1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      NAM PHONG - TRI TÂN
      THANH NGHỊ - NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21 - BÁCH KHOA
       

       

    2. Thơ Lê Phước Dạ Đăng ám ảnh thời sự (Trần Doãn Nho)

      9-1-2018 | VĂN HỌC

      Thơ Lê Phước Dạ Đăng ám ảnh thời sự

       TRẦN DOÃN NHO

      Lê Phước Dạ Đăng đã tham gia các hoạt động chống Trung Quốc chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa đầu năm 1974, nên dù còn rất trẻ, anh phải khăn gói lên đường đi… tù cải tạo. Trong hình là đảo Trường Sa Lớn được coi là Thủ Đô của huyện đảo Trường Sa. (Hình: Tuổi Trẻ)

      Thơ Lê Phước Dạ Đăng xuất hiện rải rác đó đây trên các tạp chí mạng, hầu hết ở hải ngoại, như Da Màu, Sáng Tạo, Sài Gòn Ocean, Bạn Văn Nghệ, Góc Sân Chơi. Anh làm nhiều loại thơ: thơ tình, thơ tếu, thơ thời sự.


      Thơ anh mới, cả hình thức lẫn nội dung. Một trong số những nét mới trong thơ anh là anh đưa vào thơ nhiều khẩu ngữ trong cách nói thông thường hằng ngày. Những bài thơ gây ấn tượng nhất là thơ thời sự hoặc mang thời sự.


      Làm thơ thời sự thường là dễ, vì đề tài đã có sẵn, sự kiện cũng có sẵn, nhưng cũng chính cái dễ đó mà những bài thơ rất dễ trở thành nhạt nhẽo, sáo mòn, lắm khi mang tính tuyên truyền rẻ tiền. Lê Phước Dạ Đăng, nói chung, không mắc vào cái bẫy này.


      Một trong những ám ảnh thời sự trong thơ anh là biển và đảo quê hương. Có những bài thơ nói về đề tài khác, nhưng ta cũng thấy thấp thoáng chuyện biển, đảo ở đâu đó trên những dòng thơ.


      Nhắc chuyển biển đảo bị Trung Quốc chiếm đoạt, anh viết bài “Khi Lịch Sử Giễu Cợt Thế Nà Thế Nào?” Cái tựa đề đúng là rất giễu cợt, nhưng những dòng thơ thì không giễu cợt tí nào.

      “là mo cau Mẹ quạt/những trưa Hè/BIỂN

      khăn quàng cổ/Mẹ ủ Con/những sáng Đông lạnh/BIỂN

      là nước mắt/hội ngộ/mừng vui/biệt ly/chua xót/BIỂN

      những Con Tàu/mênh mông thả xuống/những Linh hồn/vượt khoảng vô bờ/BIỂN

      bây giờ ở đó/Gió hú/chập chùng/những nụ cười ngớ ngẩn/dại điên.”

      Bài thơ buồn nhưng mấy câu cuối của bài thơ lại loan báo một tin vui khá bất ngờ và đầy ý nghĩa:

      “dự báo đưa tin

      Hoàng Sa, Trường Sa nắng ráo, sóng êm…

      Hảo, hảo.”

      Bản tin dự báo thời tiết về một ngày nắng đẹp tại một quần đảo Việt Nam lại được kết thúc bằng hai tiếng Trung Quốc “hảo, hảo” khiến toàn bài thơ trở thành một hình ảnh bi/hài và chua chát!


      Đề cập đến chính sách lấy thịt đè người của Trung Quốc trong việc độc chiếm Biển Đông, anh viết:

      “cả vú lấp miệng em

      chúng lấy thịt đè người

      15 ngàn bẫy sập

      15 ngàn tàu cá

      hùng hục kéo ra khơi

      tru bài ca hữu hảo

      náo động cả đất trời

      Con đen ngư dân Việt

      Khóc đứng lại than ngồi

      Nói chi con cá mực

      nhắc gì rặng san hô

      mươi năm sau… hóng mát

      Chỉ lén phén xa bờ”

      (Đường Đi Của Chiếc Lông Ngỗng Áo Mỵ Châu)

      Ám ảnh về biển và đảo khiến cho anh bị ám ảnh về vị mặn:

      “Tôi Nhiễm Mặn chính Em

      từ những dòng nước mắt

      bao dung rồi dịu êm

      cằn khô theo năm tháng

      Tôi nhiễm mặn vì Trời

      cháy đen và nắng rát

      Tôi nhiễm Mặn từ Tôi

      Cứ hẹn lần rồi khất”

      (Mặn)

      Bài thơ mới nhất của anh nói về cách “trùng tu” đất nước của chính quyền Cộng Sản, sau năm 1975:

      “sau chiến tranh, liên tục Trùng tu

      cắm hom khoai mì thay vườn cam – dấu tích kinh tế thời tư sản

      (…) sách dĩa vàng xanh tập trung đốt, khói che mầm sống

      rừng núi bạt ngàn trùng trùng đuổi theo nép né chân trời

      “Nhân dân” hóng lời kêu gọi đổi đời

      (…)Trùng tu Trùng tu

      sơn lâm ròng khóc

      Trùng tu Trùng tu

      Thủy điện Đê điều

      Trùng tu Trùng tu

      Kiến Trúc Cổ xưa Danh lam Thắng cảnh

      Trùng tu

      hai ngón cái đụng nhau, đôi bàn chân Giao Chỉ kéo duỗi thẳng ra cho phù hợp với Chủ Thuyết ngoại lai

      Trùng tu.”

