bùi Giáng (Mai Thảo)

      - ‘Thơ Tuyển’ vào cuộc lữ hành (Viên Linh)

      - Tô Kiều Ngân và Mặc Khách Sài Gòn (Viên Linh)

      - Tạp chí Bách Khoa được 'số hóa' toàn bộ

      (Phạm Phú Minh)

      - Thành Tôn, chàng ‘thư si’ (Trần Doãn Nho)

      - Phan Nhiên Hạo phỏng vấn Hồ Đình Nghiêm

      (Phan Nhiên Hạo)

      - Điểm sách Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn

      (Đàm Trung Pháp)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      ,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Du Tử Lê,  Dương Nghiễm Mậu,  Duy Liêm,  Hà Thúc Sinh,  Hà Thượng Nhân,  Hàn Mặc Tử,  Hồ Đình Nghiêm,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)