|
|
|
|
|
VĂN HỌC |
GIAI THOẠI | TIỂU LUÂN | THƠ | TRUYỆN | THỜI LUẬN | NHÂN VẬT | ÂM NHẠC | HỘI HỌA | KHOA HỌC | GIẢI TRÍ | TIỂU SỬ |
Thơ Văn Trần Y. Hoa & Bằng hữu
Thơ Văn Trần Yên Hoà & Bằng hữu
— Dự Án Lịch Sử Truyền Khẩu Về Chiến Tranh Việt Nam Của Tiểu Bang Minnesota
Minnesota Historical Social Oral History Service (MNHS) ghi nhận lại những kinh nghiệm của cư dân Minnesota trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam (c.1960-1975) qua 101 cuộc phỏng vấn lịch sử truyền khẩu. Lịch trình dự án từ tháng 8 năm 2017 cho đến tháng 6 năm 2019. Được tài trợ bởi Legacy Amendment, cám ơn sự thông qua việc bỏ phiếu vào ngày 4 tháng 11, 2018 của cư dân Minnesota như món quà tặng cho thế hệ sau.
Những cuộc phỏng vấn về trải nghiệm cuộc sống lịch sử có tiêu điểm vào những năm chiến tranh mùa Hoa Kỳ tại Việt Nam và Đông Nam Á. Những người tường thuật (người được phỏng vấn) gồm có những cựu quân nhân ở Minnesota đã tham chiến tại Việt Nam, thân nhân của cựu quân nhân, những người tỵ nạn Đông Nam Á và cựu quân nhân của Quân Lực Việt Nam Công Hoà đã định cư ở Minnesota sau chiến tranh, những người tham gia cuộc phản chiến và có liên hệ đến những phong trào xã hội ở Minnesota. Những người tường thuật rất đa dạng từ chủng tộc, giới tính, giai cấp và các liên kết chính trị với mục tiêu ghi lại một loạt các tiếng nói và câu chuyện từ một trong những thời kỳ gây chia rẻ nhất trong thời hiện đại của Hoa Kỳ. Thực hiện một nổ lực để phỏng vấn những cá nhân trên toàn tiểu bang Minnesota. Những người phỏng vấn cho dự án này là Doug Bekke, cựu giám tuyển Bảo Tàng Quân Sự của tiểu bang Minnesota (Military Museum In Minnesota), sử gia truyền khẩu và cựu quân nhân; Tiến Sĩ Kim Heikkila, sử gia truyền khẩu và học giả chuyên môn về chiến tranh Việt Nam; Mica Lee Anderson, nghệ nhân, chuyên gia nghiên cứu gia phả, sử gia truyền khẩu; Trần Thị Minh Phước, thuyền nhân, người tỵ nạn chiến tranh Việt Nam, quản thủ thư viện, người kể chuyện chuyên nghiệp, tác giả đoạt giải thưởng và sử gia truyền khẩu và Thầy Simon Hoà- Phan, giáo viên mỹ thuật, nghệ nhân video, người tỵ nạn Việt Nam, tu sĩ công giáo.
Các cuộc phỏng vấn cho dự án là một phần của lịch sử truyền khẩu lưu lại vĩnh viễn tại MNHS Gale, bộ sưu tập danh mục trực tuyến và Voices of Minnesota trên mạng.
(http://collections.mnhs.org/voicesofmn)
Thông tin về Văn Phòng Lịch Sử của Minnesota
Từ năm 1948, Văn phòng MNHS đã sử dùng lịch sử truyền khẩu để ghi lại quá khứ và hiện tại của tiểu bang Minnesota. Bộ sưu tập lịch sử truyền khẩu với hơn 3000 cuộc phóng vấn với mọi người từ khắp tiểu bang Minnesota bao gồm những cuộc phỏng vấn lịch sử cuộc sống với các chính trị gia, những nghệ danh, những doanh nhân, những người di dân, những nhà hoạt động, những lảnh đạo cộng đồng, những cựu quân nhân và hơn thế nữa. Toàn bộ cuộc phỏng vấn được ghi âm và sao chép lại có thể nghe và đọc thông qua MNHS Gale Family, Collection Online Catalog, và mạng Voices of Minnesota, tạo thành một trong những sưu tập về lịch sử truyền khẩu lớn nhất trên mạng trong toàn nước. MNHS Oral History Office cũng là nguồn tài liệu đối với những cá nhân và các tổ chức quan tâm lịch sử truyền khẩu và muốn thực hiện các cuộc phỏng vấn của chính họ.
Trích sách: VietNam Era Oral History Project - Minnesota Historical Society

Anh Trần Văn Quý
Tôi tên là Trần Thị Minh Phước. Tôi đang thực hiện cuộc phỏng vấn anh Trần Văn Quý tại Saint Paul Minnesota. Anh Quý là người lính biệt kích nhảy Bắc trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Xin chào anh Quý.
QT: Dạ xin chào chị. Tôi tên là Trần Văn Quý, tôi vào quân đội tháng 10 năm 1965. Tôi được huấn luyện nhiều môn cho hết năm 1966 và đến ngày 23 tháng 1, 1967 thì tôi đi công tác nhảy Bắc và đến ngày 4/2/1967 thì tôi bị bắt và cầm tù, đi qua nhiều trại cho tới năm 1982, tháng 7 và tôi được thả và về Sài Gòn.
PT: Xin cám ơn anh Quý đã chấp nhận nhận lời mời về cuộc phòng vấn này. Trước hết tôi muốn biết anh có thắc mắc về cuộc phỏng vấn này không?
QT: Dạ không ạ.
PT: Bây giờ xin được bắt đầu cuộc phỏng vấn. Xin anh cho biết tên và đánh vần tên và họ của anh.
QT: Tôi là Quý Văn Trần. Q.U.Y V.A.N TRAN
PT: Dạ cám ơn anh. Trước hết xin anh nói về thời thơ ấu, anh sinh ra ở đâu, năm nào, cách sinh sống, gia đình, cha mẹ và anh chị em. Xin kể một chút về họ và bản thân anh.
QT: Tôi sinh ở miền Bắc Việt Nam , năm 1944. Tôi đi học tiểu học cho tới năm 1954 thì tôi di cư vào miền Nam và tôi ở trại Phú Thọ Lều. Tôi học Trung Học ở các trường tư, trường Quốc Việt hay là trường Minh Phụng, sau đó tôi thi tú tài rớt thì tôi đi vào quân đội năm 1965.
PT: Dạ cám ơn anh. Anh còn nhớ lúc đất nước chia đôi thì cuộc di cư như thế nào và lúc đó anh bao nhiêu tuổi?
QT: Tôi di cư thì hồi đó tôi rất là nhỏ nhưng mà tôi chỉ biết là di cư thì từ ở làng đi bộ lên trên Hải Dương và từ Hải Dương đi xuống tàu, đi xe lửa, rồi đi xuống tàu hả mồm rồi vào tới Sài Gòn mãi về sau này thì mới biết Sài Gòn, chứ vào bến nào thì tôi thì không được rành lắm vì gia đình tôi..mẹ tôi mang 2 bà chị và 1 cô em.., 2 cô em gái rồi gia đình sinh sống bán tiệm tạp hóa và hiện tại bây giờ vẫn còn cái địa chỉ đó ở Phú Thọ, trường đua Phú Thọ.
PT: Bây giờ còn ai ở đó không anh hay là đi hết qua Mỹ rồi?
QT: Dạ đi hết qua Mỹ rồi, em gái tôi, một người ở Massachusetts, thành phố Boston, còn một chị nửa ..chị nửa thì ở North Carolina.
PT: Theo anh thì anh được tuyển vào Biệt Kích Dù năm nào, lúc đó anh được bao nhiêu tuổi?
QT: Dạ năm đó là tôi 20 tuổi .. tôi thi tú tài rớt cho nên tôi không biết đi đâu thì có một số người ở trong binh chủng đó nói rằng là nếu mình đi vào ngành này mà mình đi công tác thành công, 2 lần thôi thì sẽ vào Thủ Đức học khóa đặc biệt 3 tháng thì lại mang ra cấp bậc, cũng cấp bậc giống như sĩ quan Cộng Hòa nhưng mà luôn luôn làm trong sở liên lạc hay là tiếp tế những cái toán nhảy Bắc cho nên thì cuộc sống nó khác hơn là đi đánh trận ở... lính Cộng Hòa hay là các vị đi trong các ngành lính khác.
PT: Như vậy là anh đã đi được 2 lần chưa trước khi anh bị bắt?
QT: Dạ tôi đi tháng 12, thì tôi đi một lần , nhưng mà ra ngoài Bắc thì không ... tháng 12, 1966 thì tôi đã ra ngoài Bắc rồi nhưng mà bởi vì đi lượn một vòng không kiếm được bải đáp bởi vì gió mùa đông bắc sương mù cho nên lại phải về trại Long Thành ở trong khu cấm, không được...cái thời gian đó không được giờ nghĩ phép cho tới mãi đến tháng 23 tháng một, 1967 thì mới có một cái lệnh nửa thì bắt đầu chúng tôi đi, trời tan mây tạnh rồi thì chúng tôi mới đáp xuống cái vùng đó, là vùng ở ngã ba biên giới Lào, Campuchia và Việt Nam.
PT: Lúc đó anh có gia đình chưa?
QT: Dạ lúc bấy giờ chưa, tôi 20 tuổi và chưa lập gia đình ạ .
PT: Như vậy xin anh nói thêm một chút về cái Biệt Kích Nhảy Bắc, là anh đội nào và anh có bạn bè, thế nào như thế nào...?
QT: Dạ Biệt Kích Nhảy Bắc thì, vào trong đó tâm lý chiến dạy.. thì bởi khi mà được học ở trong trường thì thấy việt cộng ... ở trong miền Nam nó cũng nằm vùng và nó cũng giết một số mấy ông trưởng ấp ở các miền quê đó thì chúng tôi thấy là cuộc sống rất đau lòng vì thanh niên cho nên yêu đất nước theo những các thầy dạy ở trong trường mình là một người con..của đất nước chiến tranh thì mình phải xông pha tham gia chiến tranh để cứu giúp đồng bào cho nên chúng tôi được tham gia cái mật trận là ra ngoài Bắc để nằm vùng..vùng giống như Việt Cộng vào trong miền Nam cho đến khi nào quân đội Việt Nam Cộng Hòa Bắc tiến thì chúng tôi là, thứ nhất là chỉ điểm, thứ hai là biết rõ nguồn gốc ở tất cả các nơi, những người cộng sản đứng đầu hay là cũng là trưởng ấp hay là tất cả các nơi hành chánh để chúng tôi đứng lên chỉ điểm để quân đội Việt Nam Cộng Hòa mình thu gọn chiến trường cho nó được nhanh hơn.
PT: Thì cái vấn đề mà huấn luyện và giảng dạy của anh là người Mỹ hay là người Việt?
QT: Tất cả những người huấn luyện tôi hoàn toàn đều là người Mỹ hết, chỉ có một số, một ông trung úy thì.. cũng thay đổi nhau và đứng với một người thông dịch, thì đứng ra để cố vấn và cố vấn những điều chúng tôi làm sai thì có thể làm lại, chớ còn tất cả giảng dạy đều là hoàn toàn người Mỹ chớ không có một người Việt Nam nào dạy.
PT: Ở đó là trại Long Thành phải không anh?
QT: Vâng, thưa ở đó là trại.. trại Quyết Thắng, ở quận Long Thành, chớ không phải trại Long Thanh.
