Head



 

 

Chiến Thắng Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền Năm 939 (Hà Mai Phương & Lưu Chu Thanh Tao)
16-01-2013 | NHÂN VẬT

Chiến Thắng Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền Năm 939

 HÀ MAI PHƯƠNG & LƯU CHU THANH TAO

Đất Đường Lâm:



   Ngô Vương Quyền đánh giặc Tầu.
(Tranh dân gian làng Đông Hồ)

Ngô Quyền người đất Đường Lâm, theo Văn bia xã Cam Lâm xưa gọi Đường Lâm là Cam Lâm, thuộc huyện Phúc Lộc, phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây; sau là huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây; nay thuộc tỉnh Hà Tây; cách trung tâm thị xã Sơn Tây khoảng vài cây số. Người địa phương, theo khoa phong thủy, gọi Đường Lâm là "Đất Hai Vua" vì là sinh quán của Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng và Ngô Vương Quyền; là các vị anh hùng cái thế đều có công đánh đuổi quân xâm lược phương bắc.


Theo Đường Lâm Dật Sử (của Đỗ Tế Huyễn, trong Luận Đàm số 5, Sài-gòn, 1961), vào niên hiệu Quang Thái thứ ba, tức năm 1390 đời vua Trần Thuận Tông, mùa xuân, tháng hai, ngày 18, dựng bia phụng thờ Phùng Hưng và Ngô Quyền ở nơi "ấp Hai Vua". Bài văn bia có đoạn: "... Nay bản xã, thiết tưởng có hai vua, từ xưa không đâu có. Nay miếu mạo vẫn nguyên, uy phúc còn mãi, đủ thấy tiếng thơm không nát, linh hiển đâu bằng cho nên chúng tôi trích trong gia phả của hai họ (Phùng và Ngô), khắc vào bia đá này để lưu truyền mãi mãi. Ấp viên: Phùng Công Hỷ, Ngô Thế Hòa, Phùng Công Hiếu, Ngô Thế Đạt, Phùng Công Thái... cùng cả xã lập bia."


Chiến thắng Bạch Đằng Giang:


Theo Việt Nam Sử Lược (của Trần Trọng Kim) và Việt Sử Cương Mục Tiết Yếu (của Đặng Xuân Bảng), Ngô Quyền là con rể của Tiết độ sứ (tự phong) Dương Diên Nghệ, trấn thủ đất Ái Châu (tức vùng Thanh Hóa ngày nay). Năm 937, Dương Diên Nghệ bị Kiều Công Tiễn giết và cướp lấy quyền bính. Năm 938, Ngô Quyền khởi binh giết Kiều Công Tiễn. Vua Nam Hán nhân dịp nước ta rối loạn, sai con là Thái tử Hoằng Tháo đem quân sang đánh chiếm nước ta. Ngô Quyền cho đóng cọc ở sông Bạch Đằng khi nước triều lên cho thuyền nhẹ ra khiêu chiến dụ địch quân vào chỗ có đóng cọc; gặp lúc nước thủy triều xuống, thủy binh Nam Hán mắc phải bãi cọc gỗ, tiến thoái không được và bị đánh tan vào năm 939.


Sau đại thắng quân xâm lược Nam Hán, Ngô Quyền xưng Vương, đóng đô ỏ Cổ Loa (huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội ngày nay), "đặt trăm quan, chế triều nghi, định sắc phục" mở đầu nền tự chủ và độc lập của nước nhà.


Sử gia Ngô Sĩ Liên ca tụng chiến thắng này như sau: "Chiến thắng Bạch Đằng Giang đặt nền móng cho việc khôi phục quốc thống. Các đời sau này như Đinh, Lý, Trần, Lê sau này đều dựa vào chiến công dựng nước này, chứ đâu chỉ rực rỡ một thời mà thôi!"