      Hai câu kết bài thơ, nghe rất bất ngờ, nhưng đầy ý vị:

      “Em nhớ, khi nào định Trùng Tu trái tim Tôi

      vui lòng báo trước để Anh nhanh tay giữ lại làm giá kê những viên ngói xếp âm dương, xà gồ… xưa cổ.”

      Trước những “sự cố” dồn dập trong nước, từ chuyện môi sinh, đàn áp, bắt bớ dân oan, những người bất đồng chính kiến, cho đến thiên tai lũ lụt, anh viết một bài thơ ngắn với ngôn ngữ rất cụ thể và đầy ấn tượng:

      “Lũ nuốt Núi Vườn, Sông gặm Đất

      Thiên Nhiên Cuồng nộ, Xé Áo ra

      Đất Nước bàng hoàng, Cơn Đau đẻ

      Nghiến răng Nấc Lệ, Nỗi Đau nhà…”

      Nghe như một niềm thống hận không nguôi. Nhưng ý nghĩa thực sự mà anh gửi gắm lại nằm ở một chỗ khác, ở cái tựa đề “Giờ Thứ 25.” Tựa đề này vay mượn từ cuốn tiểu thuyết của một nhà văn Lỗ Ma Ni, Virgil Gheorghiu.


      Giờ thứ hai mươi lăm, trong cái tuyệt vọng cùng cực vẫn đôi khi lóe lên tia hy vọng; đó là giờ của tàn cuộc mà cũng là giờ của hy vọng. Giờ sau cùng của cái sau cùng. Mà cũng là giờ bắt đầu của cái bắt đầu. Ước mơ về thời điểm “giờ thứ 25” cho đất nước không chỉ là ước mơ của riêng một Lê Phước Dạ Đăng mà của tất cả những người Việt Nam.


      Tính thời sự trong thơ Lê Phước Dạ Đăng còn được biểu lộ ở một hình thức khác: mô tả hình ảnh của thành phố Sài Gòn hiện nay. Ở đây, thơ anh trở nên trào lộng và chua chát.

      “cơn mưa ào ào/xót vào nỗi đau

      ghì đè cái đợi/thời gian bừng giận

      xả trọn mối thù/chìm – nổi

      đứng yên – nhúc nhích lội

      ánh điện nhòe đường/soi trần gian trầy trụa

      sài gòn/ngập háng/chìm người/hòn ngọc vùi trôi

      phủ lớp bùn non háu đá”

      (Đi Trong Hoang Tưởng)


      Kết cấu câu khá lạ, tứ thơ cũng lạ. Nó mô tả một cách trần trụi “hòn ngọc Viễn Đông” Sài Gòn độ nào thành một thành phố biến dạng thường xuyên vì bị ngập lụt mà một trong những nguyên nhân xuất phát từ các công trình nạo, vét, xây cất bừa bãi.


      Cái thành phố ấy, ngay khi không ngập lụt, một ngày bình thường thôi, dưới mắt anh, cũng là một thành phố khác thường. “Con Nước” là tựa đề một bài thơ ngắn được làm khi anh đi ngang qua góc đường Trường Chinh-Tân Kỳ Trân. Đường phố Sài Gòn hiện nay được ví von như một con lạch nhỏ, nơi cư dân thành phố hằng ngày ra đường chẳng khác gì những kẻ tập bơi.

      “leo lề trèo xuống phố/lủi ngược đùn về xuôi

      buổi sáng tập bơi bộ/sóng nhô người với người

      chạy xe kèn chân đẩy/nhích từng đoạn dòng đời

      vài lắc đầu ngao ngán/ai đó lặng lẽ cười

      mỗi sáng tề chỉnh áo/xách xe ra tập bơi…”

      Đọc đoạn thơ này khiến tôi nhớ đến một bài thơ cũ của tôi, làm lúc lần đầu tiên về nhìn lại Sài Gòn, qua đó, tôi cũng hình dung Sài Gòn bây giờ như một dòng sông.