PT: Dạ , dạ xin lỗi. Cám ơn anh. Dạ còn toán của anh là tên gì và tại sao họ đặt tên ...họ dựa vô đâu mà họ đặt tên các toán và toán có bao nhiêu người?
QT: Dạ về... ở trên thì đặt tên thì chúng tôi không được nắm vững, nhưng mà chỉ biết khi đi vào trong khu cấm mà để thuyết trình thì đặt tên chúng tôi là toán Hadley. Hadley thì.. là theo thứ tự...không phải là theo thứ tự mà theo ở trên đó đặt theo cái.. mật mã, gọi là mật mã thì chúng tôi được.. toán Hadley và liên lạc ...và như các cái... tất cà những sự liên lạc thì ở trên đó nói là thì gỏ..gỏ Morse rồi đi ra trực tiếp ra hạm đội 7 chớ không có vào từ Sài Gòn.
Trang trong của sách
"VIETNAM ERA
ORAL HISTORY PROJECT"
PT: Vậy thì là cái toán Biệt Kích Nhảy Bắc và những người trong Việt Nam Cộng Hòa trong quân đội, các binh chủng khác, nó khác nhau như thế nào? Anh có mặc quần..mặc quần áo như các binh chủng khác hay không?
QT: Dạ chúng tôi nếu.. mà ở trong trại thì có thể được mặc bộ quần áo rằn ri Thủy Quân Lục Chiến và cũng có thể được nhảy dù vì chúng tôi đã nhảy dù nhiều hơn những tất cả binh chủng nhảy dù, là vì chúng tôi cứ mỗi một tuần thì phải nhảy một lần chúng tôi ít nhất là cũng có anh là được Nhành Dương Liễu hay ngôi sao trong nhảy dù rồi; còn chúng tôi đi về phép hay là đi đâu chơi thì hoàn toàn mặc bộ quần áo thường thôi, bao civil thôi chớ không được mặc quần áo lính nhưng mà chúng tôi có thể..ví dụ là lên Đà Lạt thực tập, có thể chúng tôi được đội nón đỏ, chớ không được đội nón xanh bao giờ,... không đội nón xanh... nón đỏ là.. vì chúng tôi cũng học nhảy dù trong trại Hoàng Hoa Thám giống như các anh nhảy dù khác và chúng tôi ở trong cái huy hiệu thì cũng là con cọp nhảy qua ba đám mây ở trên cái dù của lực lượng đặc biệt.
PT: Dạ anh nói rỏ thêm về cái nhóm của anh là có bao nhiêu người và bây giờ anh còn liên lạc với các anh chị đó không?
QT: Dạ cái nhóm của tôi nhảy Bắc là mười một người... ở miền Bắc thì chúng tôi cũng có một anh đó, thì đến năm 70 bị bệnh đó, anh Lương Trọng Thưởng, vâng anh ấy là truyền tin, and ấy bị bệnh chết. Khi được thả năm 1982 về thì chúng tôi cũng còn đầy đủ hết. Nhưng trước khi đi Mỹ có một người, có anh toán phó, cũng là toán phó truyền tin, anh Phạm Viết Phúc thì cũng bị bệnh mà mất, sang tới ở bên này thì cũng có một anh mất ở tiểu bang Missouri, còn bây giờ thì chúng tôi vẫn thường xuyên liên lạc với nhau. Hai anh thì ở Chicago, một anh ở Maryland còn mấy anh nửa thì ở Garden Grove California .
PT: Thế là rất vui anh hả tại vì bạn bè cứ nhớ lại chuyện hồi xưa. Khi mà các anh gặp lại nhau thì các anh kể chuyện gì?
QT: Bây giờ thì chúng tôi cũng lớn tuổi rồi nên khi gặp nhau bây giờ thì đa số hỏi con cái, những bạn nào mà có con, nhiều con thì hỏi xem là đã học tốt nghiệp đại học chưa, rồi có kiếm được việc làm không? Đa số là như vậy, chứ còn ôn lại cảnh tù tội thì chúng tôi không có ôn là bởi vì ôn thì là quá nhiều cái đắng cay và sang đến tự do này thì chúng tôi kể như là quên đi, chủ yếu hỏi về các con . Đó là một cái tương lai, đó là một cái hy vọng của chúng tôi để sống nhờ vào các giấc mơ của hồi xa xưa, chớ còn bây giờ nói về các cái chuyện khổ cực thì chúng tôi không có bút nào tả hết được, nổi khổ cực mà chúng tôi chịu đựng trong suốt một thời gian, ví dụ như ở trại Quyết Tiến, chẳng hạn cái trại đó tất cã chúng tôi tới đó, có một số thôi, một số ở trại Tân Lập nhưng tới đó thì đa số là bị cùm và nhìn thấy cái cảnh mà cái đồi, một cái đồi mà bất cứ đào ở chổ nào cũng có xương người hết. Bởi vì chôn đến nổi nó..mà nước mưa nó xoáy mòn và không có nấm mộ. Cho nên nhiều khi là đào chôn những người sau này đều trúng vào các xương người vì nó quá nhiều. Cái trại Quyết Tiến là một trại tất cả những người tù chính trị ở miền Bắc năm 1954 cho tới các ông cha hay là các thầy hay là các tù mà đi lính Pháp hồi xưa là lên đến đó là khai tử hết, không có người nào được về sống sót hết.
PT: Cái trại đó nằm ở đâu anh, ngoài Bắc, ở khu nào anh há?
QT: Cái trại đó cũng là trại Quyết Tiến mà thuộc về tỉnh Hà Giang, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, cách Trung Quốc đường chim bay là 40 kilometres... còn đi bộ là 40 kilometres, còn đường chim bay thì nhanh hơn nhiều.
PT: Hồi nảy anh nói về các anh em, bây giờ nói về gia đình con cái sau này thì anh cho em biết là anh lập gia đình năm nào và anh có bao nhiêu người con?
QT: Dạ tôi về thì tôi lập gia đình năm 1983. Tôi cưới vợ tôi năm 1983 thì năm 1983... năm 85 thì tôi sanh ra được một cháu và năm 88 tôi sanh được một cháu. Tôi có 2 cháu gái. Khi sang Mỹ năm 1993 thì cháu lớn được t sáu [tám] tuổi còn cháu nhỏ năm tuổi cho nên chúng tôi...Hiện tại bây giờ cháu lớn thì làm việc lái xe mini van cho học sinh, còn cháu nhỏ thì làm ở bệnh viện Fairview ở Minneapolis.
PT: Dạ cám ơn anh. Các cháu rất là thành công.
Và còn lúc mà anh qua Mỹ thì anh qua đâu lúc mà từ Việt Nam? Anh qua diện gì, thuộc diện gì và anh qua tại đâu trước?
QT: Trong danh sách thì tôi xin về Chicago là theo một ông cha, nhưng mà tôi có một người nan ở thành phố Saint Paul Minnesota về chơi cho nên tôi mới nói là nếu mà đồng ý thì cho tôi mặc hồ sơ thì ..(người bạn đó [là] gái).. thì nộp hồ sơ ở USCC, ở ông Tòng , hồi đó là ông Tiếng... cho nên nộp hồ sơ ở đó thì cô ta có nói là ở đây là xứ thì lạnh mà tình cảm thì rất là thân thiện chứ không có xô bồ nhiều thế nên tôi đã nộp đơn và tôi.. là người không có chạy chọt để mẫu tiền để xin được tâng H.O hay gì đó...cho nên H.O của tôi nộp đơn là theo thứ tự, là tôi 21 ng mà bởi vì tôi tù lâu hơn... thì cũng trong anh em chúng tôi thì tôi được tăng lên HO 15 và xã như trong tất cả biệt kích thì trong số đó thì có 3 người, tôi với anh ...một anh kia nửa là đi sớm nhất ...còn anh Tiếp thì anh ấy đi trước nửa rồi, cho nên ..anh theo gia đình còn chúng tôi lan biệt kích, mà nó gọi là mồ côi đó thì tôi là một trong ba người đi sớm nhất, là tháng 3, 1993.
PT: Và bây giờ các anh em khác đã đoàn tụ hay là đi qua Mỹ chưa anh?
QT: Dạ theo hồ sơ và theo thứ tự thì chúng tôi lần lượt đi sang bên Mỹ này hết rồi. Chỉ có anh trễ nhất thì qua năm ...95 thôi. Chớ còn đa số là anh em được bởi vì cũng đặc biệt là được ông Thuật sư khi chúng tôi nộp hồ sơ lên trên bộ quốc phòng để xin trợ cấp với để xin tiền bồi thường tìm có các ông luật sư đã can thiệp. Chẳng hạn như anh Ngô Đệ ở tù, ở trong trại giam Hồng Kong cũng được ông John Mess đi vào bộ phận nào đó không biết, đưa hồ sơ vô tới đó ký..,ký để m hồ sơ.
PT: Xin anh nói về một chút về thủ tục khi mà nộp đơn để đi Mỹ theo diện H.O khó khăn như Thế nào? Và làm sao anh biết được?
QT: Cái chương trình H.O thì có từ lâu rồi, từ năm 1988, những người H.O1 và H.O2 là do mác người có thân nhân bảo lảnh, còn như chúng tôi khi nộp hồ sơ thì không có được chấp nhận vì chúng tôi là tù trước 1975 cho nên ở quận nó cũng không nhận và quận Bình Thạnh hay là máu..các nơi khác thì không nơi nào nhận hết, nhưng mà may quá chúng tôi nộp ở đó thì có một Trời quen nói thế là cứ nhận đại hồ sơ của anh đi chớ.. hồ sơ của anh mà...tù .. tù từ năm 1967 ... không có...không có chương trình như vậy. Thế là chúng tôi cứ nộp lên, may quá bắt đầu chúng tôi ở quận 11 thì được, về sau các anh em ở các quận Bình Thạnh hay Ông Tạ hay các nơi khác thì bắt đầu cứ nhờ, có anh thì mất tiền, có anh thì không cứ nhờ thì người ta nhận rồi lên tên đó thì cũng được, khi phỏng vấn ở...bây giờ tôi không nhớ được chổ nào nửa...đường Nguyễn Du gì đó thì phỏng vấn đưa hồ sơ chúng tôi ...những người thông dịch viên cũng nói là “Ta tù lâu vậy đâu có chương trình đâu.” Thế nhưng mà sao đó gọi mấy người trưởng phòng ra mới, “Nó đi tù lâu mà Mỹ yêu cầu cho nó đi là được rồi.” Thế là chúng tôi làm thủ tục để đi.

PT: Theo anh thì bây giờ còn những anh Biệt Kích Nhảy Bắc còn ở Việt Nam hay không?
QT: Dạ còn một số anh, thứ nhứt là già rồi, thứ hai là cũng không...thứ nhứt là già, thứ hai là hồ sơ trục trật gì đó, thứ hai là có khi lảnh tiền bồi thường rồi từ chối không có đi nửa bởi vì ở nhà cũng làm ruộng thôi hay là coi bố mẹ già gì đó, nhiều lý do chúng tôi không được rành lắm, mà còn một số, ví dụ như là toán tôi hiện tại còn có một anh Nguyễn Thế Khoa ở huyện Củ Chi, Sài Gòn, còn một số..đa số ở Tụ Nghĩa, cũng có anh ở mãi Ban Mê Thuộc, như anh Hà Văn Hoàng ở Ban Mê Thuộc, còn ở Tụ Nghĩa thì có anh Đàm Văn Ngô thì cũng mới mất rồi. Còn một số anh thì tôi không được biết nhiều.