Về Bạch Đằng Giang:


Theo Dư Địa Chí (của Nguyễn Trãi) sông Bạch Đằng hay Đằng Giang xưa có tên là sông Vân Cừ. Đây là chi lưu của sông Thái Bình chảy qua địa phận huyện Thủy Nguyên (trực thuộc thành phố Hải Phòng ngày nay). Tại địa phương, sông Bạch Đằng có tên là Sông Rừng hay Sông Dầng, nơi có Làng Rừng, bến đò Rừng, phà Rừng. Theo Cương Mục, sông Bạch Đằng rộng hơn 2 dặm (mỗi dặm khoảng 500m); "hai bên sông núi cao; có nhiều nhánh sông đổ lại như Sông Giá, Sông Chanh, sông Đá Bạch; sóng cồn man mác giáp tận chân trời, cây cối um tùm che lấp bờ bến..."


Hiện trạng, sông Bạch Đằng là khúc cuối của sông Đá Bạch, dài khoảng 20km, rộng khoảng gần 2km (vào lúc thủy triều lên), bên hữu ngạn sông Bạch Đằng là huyện Thủy Nguyên và tả ngạn là huyện Yên Hưng (tỉnh Quảng Ninh, tức tỉnh Quảng Yên cũ). Tại xã Minh Tân (huyện Thủy Nguyên), gần vùng núi U Bò, sông Bạch Đằng có chi lưu là Sông Chanh chảy sang huyện Yên Hưng. Nơi ngã ba sông này và Bạch Đằng Giang còn nhiều dấu tích về "bãi cọc Bạch Đằng Giang".


Đoạn cuối, Bạch Đằng Giang chảy ngang thành phố Hải Phòng có tên là sông Cửa Cấm và đổ ra biển ở Cửa Cấm hay cửa Nam Triệu. Đời nhà Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí ghi chép: "Cửa tấn Nam Triệu rộng khoảng 100 trượng (mỗi trượng khoảng 4m), khi nước triều lên sâu 4 thước ta (mỗi thước ta khoảng 40cm), thuyền công và thuyền tư đều phải dùng cửa này (để ra biển). Năm 1805, đời vua Gia Long, quan địa phương hàng năm, vào tháng giêng (âm lịch) lập đàn tế lễ cầu cho cửa biển này được mưa thuận gió hòa" và cho đóng các bảo (đồn binh) Tĩnh Hải và Ninh Hải ở cửa sông Bạch Đằng. Theo An Nam Đồ Chí (biên soạn đời nhà Mạc) gọi cửa Sông Cấm là Bạch Đằng Hải Khẩu.


Chiến thắng Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền lần thứ nhất đánh tan quân Nam Hán vào năm 938 mở đầu cho nền tự chủ của nước nhà và lần thứ hai vào năm 1288, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đánh tan thủy quân xâm lược Mông Cổ, giữ yên bờ cõi. Ca tụng chiến thắng Bạch Đằng Giang, đời nhà Trần, danh sĩ Trương Hán Siêu làm bài Bạch Đằng Giang Phú (bản dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến), có nhắc tới chiến công của Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo, trích một đoạn như sau:


"Khách có kẻ: Chèo bể bơi giăng, Buồm mây giong gió. Sớm ngọn Tương kia, Chiều hang Vũ nọ Vùng vẫy Giang, Hồ, Tiêu dao Ngô, Sở. Ði cho biết đây, Ði cho biết đó. Chằm Vân Mộng chứa ở trong kho tư tưởng, đã biết bao nhiêu; Mà cái chí khí tứ phương, vẫn còn hăm hở... Qua cửa Ðại Than, Sang bến Ðông Triều; Ðến sông Bạch Ðằng, Ðủng đỉnh phiếm chu. Trắng xoá sóng kềnh muôn dặm, Xanh rì rặng ác một màu; Nước trời lộn sắc, Phong cảnh vừa thu; Ngàn lau quạnh cõi, Bến lách đìu hiu. Giáo gãy đầy sông, Cốt khô đầy gò, Ngậm ngùi đứng lặng, Ngắm cuộc phù du. Thương kẻ anh hùng đâu vắng tá? Mà đây dấu vết vẫn còn lưu! ... Ðây là chỗ chiến địa của vua Trần bắt giặc Nguyên, Và là nơi cố châu của vua Ngô phá quân Lưu đấy. Ðương khi: Muôn đội thuyền bày, hai quân giáo chỉ. Guơm tuốt sáng lòe, cờ bay đỏ khé! Tướng Bắc, quân Nam; Ðôi bên đối lũy. Ðã nổi gió mà bay mây, Lại kinh thiên mà động địa. Kìa Nam Hán đọ mưu sâu, Nọ Hồ Nguyên so sức khoẻ. Nó bảo rằng: Phen này đạp đổ cõi Nam, tưởng chừng cũng dễ! May sao: Trời giúp quân ta, Mây tan trận nó. Khác nào như: Quân Tào Tháo bị vỡ ở sông Xích Bích khi xưa. Giặc Phù Kiên bị tan ở bến Hợp Phì thuở nọ. Ấy cái nhục tầy trời của họ, há những một thời; Mà cái công tái tạo của ta, lưu danh thiên cổ...