      “Em bên kia đường hồi hộp đợi

      Tôi lội qua giòng xe nghênh ngang

      Nhảy phóc lên lề hồn thất tán

      Bần thần quên mất cả tên em” (Trần Doãn Nho)


      Xin được kết thúc bài viết bằng một đoạn thơ không thời sự của Lê Phước Dạ Đăng:

      “Ta chỉ là Đá Cuội

      rơi rải cạnh Bờ Sông

      Em vô tình trợt ngã

      xuýt xoa

      Ta nhói lòng…” (Ngày Tình Nhân)

      Lê Phước Dạ Đăng, sinh trưởng tại Huế, theo học Đại Học Sư Phạm. Sau năm 1975, do có dính dáng một số hoạt động thanh niên ở môi trường học đường, trong đó, nổi bật nhất là anh đã tham gia các hoạt động chống Trung Quốc chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa đầu năm 1974, nên dù còn rất trẻ, anh phải khăn gói lên đường đi… tù cải tạo chẳng khác gì một viên chức hay sĩ quan quân đội của chế độ VNCH. Anh hiện làm việc cho một cơ quan giáo dục.


      Trần Doãn Nho

      Nguồn: nguoi-viet.com



      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Thơ Lê Phước Dạ Đăng ám ảnh thời sự Trần Doãn Nho Nhận định

      - Tản mạn đầu năm Trần Doãn Nho Tản mạn

      - Thơ Thành Tôn, thân xác như một ám ảnh hiện sinh Trần Doãn Nho Nhận định

      - Thành Tôn, chàng ‘thư si’ Trần Doãn Nho Tạp bút

      - Trò chuyện với nhà văn Phạm Phú Minh Trần Doãn Nho Phỏng vấn

      - Khoa Hữu, Nỗi Bi Phẫn Bất Tận Trần Doãn Nho Khảo luận

      - Về Trần Doãn Nho Tạp bút

      - Nhạc Xuân Trần Doãn Nho Khảo luận

      - Trò chuyện cùng Trần Hoài Thư về Thư Ấn Quán & Thư Quán Bản Thảo Trần Doãn Nho Tạp bút

      - Một Chút Việt Nam Trần Doãn Nho Truyện ngắn

    3. Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Hồ Đình Nghiêm thưa chuyện cùng nhà văn Võ Kỳ Điền (Hồ Đình Nghiêm)

      - Có hay không sự chuyển đổi tình cảm trong thơ phổ nhạc (Trần Văn Nam)

      - Sainte Beuve: Pháp, Biélinski: Nga, Vũ Ngọc Phan: Việt Nam (Xuân Vũ)

      - Nhà văn Xuân Vũ (1930-2004) đi tập kết, về giải kết (Viên Linh)

      - Đứng Về Phía Những Cái Mới (Mai Thảo)

      - Trường ca khi ở trên tầng bình lưu (Trần Văn Nam)

      - Trần Văn Nam: nhà thơ, bạn hiền (Trần Yên Hòa)

      - Thơ Lê Phước Dạ Đăng ám ảnh thời sự

      (Trần Doãn Nho)

      - Từ Điển Nhân Danh Địa Danh & Tác Phẩm VHNT Trung Quốc -Hoàng Xuân Chỉnh (Đàm Trung Pháp)

      - Huớ gọi trăm năm (Trần Yên Hòa)

      - Lê Hữu: Âm Nhạc Của Một Thời (T. Vấn)

      - Vĩnh Biệt Nhà Văn Nguyễn Thạch Kiên

      (Vương Trùng Dương)

      - Nguyễn Tất Nhiên (Đinh Quang Anh Thái)

      - Đỗ Hồng Ngọc bất hạnh với thi ca? (Du Tử Lê)

      - Họp mặt văn nghệ tại nhà Vũ Hoàng Chương

      (Mai Thảo)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Dẫn Lược Từng Chương Tiểu Thuyết Danh Tiếng của Thomas Hardy (Trần Văn Nam)

      - Một chuyến đi (Trăm lần vui. Vạn lần buồn) (Phạm Văn Nhàn)

      - Viết về Duyên (Đỗ Xuân Tê)

      - Hình như cây súng con lạ lắm (Trần Hoài Thư)

      - Đôi mắt La Ronda (Trần Hoài Thư)

      - Bằng Hữu, Thật Sống Đủ Ngay Đây (Phan Nhật Nam)

      - Gặp anh Đặng Tiến và đi thăm Trần Hoài Thư (Phạm Văn Nhàn)

      - Những Giải Thưởng Văn Chương Trên Nước Việt (Nguiễn Hữu Ngư)

      - Đứng Trước Thực Tại (Lý Hoàng Phong)

      - Tản Mạn Về Tính Nhân Bản Trong Thi Ca Miền Nam Thời Chiến (Trần Hoài Thư)

      - Nhận Định Về Thơ Hậu Chiến (Lê Huy Oanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      - Cuộc Phỏng Vấn Văn Nghệ (Nguyễn Ngu Í)

      - Đi tìm nguồn cội (Nguyễn Xuân Hoàng)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Du Tử Lê,  Dương Nghiễm Mậu,  Duy Liêm,  Hà Thúc Sinh,  Hà Thượng Nhân,  Hàn Mặc Tử,  Hồ Đình Nghiêm,  Hồ Đình Phương,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)