PT: Cám ơn anh. Anh nói là anh bị bắt từ năm 1968 thì xin anh kể một ngày trong tù cộng sản như thế nào khi mà nó bắt. Khi mà anh nhảy xuống thì nó bắt liền hay là như thế nào, anh kể khoảng thời gian đó.
QT: Khi nhảy xuống thì vào ngày 23 đến ngày 25 tháng một thì chúng tôi có dùng các máy, không biết bấy giờ gọi là tên máy gì, nhưng chúng tôi gọi là máy đầu bò, quay cái cục dynamo thì để truyền tin về morse về Sài Gòn, nhưng mà chúng tôi là bộ phận chia ra từng tổ một cho nên tổ truyền tin chỉ có 3 người và người ta gỏ tín hiệu về thông báo về hạm đội 7 thì chúng tôi không được rành lắm, vì chúng tôi chỉ biết gác ở phía ngoài thôi, rồi đến ngày hôm sau thì chúng tôi di chuyễn, thì cũng bắt đầu chúng tôi bị đụng, rồi chúng tôi chạy thì cứ...chúng tôi vẫn là ở bên địa phận bên Lào chớ chưa vào tới Việt Nam, nhưng mà chúng tôi có chôn 2 cái máy, một cái máy gọi là máy đếm các cái loại xe, và vì đi công tác, chúng tôi có một mục đích là tại sao mà đường mòn Hồ Chí Minh bom Mỹ thả nhiều như vậy mà xe tăng, xe vẫn vào được. Cho nên chúng tôi tới đến để tham sát và chúng tôi chôn cái máy đó. Về sau khi bị bắt thì chúng tôi mới biết được là tất cả những con đường mòn Hồ Chí Minh là đều có những thanh nam, thanh nử thanh niên xung phong, tất cả những người nào đó đều có chuẩn bị mổi người một gánh đá đổ trong các hóc đá hay là trong các cái hẽm đến lúc bom nó thả con đường...thì thả xong một cái thì bắt đầu tất cả mấy trăm người đó mỗi người gánh một gánh đá rồi ra đổ lại đầy...rồi sau đó bom thả, lại gánh đầy cho nên là sự lao động của người ta rất là ...nói chung là kiên trì. Và khi chúng tôi bị bắt ngày 4 tháng 2 thì tôi bị bắt và giãi về Hà Tỉnh, rồi ở trong nhà dân thì chúng tôi cũng được hiểu một phần nào về vấn đề hợp tác xã, sau đó chúng tôi ..mấy tháng sau, tôi...nhớ không lầm là tháng 7, 1967 thì chúng tôi giam ở Hỏa Lò, ra Hỏa Lò được một tuần thì chúng tôi chuyển về xà lim của bộ công an thuộc về tỉnh Hà Đông, nhưng mà cách Hà Nội khoảng 2 kilo mét , thì chúng tôi giam ở đình Tân Lập, mỗi người một phòng . Khi giam ở đó thì chúng tôi mới có nhận được cái lệnh là ông John McCain mới bị rớt ở hồ Trúc Bạch thì bắt đầu cán bộ nó vào nó nói rằng là, “Quan thầy của chúng mày chúng tao cũng bắt huống gì chúng mầy.”; rồi giam chổ chúng tôi ..thế thì ra mỗi chỗ chúng tôi thì cũng có những người Mỹ...Tết Mậu Thân năm 1968 cũng giam ở chung trong một ..cái trại, xà lim của bộ công an, đình Tân Lập, trại Thanh Liệt , thành phố Hà Đông.
PT: Anh có thể nói thêm một chút về cái Hỏa Lò mà người ta gọi là Hà Nội Hilton em biết là lúc đó là ông McCain cũng bị bắt và cũng ở trong đó, thì việc ăn uống và họ tra tấn mình hay là họ làm cái gì...như thế nào?
QT: Chúng tôi vẫn giam ở trong xà lim của Hỏa Lò, được có 2 tuần thôi, thì chúng tôi chuyễn mề xà lim của bộ công an ở đình Thanh Liệt..trại.. đình Tân Lập, trại Thanh Liệt , tỉnh Hà Đông. Ở trong cái đình Tân Lập đó chúng tôi mỗi người một phòng, cái giường đó ...cái giường đó là g rừng một, có thể là khoảng vào...chưa tới ...chiều dài thì tôi khôn g biết là mấy feet. Nhưng Là chiều ngang thì khoảng độ chưa đầy 3 feet...chưa đầy 3 feet, còn một khoảng trống nửa là được cũng khoảng 2 feet nửa thì chúng tôi cứ giam ở trong cái đó cho tới năm 1967...Cho đến năm 1969 thì chúng tôi mới được xuống trại Thanh Phong....là tỉnh Phong Quang, chớ bằng tôi không rành về vấn đề ở đó nữa.
PT: Cám ơn anh. Em có đọc cuốn sách của ông [Kenneth ] Conboy và [Dale] Andrade. Ông nói về cái đội Hadley của anh thì họ nói là lúc mà họ thả các anh xuống đó thì hình như thả lộn chỗ. Họ định là thả trên cái đồi núi có cây cỏ nhưng mà rốt cuộc rồi họ thả trên cái con đường, có đúng vậy không hả anh?
QT: ...Có thể là con đường đó thì không phải là đường mòn, mà con đường của trâu đi ở trong rừng, chúng tôi là có 3 người về thông thạo...tôi là một người, một trong những cái người thông thạo địa bàn nhất thì khi rớt xuống, khi thả xuống đồi thì chúng tôi chấm điểm đứng thì không có một cái điểm nào để đứng được hết, không có một tọa độ để đứng hết, cho nên chúng tôi vạch một chương trình là đi về cái hướng..cái hướng miền Bắc của dòng sông thì chúng tôi đến ngày thứ ba hay thứ bốn gì đó là chúng tôi có gặp nhau và ở đó thì xác định tọa độ, thì chúng nôi mới xác định tọa độ và buổi sáng ra, xác định tọa độ xong rồi chúng tôi mới mang cái panneau, là cái máy kiếng để cắp cứu trực thăng đó thì có một số trực thăng và có cả máy bay cánh quạt nửa, chớ không phải phản lực đi oanh tạc về thì thấy chúng tôi thì bắt đầu là trực thăng lượn một vòng thì chúng tôi rải cái hình chử H là Hadley là mật mả của chúng tôi. Cứ mỗi một anh đi ở trong cái áo bảo hiểm đó là một cái panneau mà màu đỏ phản ánh sáng mặt trời. Thế chúng tôi rải hình chử H của chúng tôi thì có trục thăng tới lượn một vòng và bay đến thì chúng tôi mừng lắm rồi ......nhưng nó vừa mới lượn 1 vòng xong thì chúng tôi bị bao vây và bị bắt. Hôm sau thì mới nghe những bộ đội nó nói rằng là nếu mà không bắt chúng nó sớm 1 tiếng đồng hồ thì chúng nó đã được về rồi.

PT: Vậy thì lúc đó anh thấy cảm nghĩ như thế nào? Đang rất là vui mừng khi thấy trực thăng bay ngang và bây giờ thì Việt Cộng nó ra nó bắt, bắt hết 11 người hay là sao anh?
QT: Chúng tôi bắt ...lúc bấy giờ cái toán chúng tôi chỉ có 9 người thôi còn 2 người thì cái hôm đầu tiên đụng độ ở cái bìa rừng đã bị bắt 2 người rồi. Thế là khi chúng tôi mà bị bắt và thấy máy bay tới là đã mừng rồi, chuẩn bị là khăn gói đi về miền Nam, rồi thì bị bắt, thì chúng tôi thấy bắt ở miền Bắc này thì cuộc đời mình kể như là chấm dứt vì chúng tôi đa số....những người nhảy toán của chúng tôi đa số là thường thường là hy sinh, chớ ít khi có người nào sống, vì chưa nghe người nào sống cả. Thường thường là trên đài Gươm Thiên Ái Quốc thì cũng chưa thấy người nào báo tin ở trong tù về hết, chỉ nói là tử hình thôi.
PT: Cám ơn anh. Rất là cám ơn anh, cái lòng dũng cảm của các anh. Khi mà anh chọn Biệt Kích Nhảy Bắc thì anh cũng đã sẳn sàng nếu mà có gì thì phải hy sinh phải không anh? Gia đình anh nghĩ thế nào?
QT: Khi đi thì...khi đi lính rồi chúng tôi cũng báo với gia đình là chúng tôi đi vào cái ngành lính đặc biệt thôi, chớ không có báo đi nhảy Bắc. Khi đi nhảy Bắc thì chúng tôi có..khi mà có hồ sơ đưa về giấy contract thì chúng tôi ghi người thứ nhất đứng tên là mẹ tôi, người thứ hai là em gái tôi thì tôi cũng đưa về nói là ký các giấy này thôi chớ không có nói rằng là ký để lấy tiền tử tuất cho nên khi hàng tháng thì ...mấy các ông sĩ quan ở Ban Ba thì có ghé về ở nhà tôi phát lương chọ tới năm 1969 thì bắt đầu mẹ tôi lảnh được tiền tử tuất, $50.000 tiền tử tuất, còn năm 1967 đến năm 1969 thì hàng tháng mẹ tôi đều được lảnh, có tháng... cái hồi đó là lảnh theo tiền đi công tác, tôi cũng không rành là bao nhiêu?
PT: Họ trả bằng tiền Việt Nam của mình , Việt Nam Cộng Hòa, hay họ trả tiền dollars anh?
QT: Thường thường thì trả tiền bằng tiền Việt Nam Cộng Hòa, chớ không có bằng dollars, nhưng mà tính truy ra thì chúng tôi nếu mà một tháng, 30 ngày thì chúng tôi lảnh được 13..13 ngàn, còn nếu 31 ngày thì lảnh đâu ...và tiền xâm nhập nửa, là lảnh đâu 15 ngàn/1 tháng.
PT: Dạ thưa bây giờ...bây giờ ba mẹ còn ở đâu, ở Việt Nam hay còn sống hay không? QT: Dạ ba mẹ tôi. Ba tôi thì mất lâu rồi, còn má tôi thì mới mất năm 2005.
PT:Ông bà cụ được bao nhiêu tuổi anh khi mất?
QT: Dạ ba tôi khi mất là 82 còn má tôi mất năm 95 tuổi.
PT: Tốt quá, tất cả các cụ mất sau 1975 hả anh?
QT: Dạ ba tôi mất năm 1982 trước khi tôi về. Thì tôi về thì được đâu 60 ngày rồi, chưa tới 100 ngày, còn một tháng nửa thì cụ giổ 100 ngày, còn má tôi mất năm 2005.
PT: Như vậy bà cụ vẫn ở Việt Nam hay bà cụ qua đây anh?
QT: Dạ má tôi già rồi. Với ở Việt Nam thì mẹ tôi ở trong nhà thờ có giáo xứ và cuộc sống thì ...chị tôi thì buôn bán khá giả cho nên cụ ở Việt Nam chớ không thích qua Mỹ.
PT: Dạ ở Sài Gòn hả anh?
QT: Dạ vâng. Dạ ở ...trường đua Phú Thọ đó, ngay quận 11 ạ.
PT: Hồi nảy anh nói là lúc họ vẫn trả lương tiền tử cho anh và lúc tới sau 1975 là coi như không còn nửa. Hay là lúc đó anh về họ biết không?