CÁC LÀNG, XÃ THỜ NGÔ QUYỀN:


- Huyện Phúc Thọ: Đường Lâm.

- Huyện Tam Đảo: Hương Canh, Ngọc Canh.

- Thành phố Hải Phòng: Cát Bi, Hàng Kênh, Nhân Thọ.

- Huyện Hải An: Nam Pháp; Thượng Đoạn, Hạ Đoạn, Trung Hành, Hạ Lũng, đang Thâm.

Huyện An Dương: Kiều Sơn, Gia Viên, Lương Sâm, Vạn Mỹ, Xâm Đông, Đông Khê, Đông An, Thư Trung, Cát Khê, Phương Lưu, Phụng Pháp, Lũng Bắc.

- Huyện Kinh Môn: An Khê.

- Huyện Tiên Lữ: Nghĩa Chế.

- Thị xã Kiến An: Đồng Xá.


CÁC LÀNG, XÃ THỜ THÂN QUYẾN CỦA NGÔ QUYỀN:


-Tương truyền mộ tổ Ngô Quyền ở xã Kê Lạc (huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên);

- Đền thờ Nàng Cả (là vợ ba của Ngô Quyền) ở xã Tống Trân (huyện Phù Cừ), xã Kê Lạc (huyện Tiên Lữ);

- Đền thờ các con của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập, và Ngô Xương Xí ở làng Phí Trạch (huyện Sơn Lãng), Lang Thâm (huyện Hải An).


Hà Mai Phương & Lưu Chu Thanh Tao

Tạp chí Văn Hóa Việt Nam số 40 (MÙA XUÂN 2008)



Cung Tac Gia

Cùng Tác Giả:

 

- Cuộc Khởi Nghĩa của Hai Bà Trưng Hà Mai Phương Khảo luận

- Chiến Thắng Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền Năm 939 Hà Mai Phương Biên khảo

 

 

Nhan Vat

 

 

Nhân Vật

 

- Người Chàm Trong Mắt Tôi (Nguyễn Ngọc Chính)

- Công lao Tổng thống Ngô Đình Diệm cần được tôn vinh (Lê Công Định)

- Alexander Solzhenitsyn: Văn Tài và Đạo Đức của Sự Thật (Bùi Tiên Khôi)

- Bùi Thị Minh Hằng (Vũ Đông Hà)

- "Lạc Lõng" Cậu Nho Sinh Người Mỹ Gốc Việt

(Thiên An)

- Thủ Bút Của Trần Trọng Kim - Thư Gửi Hoàng Xuân Hãn (Nguyễn Đức Toàn)

- Chú Hề Buồn Bã (Lê Hữu)

- Giải mã lãnh tụ: Một đóng góp quan trọng của Trần Đức Thảo (Đoàn Thanh Liêm)

- Vịn Câu Thơ Mà Đứng Dậy (Trần Trung Đạo)

- Bài Thơ Cho Đỗ Thị Minh Hạnh (Trần Trung Đạo)

- Ngõ Phất Lộc: Từ Nguyễn Hiến Lê đến Người Buôn Gió (Đoàn Thanh Liêm)

- Gió Bão Ngoại Giao Thời Thịnh Trần và Vị Sứ Thần Lỗi Lạc Đinh Củng Viên (Phạm Khắc Hàm)