QT: Dạ chỉ trả chúng tôi cho tới năm 1969, vâng là chấm dứt, còn có số.. ví dụ như anh Lê Ngung và Lương Trọng Thưởng đó thì năm 67 đã trả tiền tử rồi vì hồi đó là các anh, thứ nhất là mỗi một người có một cái số mật mã thì nó cho mình khai tử. Nhưng nếu mình khai số mật mã thì có thể được lâu hơn bởi vì chúng tôi năm 69 mới lảnh tiền tử, lý do là ở trong cái ...truyền tin mã gọi là phản gián đó thì vẫn làm việc trực tiếp với Việt Nam Cộng Hòa để xin...xin thuốc hay mầm đạn, chớ còn người không có xin được.

PT: Dạ bây giờ xin anh cho biết là khi ở tù, ở ngoài Bắc chắc anh không có được liên lạc với Ta đình hả anh? Hay là khi nào anh mới được liên lạc với gia đình?
QT: Năm 1975 khi việt cộng thôn tính miền Nam thì chúng tôi cũng tin là giống như năm | 58. Năm 1968 đó thì tôi cũng đang ở trong trại nghiêm giam, ở tại Thanh Liệt, năm 1975 thì mền vẫn ở trong trại, vẩn nghiêm giam chưa được ra ngoài. Từ những cái năm đó thì chúng tôi luôn luôn ở trong nghiêm giam, nhưng mà nghiêm giam ở trại Thanh Liệt là tôi ở một phòng một người, còn nghiêm giam trên cái trại Quyết Tiến thì chúng tôi ở được 11 người 1 phòng vì khi miệt cộng đó...Mấy cái trại trưởng vào thông báo là giải phóng miền Nam rồi, thì chúng tôi bảo làm gì có cái chuyện đó, vì chúng mày vào thì hỏa lực chúng tao tiêu, đốt sống chúng mày giống minu năm Mậu Thân, làm gì có.Thế rồi nó mới vào đó, nó mới ....bởi vì hồi đó không có TV, chỉ mã báo, báo thì chúng tôi đã không tin từ ngày chúng tôi bị bắt rồi. Vì thế rồi ...rồi cán bộ nó đi vào và nó nói, “Bắt chúng mày chỉ có chật đầu chúng mầy đi thì may ra mới cải tạo được...” Chớ còn bây giờ cả nước ăn mừng như vậy mà chúng mày còn không tin thì chúng tôi nói là bởi vì chúng tôi không thấy nên chúng tôi không tin.
PT: Và lúc đó họ có đối xử tàn tệ với mình không anh? Từ lúc mà anh bị bắt, nhất là nó biết các anh là Biệt Kích nhảy Bắc?
QT: Bởi vì chúng tôi bị bắt nhưng mà nó cũng biết rằng là ở trong Việt Nam Cộng Hòa mình mất quá nhiều cái tụi đặc công, cái tụi đặc công, cái loại đặc biệt...cho nên chúng nó không đối [xử]...so với các trại ...những người trại viên hành sự, những cái tụi trộm cắp thì chúng tôi có thể là được khá hơn cho tới năm 1975. Chớ còn trước đó thì ở miền Bắc ăn độn dử lắm, nhưng mà chúng tôi ở trong tù ăn rất đói nhưng mà không phải ăn độn bởi vì nó cũng chưa cái khoảng là muôi chúng tôi để trao trả. Năm 1972 thì chúng tôi được nhận diện để được trao trả tù binh . Chúng tôi bắt đầu ...cán bộ nó vào nó đo thước tấc quần áo. May mỗi một người cái quần gọi là quân tây mà màu xanh dương và 1 cái áo sơ-mi trắng, một túi sách, và trong túi sách đó có một cái quàng cổ, một hộp kem đánh răng, một cái khăn mặt, thì tất cả những người đó đều được ra để coi cái tui đó rồi. Thế rồi khi mà trao trả lần đầu tiên cứ 1 người biệt kích là 40 người đặc công. Năm 1972 thì trao trả ở bờ sông Thạch Hản thì có một toán. Chúng tôi thị chưa được trao trả nhưng mà có một số anh lôi hổ gọi là Biệt Kích Khe Sanh thì là trao trả, trong đó là có anh Hà Văn Sơn được trao trả ở đợt đó nhưng mà ...thì bấy giờ ...đó là đợt thứ nhất, thì mọi người đó đều được về an toàn hết, 20 người. Tiếp đợt thứ hai đó thì cũng trao trả như thế nhưng mà nó bắt những cái tụi hành sự trộm cắp gì đó thì là nó học lý lịch của chúng tôi, học thuộc lòng tên của tất cả biệt kích, toán nào nhảy như thế nào, thế nào, sau khi trao trả thì Việt Nam Cộng Hòa mình nhận diện đó, đọc tên thì có, hỏi quê quán ở đâu thì có, bố mẹ đều có, nhưng người thì không giống, thế khi mà đã trắc nghiệm tới người thứ năm rồi thì hoàn toàn như vậy hết. Thế bắt đầu bên Việt Nam Cộng Hòa đẩy tất cả những người nầy trở lại, không có trao trả nửa. Thế là cái chương trình trao trả bờ sông Thạch Hản năm 1972 chỉ có một đợt đầu là thoát, còn tất cả về sau nầy là ngưng từ ngày đó không được trao trả nửa...và chúng tôi khi ngưng không được trao trả nửa thì là những cái túi quần áo, những quần áo mà được phát, được còn trong kho tự động người ta chuyển đi đâu hết, rồi nuôi 1 con bò để vỗ béo, cho nó béo để làm thịt để liên hoan khi chúng tôi trao trả đó thì cũng không còn nửa và từ đó đi là..., rồi ăn thì bắt đầu chúng tôi ăn độn ngô. Chúng tôi tuyệt thực và phản đối thì bắt một số anh em năm 1973 là lên trại Cổng Trời thì tôi lên Cổng Trời cho đến năm 1979 thì tôi mới được về Thanh Hóa và lúc bấy giờ Trung Quốc đánh miền Bắc tại cái trại Cổng Trời. Về sau nầy nghe anh em, một số người nói là Trung Quốc nó sang nó xóa sổ hết bởi vì có một số tù chính trị trốn được, về xóa sổ cái Cổng Trời, cái trại Quyết Tiến, còn từ đó về sau chúng tôi không được biết gì nửa.
PT: Tại sao họ gọi là trại Cồng Trời vậy anh? Cồng Trời hả anh?
QT: Ở Việt Nam, cứ mỗi một cái đèo khi lên rồi xuống thì họ đều gọi là Cổng Trời vì Cổng Trời nó rất là cao. Thì ở cái trại Hà Giang, huyện Quản Bạ thì nó có cái đình Lũng Cú cao nhất. Vì từ thị xã Hà Giang mà lên trên chỗ cái trại Quyết Tiến của chúng tôi...xe chạy là 30 kilometres và đường dóc. Ở trên chỗ chúng tôi ở quanh năm không trồng được rau muống và không nuôi được con heo, chỉ có mổi nuôi con bò, có con trâu thì sống; mà ở trên đó chúng tôi chủ yếu là ăn bí đỏ và cải bắp, chớ không trồng được một cây rau, rau muống hay rau xu hào là không trồng được.
PT: Dạ rồi ai cho các anh hột giống mà các anh trồng?
QT: Thường thường là cán bộ ngoài trại nó cũng, cũng chia nhau ra đội rau xanh thì chúng tôi giam ở trong một cái khu O, cái khu O thì nó có một cái lịch sử như vậy nè, tức là cả cái trại Quyết Tiến đó là từ năm 1954 thì nếu mà các cha ở Hà Nội mà lên trên đó tù thì mỗi một cha là đều là ...khai tử hết rồi, các cha, các thầy, lên trên đó là khai tử hết, thì mỗi một cha thì mang một cây gỗ giống như cái gối ôm như nó nặng hơn nhiều, gỗ lim, thì xích vào chân, rồi sáng ra vác cây gỗ lên rừng, rồi từ ...vác cái gỗ đó đi xung quanh chặt củi, rồi mang về trên đó. Còn...xây xung quanh trại thì xây thì đều để tên hết. Ví dụ như tôi tên là Trần Văn Quý thì xây một bức tường đều ghi tên vào đó hết. Nếu mà cái bức tường đó mà đổ thì tôi bị kỷ luật và chôn ở tại góc đó. Tất cả tử hình là cái kiểu như thế.
PT: Họ tử hình bằng cách nào anh? Bắn hay là họ chặt đầu mình hay là thế nào?
QT: Tất cã tử hình ở trong trại Quyết Tiến, đấy là đi vào nhà kỷ luật và có cườm bằng gỗ ghiến, đường kính của nó chỉ có 2 inches vuông thôi. Cho nên khi sập chân xuống là thì thịt tróc ra hết, chỉ còn có cái xương và máu chảy, và cứ hét lên mấy tiếng là không hét được nửa. Đa số là chết bằng cách đó, chớ không có bắn bao giờ, chỉ có cườm thôi.
PT: Và khi họ hành xử như vậy thì họ có cho các..những tù binh khác nhìn thấy để họ sợ không anh?
QT: Tất cả những người mà đi vào kỷ luật không có ai ra bao giờ, cho nên là khi mà đọc bản.. đọc bản kỷ luật thì đứng ở buổi sáng đi làm, đứng ở trước hàng quân...thí dụ chúng tôi có 100 người, đứng trước 100 người đọc kỷ luật. Thì mang một cái chiếu và 1 bộ quần áo chớ không Lược mang bất cứ một cái gì, vào trong đó và không bao giờ ra nửa.
PT: Anh có nói là các cha, các thầy cùng trong trại tù và em biết anh là người công giáo thì Trong đó...như là tự do tín ngưỡng như thế nào anh? Mình có thể có cha hay có thầy gì change anh?
QT: Ở cái trại Quyết Tiến, nó có một cái phương khắc về cái trại đó, nó được phong là anh Trng cho nên nó rất là khắc nghiệt, không bao giờ buổi tối mà cán bộ, những người gác mà đi mà --ấy mình ngồi là biết mình đọc kinh, nó bắt mình nằm ngay, không có cho mình đọc kinh. Dù năm ở trong người mình có những cái cục gỗ xâu lại 10 hột để làm tràng hạt hay là gì cũng không được. Các cha thì gọi bằng anh, chớ không được gọi bằng cha và ban đêm là các cha nằm ở đâu thì ở ngoài nó có bản đồ, địa chỉ rỏ ràng, buổi tối nó đi qua mà ngồi, nó biết ngồi đọc kinh chứ không có nằm vì đạo công giáo thường thường là..hay các sư cũng vậy ngồi mới tụng kinh được. Chớ nằm không ai đọc kinh và không ai tụng king được. Cho nên thấy ngũ ngồi là bắt ngay, một là nó bắt kỷ luật và hai là nó cảnh cáo. Còn thấy ngồi nửa là nó bắt cho đi kỷ luật.
PT: Cái trại tù của mình nó ở gần nhà dân không anh?
QT: Tất cả trại tù thường thường là xa nhà dân, không có gần nhà dân, ví dụ như cái rừng đó là rừng hoang thì nó làm một con đường mòn bắt đầu là nó phá vào và từ đó mình đi dưng trại mình ở trong cái trại đó và xung quanh những cái nhà dân thì đều được gọi là một cái phiếu để đ ợc mua đồ, ví dụ như là nếu mà bắt, phát giác một người tù mà đi ra đó, thì được ưu tiên, ví dụ miner là ở miền Bắc năm 1975 trở về trước thì mua một chiếc xe đạp rất là khó khăn vô cùng, với một phít nước, với lại quần áo. Ví dụ như mỗi năm thì được ba mét vải thôi, còn gạo, nước mắm tầm không được mua, nhưng mà nếu mà bắt được một người tù, nhất là tù biệt kích hay là tù chính — tù chính trị đó, nếu bắt được 1 người tù thì được cái phiếu thì được mua 10 ký gạo, ngoài Bắc gọi là một yến, mua được một yến gạo, 1 cái phít nước, chớ còn bắt được mấy người thì mới mua được xe đạp nhưng mà...thì nó đưa một cái tiêu chuẩn như vậy thôi chứ chưa có ai mua được xe đạn mà bắt người tù hết. Cho nên xung quanh, những người dân xung quanh cái trại đó là đều hí hng gặp được 1 người tù nào đó bỏ trốn là người ta báo ngay lập tức, người ta sợ đánh, tù nó súng đánh lại thì người ta báo ngay để người ta được thưởng.
PT: Khi mà sau 75, Việt Cộng đưa những người lính Việt Nam Cộng Hòa mình ra trại cải tạo tầm các anh có gặp các anh đó không? Và trong thời gian anh ở tù mà trước 75, anh có gặp mấy người Mỹ trong tù hay không?
QT: Năm 1967 tôi vào Hỏa Lò thì đã gặp một cái phòng của người Mỹ rồi cho khi chúng tôi về giam ở Thanh Trì, trại Thanh Liệt đó thì cách phòng chúng tôi. Chúng tôi ở khu A mấy tháng ... không gặp một người nào hết, nhưng mà tôi ở khu C thì bên khu C, bên kia cũng 5 người , Trên đây chúng tôi cũng 5 người, cũng thế hỏi..chúng tôi hồi đó tiếng Anh chúng tôi cũng không mãnh, nhưng cũng hỏi bắt ở đâu thì họ nói bắt ở Quảng Trị. Ở bên đó cũng được cái tiêu chuẩn... mẫu chuẩn của chúng tôi thì khác tiêu chuẩn bên người Mỹ đó. Người Mỹ đó thì được một ngày thì được 1 ổ bánh mì và một hai thìa cà phê đường với 1 lon nước lá nhãn, lá nhãn nấu nâu nâu để uống. Chúng tôi có nhìn qua cái cửa sổ mà mấy ông Mỹ đi đổ bộ thì người nào người nấy cái ống chân nó nhỏ bằng cổ tay mà nó dài vì nó quá gầy; thì ở chung với chúng tôi ở trại Thanh Liệt cho năm 67, 68, 69, chúng tôi ở chung 2 năm với một số người Mỹ, cách nhau 1 bức tường thôi.
PT: Họ có... mặc dầu ngôn ngữ không có rành nhưng họ có nói chuyện với mình bằng cách ra dấu hay là gì không anh?
QT: Vì chỉ có đổ bộ, thì lúc đi đổ bộ mới đi vệ [sinh]...đi lấy nước thì ra ngoài mà luôn luôn có cán bộ nó đứng cho nên cũng không có ra dấu, thế mà chúng tôi cũng có nói là chúng tôi là lính Việt Nam Cộng Hòa bị bắt thì nó bảo chúng tôi mới biết chớ, không có được nói chuyện cái gì hết bởi vì qua một bức tường kẻm gai xa lắm, có hét to thì cũng vang bởi vì tương thường thường nó xay cái kiểu từ thời xa xưa đến giờ rồi nên không thể nào phòng này nói chuyện với phòng kia được.
PT: Anh nghĩ bây giờ ở ngoài Bắc còn những người Mỹ còn ở bển không anh?
QT: Dạ theo như một số người tù chính trị và tù hành sự ở miền Bắc thì những người Mỹ mà bị bắt không trao trả tù binh nữa thì thường thường đưa một số đưa sang Liên Xô, một số đưa sang Trung Quốc và đều bị giết hết, không có để sống sót người nào.
PT: Dạ bây giờ em muốn hỏi anh là khi... anh cho biết cái tâm trạng của anh khi biết các bạn của mình cũng đã hy sinh lúc nhảy dù hay lúc ở trong trại tù?
QT: Thường thường đó ở tù mà một năm đầu thì tha thiết nhớ nhà và nhớ tất cả những người thân quen nhưng mà rồi 3 năm rồi thì vì đói quá, vì người nào, người nấy...khi chúng tôi ở Thanh Trì, đói đến nổi tôi là người bình thường mà răng hô hẳng ra, không.. không vì mỗi ngày chỉ một chén cơm, được ăn có 1 bát canh rau muống, một ngày hai bửa như thế cho nên con người nó quá gầy, cho nên lúc bây giờ chỉ có mong được có cái gì ăn thôi, chớ không có nghĩ tới bất cứ một chuyện thương tiếc gì hết đó. Khi mà cơ thể nó quá bạc nhược rồi. Hai mươi hai, hai mươi ba tuổi mà cái ống chân mà nó nhỏ bằng cái cổ tay mình, mà cái đẩu gối nó to hẳng ra như cái gáo dừa, cho nên lúc bấy giờ nó đói quá. Việt cộng nó chỉ dằn mặt cái bao tử cho nên thấy một người bạn mà không ăn được mà chết đi thì lúc bấy giờ tâm hồn mình không còn suy nghĩ gì đâu, cứ dửng dưng thôi chớ còn không suy nghĩ gì.
PT: Đúng rồi lúc đó mình cứ nghĩ là mình cũng không như người ta may mắn người ta đi để không có phải bị hành xác như mình phải không anh?
QT: Bởi vì khi mà ở Thanh Trì, Hà Nội đó thì tôi thấy rằng là ăn một ngày có 2 chén cơm thì cũng đói mà chết cho nên tôi cũng nhịn đói mấy ngày rồi . Tôi tấp vào một cái chồi lúa, tôi tấp vào một góc nhà đó để rồi khi cán bộ nó phát hiện được nó bắt tôi phải làm cái giấy cam đoan là xin ăn và nó cho tôi ăn cháo thì từ đó đi thì tôi...cuộc sống nó phục hồi sức khỏe lại. Cho tới 1971 khi tôi...đang buổi tối này thì tôi thấy là cán bộ nó...tôi kể chuyện tiếu lâm cho các anh nghe. Thế rồi cán bộ nó vào nó nói là tôi tụ họp lại bất hợp pháp ở trong phòng, thế nó bắt tôi đi ...kỷ luật . Thế là kỷ luật thì tôi vào trong trại kỷ luật thì mãi bấy giờ cuộc sống nó rất khổ mà thôi thì mình chết trước đi cho rồi thi tôi lấy cái mảnh nứa tôi cắt cái động mạch của tôi ra, rồi tôi thả tay xuống dưới để máu nó đông hết, nhưng mà thứ nhất là máu không có nhiều, thứ hai là thời tiết nó cũng lạnh cho nên nó đông lại. Đến sang mai thì tôi vẫn không biết gì cho đến lúc cán bộ nó mới vào nó mở cửa, cho đổ nước tiểu thì nó phát hiện ra tôi. Nó tiêm mủi thuốc gì tôi cũng không biết nữa, rồi nó lấy cái xẻng xúc hết máu ra ngoài; rồi từ đó đi thì nó...cán bộ nó bảo là anh mà chết thì tôi chỉ cho anh một tờ giấy thôi, còn nếu anh được sống thì anh được về chung với...và anh được gặp mấy anh chị em ở miền Nam. Chớ bây giờ anh chết chỉ có thiệt thân thôi. Thì nó cũng lấy tình cảm nó dụ dỗ tôi thì tôi lại bắt đầu tôi ăn trở lại.
PT: Tức là nó chơi gọi là chiến tranh tâm lý anh hả? Nó dụ mình vì nó muốn giữ các anh lại một ngày nào để trao trả tù binh phải không anh?
QT: Dạ chúng tôi là luôn luôn là nghĩ như vậy vì thấy là ở trong dân người ta cũng đói khổ, người ta ăn khoai lang, mì sắn, còn mình vẫn được ăn cơm rồi có khi cũng khá hơn cho nên thì... chính cán bộ nó vào...nó thường nói rằng là, “Các anh là một trong những người may mắn Tắm đó, chớ bạn bè chúng tôi đi chết hết, các anh ở đây là may mắn lắm đó.”
PT: Bây giờ như là ...theo em biết đó khi mà nó...như anh kể hồi nảy là chì có trao đổi tù binh một lần thôi. Lần sau vì họ giả dối nên họ ngưng lại , rồi tới...khi mà đến 1982 anh mới về lại trong Nam, phải không anh?
QT: Dạ
PT: Nhưng mà làm sao, nó báo cho anh hay là làm sao anh về?
QT: Thường thường cứ vài năm thì nó lại mang ra một người đứng lên trên...buổi sáng đi ra đi họp đi làm, như là cái trại Quyết Tiến đó, 500 người thì nó bắt đứng lên và nó đọc. Ví dụ như nổi tên là Trần Văn Quý, là Trần Văn Quý, đợt nầy sẽ được ân xá, thế rồi vì người ta cứ hy vọng được ân xá cho nên người nào cũng không phá phách và cũng làm tốt trong công việc . Cho nên là tôi được 2 lần đọc ân xá và được thả, nhưng mà chẳng bao giờ được thả hết. Lần thứ nhất tôi ở trại trung ương số 1 được thả thì lại chở tôi ra Quyết Tiến và giam; lên Quyết Tiến thì gặp lại mhau thì bảo,“Ủa tưởng mày về rồi mà?” “Về đâu mà về.” Ở Quyết Tiến chúng tôi lại đọc lại lần nữa thì cũng không thấy gì hết. Cho đến năm 82, khi đọc lệnh thả, chúng tôi cũng không có tin. Nhưng mà thả ra thì năm 82, đặc biệt vậy nè nó nói là trước khi thả các anh thì các anh sống ở trong trại thì phải có ơn nghĩa với trại nên các anh được đi tự giác. Các anh được thả rồi, các anh không có trốn làm gì; để tự giác các anh chặt nứa để làm hàng rào để giam các người hành sự đó thì chúng tôi là được một tháng, tôi được lệnh thả vào tháng bảy thì chúng tôi phải làm tự giác một tháng. Mỗi một ngày lấy mấy chục cây nứa ở trên cái đồi đổ xuống để rào xung quanh cái Lại để cho nó chắc ăn hơn. Cho nên sau đó một tháng thì năm...tôi về Sài Gòn là năm...tháng - ...23 tháng tám, năm 1982.
PT: Anh nhớ rỏ ràng quá. Dạ chắc chuyện đó không có thể nào quên. Cho em biết lúc đó trong trại tù còn bao nhiêu người? Bên Quyết Tiến mà nó nói thả cho anh đó?
QT: Cái đợt nó thả chúng tôi cũng nhiều cho nên cái đợt đó thì cũng còn khoảng chừng hai ba chục người nửa thôi nhưng sau đó lại chuyển về trại Thanh Kỳ ...Thanh...Thanh Kỳ cho đến năm 85, 86 thì bắt đầu thả hết.
PT: Trong lúc đó các anh em mà ở trong trại tù với nhau thì có thương yêu nhau hay là có che chở, hay là bảo bọc với nhau không anh?