- Sứ Thần Giang Văn Minh Không Làm Nhục Quốc Thể (Tạ Quốc Tuấn)

- Việt Dzũng, nghệ sĩ đấu tranh không tàn tật tâm hồn (Võ Đại Tôn)

- Để So Sánh Các Anh Hùng Trước Nguyễn Huệ với Nguyễn Huệ (Phạm Văn Sơn)

- Nelson Mandela, Quyền lực của sự tha thứ

(Nguyễn Hưng Quốc)

- Bình Luận và Vịnh Nhị Trưng (Dương Bá Trạc)

- Gia Đình Trưng Vương (Hoa Bằng)

- Trần Danh San, Tiếng hò khoan đã tắt

(Phan Nhật nam)

- Danh Tướng Thi Nhân Phạm Ngũ Lão (Tạ Quốc Tuấn)

- Cuộc Khởi Nghĩa của Hai Bà Trưng (Hà Mai Phương)

- Chiến Thắng Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền Năm 939 (Hà Mai Phương)

- Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà và Anh Hùng Đánh Tống-Bình Chiêm Lý Thường Kiệt (Lý Tế Xuyên)

- Lê Lợi, Nguyễn Trãi và Cuộc Cách Mệnh Lam Sơn

(Trần Ngọc Ninh)

- Phạm Ngũ Lão (Phan Kế Bính)

- Đặng Dung, Bậc Anh Hùng Lỡ Vận và bài thơ "Cảm Hoài" (Phạm Khắc Hàm)

- Sử Thi Về Hai Bà Trưng (Viên Linh)

- Ô cửa nhỏ của Thục Vy (Lê Hữu)

- Bà Lương Giết Giặc Minh Hạ Thành Cổ Lộng

(Chu Thiên)

- Hiểm họa từ Trung Quốc (T. V. Phê)

- Feb 1, 2003: Phi thuyền con thoi Columbia bị nổ tung (T. V. Phê)

- Chuyện trùng hợp lạ kỳ (T. V. Phê)

- Đạt Phan, người giễu hay nhất nước Mỹ năm 2003 (T. V. Phê)

- Dương Nguyệt Ánh góp phần chiến thắng tại A Phú Hãn (T. V. Phê)

- Người làm rạng danh tổ quốc: Mai Văn Hòa

(T. V. Phê)

- Ngôn ngữ thời Internet (T. V. Phê)

- Tiếng Việt lý thú (T. V. Phê)

- Tiệc đầu khỉ, cỗ đầu người (T. V. Phê)

- Nhạc võ Tây Sơn (T. V. Phê)

- Vua Quang Trung (T. V. Phê)

- Cảnh nghèo khó và bệnh tật của thi hào Nguyễn Du (T. V. Phê)

- Cỏ cây trong Truyện Kiều (T. V. Phê)

- Ngày giờ nàng Kiều bị bắt (T. V. Phê)

- Cái ghen của Hoạn Thư (T. V. Phê)

- Cù lao chín chữ (T. V. Phê)

- Mối tình của nữ sĩ Hồ Xuân Hương với Nguyễn Du (T. V. Phê)

- Áo dài Lemur: "thủy tổ" những chiếc áo dài ngày nay (T. V. Phê)

- Ca trù hồi sinh (T. V. Phê)

- Câu đối (T. V. Phê)

- Sáu luật về dấu hỏi ngã (T. V. Phê)

- Nước ta có Sử từ đời nào? (T. V. Phê)

- Dòng giống Tiên Rồng (T. V. Phê)

- Người Việt xấu xí?! (T. V. Phê)

- Người Chăm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam

(T. V. Phê)

- Không mới nhưng ... lạ (Minh Nguyệt)

- Ông tổ triết thuyết hiện sinh sống ra sao?

(T. V. Phê)

- Dũng khí của nhà văn (T. V. Phê)

- Nằm gai nếm mật (T. V. Phê)

- Chết vì một bài thơ (T. V. Phê)

- Ai công hầu, ai khanh tướng (T. V. Phê)

 

Phim Tài Liệu

 

L'exode du Nord Viet Nam

 

 

 
© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@hotmail.com)