QT: Chúng tôi ở trong tù thì biết rằng là có một cái mục đích là không bao giờ mà ghét bỏ nhau dù người đó có...chúng tôi được cái hay là bởi vì những cái người...vì chúng tôi không bao giờ được thả cả, cho nên là cán bộ nói cải tạo tốt đi rồi chúng mày báo cáo những việc sai trái của anh em chúng mày thì mau được thả. Nhưng mà chúng tôi biết rằng là chúng tôi không được thả cho nên chúng tôi không bao giờ làm những chuyện như thế và chúng tôi thương yêu nhau lắm. Ví dụ như anh nào bị kỷ luật thì anh khác ở nhà nếu mà làm được cái gì hay là đi ra kỷ luật thì cái ngày đầu tiên, chúng tôi chỉ làm được có một lần thôi. Góp mỗi một anh một thìa cơm, chỉ một thìa thôi thì một đội có một người kỷ luật thì một đội 40 người, thì 40 thìa cơm thì cũng được 1 phần cơm no trong ngày kỷ luật. Chúng tôi chỉ giúp đở có một ngày thôi.
PT: Dạ tức là các anh rất yêu thương nhau. À...rồi khi anh được về, báo là anh được thả về. Về Sài Gòn hả anh há thì nó có báo cho gia đình mình biết hay không hay là lúc đó anh ra có bở ngở gì không?
QT: Khi được thả thì không có thư từ gì mà báo cả. Chúng tôi ra ga Thanh Hóa thì có một sự không biết thì là trại nó nghĩ thế nào là vì tiền từ ở ga Thanh Hóa mà về tới Sài Gòn là đâu $50 mà chỉ phát cho chúng tôi tiền mặt có $30 và phát cho chúng tôi thêm 1 bộ quần áo thì chúng tôi nghĩ là bán bộ quần áo ra thì cũng được. Cho nên đi ra ngoài ga Thanh Hóa thì có một số mấy người mà hành sự mới nói rằng các anh có phải là tù, mới tù ra hay không? Chúng tôi là tù ra như vậy đó. Thì là họ nói là có bấy giờ có một chuyến xe lửa đó của người Sài Gòn mà người tài công là người Sài Gòn. Nên các anh xin là được lên xe. Khi chúng tôi lên thì người ta không xoát vé và người ta cho ở chổ cái đầu toa, ở đầu toa, mà ở ngoài có 2 cái móc vào nhau, có hang rào, ở lang cang đó thì chúng tôi được ngồi vào đó.
PT: Có bao nhiêu người hết thảy anh?
QT: Khi về thì chúng tôi có 7 người..7 người thì về tới ga Bình Triệu thì lúc bấy giờ có xe ôm thì may ra trong túi chúng tôi mổi người cũng còn chừng mười mấy đồng thì xe ôm, thì về tới nhà người bạn tôi ở gần đó là thì tôi đi bộ được . Thì tôi đi bộ lại cái nhà củ hồi xa xưa thì người ta nói là bà ấy chuyển lên trên nầy rồi. Thế tôi lại đi bộ về nhà, lúc bấy giờ thì bà chị cã tôi hét toán lên và chết ngất. Còn mẹ tôi thì không nói được câu gì thế là người ta tưởng trúng gió, người ta lại thì thấy có một ông gì lạ quá này. Thế xong nói là cậu Quý về. Thế là cả xóm tới, bu đông, người thì, ở Sài Gòn thì không có đến nổi nào giống như là miền quê, vì lúc bấy giờ có mấy người mua phở tiếu xe gánh đó đến cho ăn, nhưng thực tế là ăn..ăn cũng không ăn được.
PT: Lúc đó thì là ...khi mà anh từ ngoài Bắc, nó thả ra thì dân ngoài Bắc, nó nhìn các anh nó có làm gì không anh và họ phản ứng như thế nào?
QT: Hồi mới bị bắt thì nó được tuyên truyền là chúng tôi là một ác ôn gì đó.. sau khi mà lính Việt Nam Cộng Hòa mình ra ngoài đó và được các anh, các chị ra vào thăm nuôi rồi đó thì đến năm 82 thì người ta biết chúng tôi rồi cho nên đi đâu cũng được là rất là quý. Ví dụ như tôi vào cái tiệm đó, là cái tiệm bán đồ ở ngay cái ga Thanh Hóa đó, ăn ở đó thì là $3 đồng 1 tô phở thì chúng tôi ăn thì người ta cho....bán cho các anh một tô đặc biệt đây, thì người ta hỏi..hỏi bao —hiều thì người ta bảo cứ ăn đi rồi tính tiền sau, nghĩa là tôi lấy giá bình dân thôi, nhưng mà khi đó thì người ta cũng không lấy tiền. Thế rồi sau đó có cái bà bán chuối bên cạnh cho chúng tôi một nải chuối sứ, chuối.. chuối sứ, chúng tôi ăn xong rồi cám ơn. Chớ lúc bấy giờ người ta biết là những người tù ở miền Nam ra là người miền Bắc người ta tương đối là quý chớ không ghét bỏ như cái hồi chúng tôi mới bị bắt. Chúng tôi mới bị bắt năm 1967 mà chuyển từ trong rừng đi ra ngoài đó, thì trên đường đi ... đất đá người ta ném, ném nhiều lắm, người ta bảo chúng mày ăn ống máu tươi người ta, cái đó là năm 67 cho tới năm 82 thì thời gian đó nó..nó khác đi, bởi vì gia đình chúng tôi ở Sài Gòn cho nên chúng tôi cứ tin là năm 75 gia đình chúng tôi đi hết rồi cho nên cũng không có ai viết thư về, cho nên mãi về sau này là năm 76, cán bộ nó phát bì thư, mõ phát tem, nó bắt chúng tôi viết thư về thì chúng tôi mới viết thư về, vì viết thư về thì có người ra thăm nuôi thì trại có cũng được hưởng một phần benefits ở đó. Cho nên nó mớt bắt chúng tôi viết thư chớ anh em chúng tôi mấy trăm người không ai viết thư, cho đến năm 76 mới viết thư.
PT: Vậy thì lúc đó anh có viết thư về nhà và có nhận được hồi âm hay không? Và gia đình anh vẫn ở số địa chỉ cũ hay không?
QT: Dạ tôi viết thơ về đưa cho giáo sứ, đưa cho cha thì cái địa chỉ đó được cha mới đưa về nhà tôi. Mẹ tôi cũng làm việc ở trong giáo sứ nên biết liền, cho tôi cuối năm 76 thì gia đình tôi mới được biết là tôi còn sống. Và khi cái hình mà trên bàn thờ tôi thì đã để lên trên đó từ năm 59...vào năm 69 đã được để ở trên rồi cho tới năm 76 thì mới bỏ hình tôi xuống.
PT: Vậy là các cụ, các anh chị em anh rất mừng với giáo sứ. Thì lúc năm 76 thì đã nhận được tin tức ở nhà rồi các cụ và các anh chị có lên thăm anh, đi ra ngoài Bắc thăm anh không?
QT: Dạ có một lần, năm 1980 thì mẹ tôi có ra Thanh Hóa thăm tôi một lần. Mà tôi nói đường xã đi mệt lắm, mẹ già rồi, mẹ không có nên đi đâu, thế là...lúc bấy giờ mẹ tôi cũng đã 60, 70 tuổi rồi nên mẹ tôi cũng đồng ý như vậy. Cho nên hàng tháng có gởi quà ra, chớ không có thăm nuôi nira.
PT: Như vậy là khi mà tới ngày mà họ cho đi thăm nuôi thì tại vì anh nói mẹ đừng có ra thì trong lúc đó có bạn bè gởi quà chung và các anh chì có chia sẽ với nhau, ăn uống chung hay không, mỗi lần mà được nhận quà từ ở ngoài , trong Sài Gòn, hay là gia đình tới?
QT: Thường thường là nếu ở trong một cái đội 40 người mà có 1 người nhận quà thì cái ngày hôm đầu tiên là ví dụ như nhà cho cái gì ăn được là chia ra cho ăn hết. Rồi sau đó nếu mà có tiền thì không chia được; nếu gởi tiền không thì nhờ người nào đó đi tự giác đó mua 1 số gạo hay là đậu gì đó, nấu cháo hay nấu súp gì đó là chia cho anh em ăn bằng hết, không để một cái gì cả.
PT: Lúc đó mấy cái ông việt cộng có xin ăn không? Ông thấy vậy có xin hay khó để mình không? Và lúc mấy anh có tiền đi mua gạo thì cũng có dể dàng hay không?
QT: Thường thường đó thì tất cả những cái gì đó đều phải chia chát hết. Ví dụ như là xin cán bộ nó coi toán mình là đi ra ngoài kia mua gạo; thì thường thường cũng phải mua cho nó. Ví dụ như mình mua gạo tẻ thì phải đưa, mua cho nó 2 ký gạo nếp hay 1 ký gạo nếp. Hay là nếu mình mua được thịt heo thì cũng phải cắt cho nó một miếng thịt nạc thật là ngon, chớ không bao giờ mà...và phải hối lộ như vậy thì mới trót lọt được.
PT: ...Khi mà anh kể em nghe là khi anh về tới Sài Gòn thì anh.. chuyện xảy ra như thế nào...anh rất là thấy lạ , cũng lạ, tất cả đều lạ hết. Rồi cái việc đầu tiên của anh là anh làm cái gì? Chắc là anh đi lên nhà thờ à?
QT: Cái ngày tôi đi thì tôi nhớ rằng là...cái ngày tôi đi vào lính 1965 thì cái đường Trần Quốc Toản, hai bên cây gỗ dầu nó chỉ bằng cái bắp chân tôi thôi, nhưng khi tôi về thì là 16, 17 năm tôi về rồi đó thì bắt đầu nó to gần bằng cái gối ôm rồi. Cho nên tôi thấy con đường rất là lạ. Thế tôi mới hỏi xe ôm có phải đường này là đường Trần Quốc Toản không? Thì họ nói , “Vâng đúng là đường Trần Quốc Toản đó.” Tôi.. tôi nhìn hai hàng gỗ dầu sao mà nó to quá, tôi không ngờ được đường nó ra như vậy. Thế đi qua từ chỗ bến xe Văn Thánh thì chạy qua đường Trần Quốc Toản thì chạy vài đường Trần Quốc Toản rồi chạy qua xứ Bắc Hà, rồi chạy qua chợ cá Trần Quốc Toản thì bắt đầu vẫn nhận ra, nhưng mà về tới làng xóm thì bắt đầu ...tại vì cũng do chiến tranh cho nên những con đường hẻm lúc tôi đi vẩn như củ không có gì thay đổi hết. Nhà thờ vẫn còn như thế, về nhà tôi từ ngày tôi đi cho tới lúc tôi về vẫn còn như vậy, không có gì thay đổi cả.
PT: Phản ứng của anh đầu tiên khi bước vô nhà thấy hình ảnh trên cái bàn thờ, anh nghĩ thế nào? [giggle]
QT: Không, bàn thờ thì năm 1982. Còn năm 76 thì gia đình tôi nhận được thư rồi thì hình tôi không còn, có cái hình .. mẹ tôi nói cũng không dựng lên mà để nằm, nằm xuống dưới, thì bắt đầu sau đó mẹ tôi mới nói, “ Đây..đây là cái hình, hồi trước là thờ của mày đây.” Bà...mẹ tôi bảo tao mất bao nhiêu tiền xin lễ cho mày đấy. “Thế là mẹ xin lễ là con phải khỏe mạnh thôi chớ đâu có sao đâu?” Bắt đầu hàng sớm mới tới, bảo đi ...năm nào cũng vậy, vào cái ngày Tết đó người nào cũng thấp nhang cúng, cầu cho cậu được mau siêu thoát ( giggle..)
PT: Như vậy là anh ở tù 16 hay 17 năm anh?
QT: Dạ 16 năm.
PT: 16 năm. Dạ thì...lúc nào anh lập gia đình và anh có mấy người con?
QT: Dạ năm 1982 tôi về thì lúc bấy giờ, đó là năm 1983 thì mấy người nói rằng là bố tôi mới mất năm 82 thì mình nói rằng là con thì để tang 3 năm, nhưng mà thôi tôi lớn, lớn tuổi rồi, tôi...lúc bây giờ tôi đã 38 rồi thì bảo là lớn tuổi rồi thì có ai lấy thì để mau có cháu nội. Cho nên năm 83 thì tôi mới lập gia đình thì đến năm 85 thì tôi sinh được 1 cháu gái, rồi năm 88 tôi sanh được 1 cháu gái.
PT: Làm sao anh gặp được chị? Và khi mà lúc anh về năm 1982, chắc trước khi đi anh cũng có bạn bè. Lúc mà về thì còn gặp lại bạn bè nửa không?
QT: Tất cả những người tôi quen năm trước khi tôi đi đó thì không..không . Khi về hồi đó thì nó đâu có cho tôi làm cái gì, may quá đó em có cho một chiếc xe đạp thì cũng không dám đi vào các cái chổ mà là...là vì đi đâu...đi đâu hay làm cái gì, từ sáng cho đến chiều thì luôn luôn phải trình báo công an và ghi rỏ...gọi là quản chế mà...theo giấy ra trại thì tôi quản chế 3 năm. Cho nên bất cứ đi đâu và làm cái gì...những cái người quen củ...thứ hai là về được mấy ngày thôi thì gia đình cũng có đủ cơm ăn, chưa phải đói khổ, cho nên tôi chỉ.chỉ đủ cơm ăn, chớ không có tiền. Lúc bấy giờ cũng xin đi làm được một, hai ngày nhưng mà không có ai nhận mình đi làm hết đó, cho nên cũng không có kiếm mấy người củ, còn người hàng xóm đây thì cũng bố là công chức cho nên ở gần xóm thấy cũng tiện lợi cho nên gia đình làm mai thì tôi cũng nhận thôi.
PT: Vậy là lúc đó anh cũng 38 tuổi rồi. Anh có thể nói thêm một chút về cái cuộc sống của anh, cũng như anh vừa nói là sau lúc 75 cũng rất là khó khăn. Rồi anh có hy vọng một ngày nào đó đi qua Mỹ hay không?
QT: Khi chúng tôi về thì không có ai hy vọng là được sang Mỹ hết. Có anh bạn tôi là anh Nguyễn Văn Thùy, hiện tại bây giờ anh ta ở Seatle, ở tiểu bang Washington thì anh ta, do giấy ra trại ghi tên là bị bắt năm 1966 rồi cải tạo tốt 17 năm, rồi ra tù năm 1982, thế nhưng lại đánh ra tù năm 1966. Thế anh ta bảo, “Trời ơi nó đánh ra trại, cầm giấy ra trại này thì 17 năm rồi mà khi được thả thì lại giấy 1966.” Thế anh ta về đến lúc được đi rồi. Phái đoàn Mỹ phỏng vấn, bắt đầu thấy lạ quá, bắt đầu lại phải đi ra Hà Nội mới điều chỉnh lại cái giấy tờ đó cho nên chúng tôi không có hy vọng gì sang được đi Mỹ hết bởi vì hồi đó chưa có một cái chương trình nào, ai được đi đâu.

PT: Như vậy giấy tờ của anh nó đánh đúng hả? Của người bạn thì đánh lộn, còn của anh chắc đánh đúng?
QT: Dạ giấy tờ của tôi, vâng là đánh đúng, hiện tại bây giờ giấy tôi vẫn còn.
PT: Rất là tốt khi là anh phỏng vấn anh có thể để cái hình, cái tờ đó trong cái cuốn sách nầy thì rất là quý. Rồi anh rời Việt Nam năm nào?
QT: Năm 1988 đó khi báo Công An Nhân Dân đó có đăng cái tên của tôi được phái đoàn Mỹ chấp nhận và được đi Mỹ thì tôi cầm tờ báo đó và tôi lên trên bộ công an ở đường Nguyễn Du để đưa và nộp hồ sơ thì người ta nói là “ Cái nầy nó đăng thế nào đó. Nó đăng sai chớ làm gì các anh được đi.” Thì ở trong cái đó ở trong phường chúng tôi là có 3 người thì có một ông quận trưởng, có một ông đại tá, với lại tôi, thì nó tưởng tôi làm cấp bậc ghê gớm quá, nhưng mà thực tế là vì chúng tôi tù lâu nên danh sách...Cái bà Khúc Minh Thơ bả gởi về bộ ngoại giao thế nào đó, cho nên nó...mới đánh tên tôi vào trong cái giấy đó, chớ là thường thường chúng tôi không biết là được đi đâu?
PT: Nhưng mà cái báo Nhân Dân có cũng đăng lên, vậy anh..họ nói làm sao, những người nầy được Mỹ như là...muốn đem về Mỹ hay là làm sao anh?
QT: Báo Công An Nhân Dân, chớ không phải của công an thành phố, Sài Gòn là có đăng là những người nầy là được Mỹ...xin cho đi, xin cho đi, vâng.
PT: Lúc đó thì là...cảm nghĩ của anh như thế nào? Khi anh lên phường thì nó không chịu, lúc đó anh làm sao cho nó tin đó là đúng là anh?
QT: Thực tế là chúng tôi bị lừa quá nhiều rồi cho nên chính phủ Mỹ cũng nói thôi....nhưng mà chúng tôi không tin, nhưng mà tôi vẩn ...hồi tôi về đó thì tôi cũng cố gắng là đi học một cái nghề may để tôi may ở tại nhà, may quần áo. Hồi đó dân, tất cả mọi người đều nghèo, duy nhất là một số người, có người gia đình Mỹ thì gởi quần áo về, thì mặc cũng không vừa, cho nên đa số là đi sửa. Tôi chủ yếu là sửa quần áo thôi. Thế đến lúc được lên máy bay qua bên Thái Lan rồi đó là tôi mới yên trí là rời khỏi đất nước Việt Nam. Chớ còn...vì tôi đã..nghĩ tôi bị bắt đã tử hình hai lần rồi, cũng đào cái lỗ rồi đến năm 1967 nó kéo tôi ra cánh đồng, bịt mắt lại rồi đào lỗ, rồi đọc bản án tử hình, kế rồi là lên súng và nó ...đang lên súng lên đạn rồi đó, thì có một thằng khác tới xin là thôi cho nó sống để cho nó khai báo đầy đủ. Thế thì tôi cũng không biết là nó đóng kịch hay là nó nói sự thật. Cho tới ...đến một năm nửa thì là cũng bị như vậy. Khi ở Hỏa Lò nó cũng làm như thế thì giam một phòng kín, rồi cũng bịt mắt, cũng đọc bản án tử hình, tôi thấy ...cũng không biết là nó... gọi là nó thị uy mình làm sao đó. Khi sang bên Mỹ cũng vậy, khi mà được thả tôi cũng không tin là tôi được thả, 2 lần thả rồi cũng không được đi. Khi sang bên Mỹ, lúc ở bên.. máy bay.. vợ con rồi lên máy bay rồi sang Thái Lan. Rồi thì tôi mới yên trí là chắc mình được thoát khỏi Việt Nam.
PT: ... Cũng mừng cho anh. Lúc đó anh có xin được gia đình đi theo hay là chỉ 2 vợ chồng và 2 đứa con.
QT: Cái hồi đó thì không có được xin và mẹ già rồi thì không đi. Gia đình tôi chỉ có 2 vợ chồng và 2 đứa con. Làm giấy từ đầu và đi từ đầu thôi.
PT: Và anh cho em biết tại sao anh chọn tiểu bang này, Minnesota khi qua Mỹ?
QT: Tôi chọn tiểu bang Minnesota này nè bởi vì ở đây đó xứ nó lạnh và ít người Việt và chúng tôi thì thực tế là sống với người Việt thì cũng thích thôi, nhưng mà ở trong tù rồi, cứ chổ nào nhiều người Việt là tôi..tôi tù lâu rồi, là ở một phòng, nó vì còn trẻ, rồi đi tù ở nghiêm giam một mình một phòng rồi cho nên thấy chổ nào yên tỉnh là tôi thích thôi.
PT: Em biết lúc là thời gian ở tù anh rất là, như anh nói lúc này, chân cẳng ốm nhách và nhỏ xíu. Làm sao anh phục hồi lại sức khỏe khi mà được thả ra?
QT: Khi ...năm 1982 thì khi nó thả tôi ra thì nó cho mình đi...đốn nứa để rào trại, nhưng mà ở trên cái đồi nứa đó nó cũng có củ mì, củ sắn đó cho nên chúng tôi cũng đào được củ sắn và luộc ăn thì cái chân của tôi bị cùm mà nó bị bể xương đó thì dần dần đi nó cũng vững chảy được một phần. Về đến nhà thì tất cã những người đang đói mà ăn củ mì đó thì nó phì ra. Thứ nhất là hai cái hạch nước miếng, cái mặt nó phì ra và cái bụng nó cũng to hẳn lên, còn không biết có cái chất gì trong đó thì mình không biết nhưng mà cái củ mì trồng ở trên đồi cây tre thì thường thường nó làm như vậy. Chúng tôi ..một tháng thôi . Nhưng chúng tôi đa số là người nào cũng lên cân hết, không có được ăn thêm phần gì của trại, nhưng đa số là ăn củ mì mình đào ở trên rừng đó.
PT: Rồi lúc anh về tới Sài Gòn thì được ăn nhiều hơn và khỏe hơn phải không anh? [giggle] Tape #2
PT: Dạ thưa anh Quý, hồi nảy, lúc nảy anh có nói với em là lúc mà trở về trong Sài Gòn anh đã sửa quẩn áo may. Anh là thơ may và qua Mỹ đây có tiếp tục hay không?
QT: Dạ qua Mỹ thì có hai cháu nhỏ rồi được...vợ tôi thì ở nhà trông con, cho nên tôi đi học ở trường Technical College ở Saint Paul, ESL, rồi đến năm thứ nhất, năm thứ hai, thứ ba thì tôi học về Cabinet Making, và tôi năm 1976 thì tôi tốt nghiệp Cabinet Making.
PT: Như vậy thì chắc anh có làm mấy cái...bàn ghế hay chỉ này cái kia không khi mà anh ra trường?
QT: Dạ tôi có đi vào 1, 2 company nhưng mà đa số là làm cabinet là làm cái cửa thôi, chớ còn cái khung với lại cái frame ở ngoài thôi, còn cái partials hay là phần brake thường thường là do company máy móc làm hết . Mình làm đơn giản lắm.
PT: Anh có thể nói cho Phước nghe là những cái ngày đầu tiên đến Mỹ như thế nào, sự xa lạ và cái gì cũng phải có người quen và không có người quen ở đây thì anh sẽ đới phó như thế nào?
QT: Bởi vì thứ nhất là tôi tù, thứ hai là sống một mình nó quen rồi. Cho nên đến đâu có những người bảo trợ thì mình vẫn yên tâm nhưng mà lo nhất là bà xã tôi, bà xã tôi sống nó quen rồi; cho nên chúng tôi là ngày đầu tiên...những ngày đầu tiên ở nhà, nhờ cô bảo trợ chúng tôi ở Saint Anthony cho nên ở cái lầu số 17, nó cao, cao lắm cho nên bà xã tôi cứ ngồi ở cửa sổ và nhìn ra freeway 94 cho nên buồn. Về sau may quá chúng tôi thuê được một căn nhà, ở từng một, 476 Marshall cho nên cuộc sống nó vui hơn. Từ ngày đó trở đi thì hai cháu nhỏ nó học gần trường, còn tôi thì học ESL ở trường Evening High School rồi tới sau đó mới lấy cái test là tôi bắt đầu ..thì chúng tôi nhận public housing thì chúng tôi chuyển ở đường Maryland, gần White Bear nên tôi đi xe bus tới trường College để học thì vợ tôi ở nhà take care hai cháu nhỏ.
PT: Rồi anh học ở trong college 2 năm, rồi anh học thêm hai năm nửa, tức là phải 4 năm phải không anh?
QT: Không ạ. Tôi học 1 năm ESL và 2 năm Cabinet Making.
PT: Từ khi lúc mà anh ra trường, anh có tìm việc làm liền hay không?
QT: Tôi có đi tìm việc làm, nhưng mà cái ngành học về vấn đề Cabinet Making thì nó lại dể hơn về Carpentry. Carpentry thì tôi có đi làm được 1 năm rồi bị accident đó cho nên tôi nghĩ.
PT: Rồi anh nghĩ từ đó luôn hay là sau nầy anh làm lại hay làm các ngành khác hay không?
QT: Tôi cũng có làm về xây dựng nhưng mà...tôi làm về xây dụng chớ không ..có làm cabinet making vì sao này đa số là do company nó có máy tự động khóa nhiều lắm. Ở trong một cái company, mà nếu...đa số học 2 năm chỉ có phụ tá thôi, còn 4 hay 6 năm mới bắt đầu ngồi cái máy và tính toán trong một company sản xuất ta ván ép hay là bàn ghế ở cabinet making chỉ có 2, 3 người nhân công mà là người Mỹ. Người ta mới bê nổi ván ép, chớ mình không...Lúc đó tôi cũng hơn năm mươi mấy tuổi thì cũng không carry được.
PT: Khi anh tới Mỹ rồi với cái...anh là cựu quân nhân hồi xưa thì anh có được những cái quyền lợi gì không?
QT: Dạ không tôi không có được cái quyền lợi gì hết ạ. Cho tới mãi khi đó có một số anh em và nộp đơn kiện chính phủ Mỹ để được bồi thường cho tới đến năm 1966 đòi bồi thường đó; đầu tiên đòi là để hường một quy chế của một người cựu quân nhân, nhưng mà có ông John McCain và ông John Kerry, ổng bảo trợ nhưng mà cũng không được, mãi về sau khi ông tổng thống Bill Clinton mới ký sắc lệnh bồi thường cho chúng tôi. Cứ tính là 15 năm thì tính là 20 năm, còn 17 năm là tính 25 năm là hưởng một cái quy chế và tôi được $40.000 tiền bồi thường và không được nhận cái medical gì hết về VA (Veteran), không có được hưởng gì hết, còn anh bạn tôi ở đây, anh Hoàng Thiên thì được $50.000.
PT: Họ dựa vào đâu mà có sự chênh lệch vậy anh và tất cả những người HO bên nảy được không hay là chỉ có các anh đặc biệt là biệt kích nhảy Bắc?
QT: Dạ vì chúng tôi là biệt kích nhảy Bắc là đến khi ký contract là ký giấy giao kèo với chính quyền Mỹ thì ký bằng giấy Mỹ mà Mỹ trả tiền chớ không, trả chớ không phải thuộc về Việt Nam Cộng Hòa. Cho nên những cái người đó, ví dụ như tôi ở tù 15 năm 8 tháng thì tính 16 năm thì tính tròn được 20 năm, 20 năm mà cái tiền mà trả cho sĩ quan của Việt Nam Cộng Hòa mình này đó thì cứ một năm là 2000. Vâng một năm chỉ có 2000 thôi, 2000 dollars đó thì 20 năm là $40000. Có anh bạn tôi ở tù lâu hơn, tới hai mươi mấy năm cơ, thì tính là 25 năm thì anh ta được 50 [$50000)
PT: Anh cho biết là chị mất năm nào?
QT: Vợ tôi thì sang tới bên đây, thì cũng mới mất đây thôi, mất tháng năm, mùng bốn tháng năm, năm 19... 2017, mới mất một năm nay thôi ạ.
PT: Xin chia buồn cùng anh, rồi anh ở vậy, nuôi mấy em. Hồi xưa mấy cháu có ở đây hay sao anh?
QT: Vâng ...khi mà tôi được tiền mà chính phủ bồi thường, là tiền đó thì tôi mua căn nhà nầy và các cháu cũng đi học ở đây rồi ...một đứa thì ở trường Washington rồi,,,học ở đây các cháu tốt nghiệp ở đây hết thôi. Vợ tôi cũng ở đây mua căn nhà nầy, mua căn nhà nầy năm 2000.
PT: Tức là từ ngày qua Mỹ thì chị ở nhà chị lo các cháu thì không có đi làm phải không anh? Và chỉ có một mình anh đi làm thôi?
QT: Vâng ạ. Vợ tôi thể trạng yếu có đi học ở trên Cơ Quan Xã Hội đó thì người ta có chứng nhận cho là cái memory nó rất là kém cho nên vợ tôi mới được hưởng tiền benefits về memory còn ở nhà về housekeeping thôi chớ không đi làm.
PT: Rồi ngoài ra anh có tham gia những sinh hoạt cộng đồng ở Twin Cities không? Mình cũng có những lễ hội thì em cũng thấy anh cũng đi tới đó, anh có tham gia những hội nào không?
QT: Dạ đi dự các buổi lễ của Cơ Quan Xã Hội hay của cựu quân nhân thì đa số vợ chồng tôi luôn luôn có mặt, chớ còn tham gia để làm member thì nói chung là tôi không... thích lắm.
PT: Như vậy là anh về hưu năm nào anh?
QT: Dạ tôi..khi đủ 65 tuổi thì tôi xin về hưu nhưng mà cái tiền mà tôi đóng thuế thì nó không được nhiều, mới là của chính phủ mới được 6 trăm mấy cho nên chánh phủ bù lên và bây giờ tôi hưởng thành như người già thôi.
PT: Vậy anh có tham gia những hội người già không? Em thấy ở Twin Cities mình không? Em thấy ở Twin Cities mình có nhiều hội người già và anh có tham gia hay không?
QT: Dạ hiện tại bây giờ tôi có đi dự cái hội người già của chị Hương ở trên đường University đó.
PT: Em biết anh có nhiều chuyện muốn kể cho... tại vì cuốn sách này rất quý. Thì anh còn chuyện gì muốn chia sẽ với đọc giã hay không? Anh muốn nói thêm những cái gì mà em chưa có hỏi anh đó.
QT: Chia sẽ thì nói chung là khó...cũng không có điều gì ..hồi nảy nói đã nhiều rồi, nhưng một cái quan điểm của tôi là khuyên quý vị là khi mà tất cả những chế độ của công sản từ xưa đến giờ không có một chế độ nào là tốt đẹp cả bởi vì đất nước Liên Xô, đất nước Trung Quốc và đất nước Việt Nam, Bắc Hàn và Nam Hàn thì tất cả gọi là.. dính dán; bất cứ cộng sản nói tốt cách nào nhưng mà là đứng tuyệt hậu vào phía một đất nước luôn luôn là nghèo nàn, đứng tuyệt hậu ở đằng sau vì chỉ có một số những cái người mà đứng đầu thì người ta mới khá giã được thôi, còn những người dân thì luôn luôn là chịu một cái sự bưng bít luôn luôn tột cùng và luôn là mánh khóe. Nếu mà làm việc với cộng sản thì không bao giờ mà nghe, chỉ có phải thấy người ta làm thì mới biết thôi, chớ nghe người ta nói không tin được bởi vì cộng sản là luôn luôn thay đổi. nó có một chính sách là luôn luôn thay đổi, không bao giờ mà bỏ đi được, nó chỉ có một số nhóm..nhóm đặc quyền và đặc lợi thôi, chó còn thường thường là ..tất cả mọi người mà nghe cộng sản nói thì không nên tin bao giờ.
PT: Đúng là anh vì ông tổng thống Thiệu có nói anh hả, “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà phải nhìn những gì cộng sản làm, phải không anh?
QT: Ừ. Tất cả những cái...như gần đây, bây giờ đơn giản là biển đông Trung Quốc nó nói với ông kia là mọi người thì nó .trong hòa bình, nhưng mà ban đêm thì bắt đầu nó xây dựng các hải cảng và mang vủ khí ra , toàn quân đội không, chớ ít khi có....
PT: Hôm trước các anh chị em mình ở đây có ra biểu tình chống đối cái vụ biển Đông, [đặc khu] 99 thì anh có tham gia hay không?
QT: Dạ cái hôm biểu tình để phản đối đặc khu mà ...ấy đó thì tôi có tham gia từ đầu cho đến cuối.
PT: Vậy em sẽ có mấy cái hình, thì em sẽ tìm và sẽ tặng cho anh há?
QT: Ừ.
PT: Rồi anh có thể nói thêm về con cái hay là những cái gì anh muốn chia sẽ trong cái bài nầy không?
QT: Dạ như vậy chắc là cũng đã đủ rồi, chớ không còn gì là chia sẽ đâu ạ.
PT: Dạ xin cám ơn anh rất nhiều về cuộc phỏng vấn nầy và tôi xin chúc anh luôn thành công trong công việc và gia đình và những ngày về hưu. Thật là vinh hạnh cho tôi được phỏng vấn anh ngày hôm nay.
QT: Cám ơn chị đã phỏng vấn và tôi được thố lộ một số các cái điều mà tôi biết. Cám ơn chị nhiều.
PT: Dạ xin cám ơn anh.
End of Interview
- Phỏng Vấn Anh Trần Văn Quý Trần Thị Minh Phước Phỏng vấn
• Phỏng Vấn Anh Trần Văn Quý (Trần Thị Minh Phước)
• Chuyện Biệt Kích (Trâm Nguyễn)
• Cuộc Ra Đi Lầm Lũi Của Một Vị Tổng Thống (Quốc Việt)
• Tại Sao Cộng Đồng Tỵ Nạn Không Thể Quên Ai Đã Cứu Mình Và Ai Đã Bỏ Rơi Mình (Vô Danh)
• Tháng Tư Nghĩ Về Sách Gài Gòn Cũ (Song Thao)
• Nếu Có Thể Đi Về Quá Khứ Tôi Sẽ Đi Thăm Đất Nước Tôi: Việt Nam Cộng Hòa (Wynn Trần)
• Từ Bãi Tắm Khỏa Thân Đến Chiêc Giường Của Chu Mạnh Trinh (Lưu Văn Vịnh)
• Vài tâm sự về câu chuyện "Nghịch Thiên Cải Mệnh" (Đặng Xuân Xuyến)
• Đông-Juan Thời Hiện Đại (Đặng Xuân Xuyến)
• Tìm con nơi Thiên Đường (Lê Hữu)![]()
|
© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com) |