Head

 

 

Nguyen Ngu I phong van cac Hoa Si
23-08-2012 | HỘI HỌA

Phỏng vấn các Họa sĩ

 NGUIỄN NGU Í thực hiện

Lưu Đình Khải - Lê Yên - Văn Đen - Tú Duyên - Nhan Chí

Thái Tuấn - Tạ Tỵ - Duy Thanh - Đinh Cường

Trương Thị Thịnh & Nguyễn Trí Minh - Bé Ký

Hiếu Đệ - Thu Nga - Vũ Hối - Trần Văn Quang



Họa sĩ LƯU ĐÌNH KHẢI


Sanh ngày 12-4-1910 tại làng Phước Lợi (Chợ Lớn).

Tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa thứ ba, tháng 6 năm 1933.

Giáo sư Hội họa Trung học Pétrus Ký (26-10-1933).

Giáo sư trường Mỹ thuật thực hành Gia Định.

Hiện là Hiệu trưởng trường Trang trí mỹ nghệ Gia Định từ năm 1961.

Huy chương Monisaraphon: 1-3-1944.

Hàn lâm bội tinh 23-6-1952.


Phần phỏng vấn của Nguiễn Ngu Í


Nguiễn Ngu Í: Theo ý ông thì Hội họa ngày nay ở Việt Nam có những xu hướng nào đáng kể nhất và riêng ông đã ngả về xu hướng nào hay tự tìm lây một đường lối riêng biệt?

Hiện nay Hội họa Việt Nam có rất nhiều xu hướng hay nói cho đúng hơn nữa là các nước Âu Mỹ có phái nào thì chúng ta có phái ấy, nhưng tất cả đều ở trong thời kỳ ấu trĩ và không có xu hướng nào được phát triển mạnh hay được giới thưởng ngoạn đặc biệt chú ý.

Riêng tôi, từ trước đến nay vẫn theo xu hướng cổ điển và Tân cổ điển. Nói thế không phải là chối bỏ những xu hướng khác mà chính tôi vẫn luôn luôn tìm tòi những điều hay lạ của nhiều phái mới và cũng nhìn nhận là nó có cái đẹp riêng của nó.


Nguiễn Ngu Í: Nếu có người cho rằng hội họa phải có dân tộc tính thì có người cho rằng hội họa cần phải được quốc tế hóa. Theo ý ông hai lập luận trên đây có trái nghịch nhau không và ông có nghiêng về lập luận nào không?

Tôi cho là hai lập luận trên gây không có gì đối chọi vì tôi nghĩ rằng hiện nay hội họa Âu châu gần như không còn có biên giới nữa. Các họa sĩ Âu châu đã đi lần đến chỗ cùng có một tư tưởng cũng như lối "vẽ" phảng phất giống nhau. Điều này đã lan tràn đến Bắc Mỹ và hiện nay lấn dần xuống các Quốc gia miền Bắc Nam Mỹ. Phải chăng vì ở những nơi này phương tiện giao thông được mau chóng và dễ dàng nên họa sĩ có nhiều dịp gần gũi nhau, cùng trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng như người cùng trong một xứ. Tôi chắc rồi đây không sớm rồi muộn nó sẽ lan tràn đến Việt Nam và các nước Á Châu khác như nhạc Roch, Twiss vậy. Việc này cũng không có gì lạ vì mỗi thế hệ người ta quan niệm cái đẹp một khác nhau. Thí dụ như trước đây 40 năm người ta cho một cô gái đẹp cần phải có gương mặt tròn như trăng rằm, tóc dài chấm gót, dáng đi yểu điệu, da trắng như dồi phấn, sau đó chừng mười năm thì phải có gương mặt trái xoan v.v. và đến bây giờ thì như sao chúng ta cũng đã hiểu. Các nước Âu châu họ không nói đến Dân tộc tính nữa mà gọi nó là Địa phương hóa Hội họa. Trong kỳ Triển lãm Quốc tế tại vườn Tao Đàn vừa qua, khi xem tranh Nhật Bản ta có đoán nổi là của Nhật hay không, nếu không có bảng ghi tên Quốc gia treo trước gian phòng của nó? Cũng có một vài nước còn giữ đôi chút màu sắc riêng biệt của xứ sở như Mã Lai, Pháp, Nam Dương nhưng rất ít, ít cho đến nỗi phải tinh mắt lắm mới nhận ra. Tôi cho là Dân tộc tính hay Quốc tế hóa là điều không mấy quan trọng miễn là Họa sĩ Việt Nam tiến mạnh và giữ được chỗ đứng ngang hàng với các hoạ sĩ năm châu.

Tôi e rằng sau này dù không muốn Quốc tế hóa Hội họa có lẽ ta cũng không cưỡng nổi đà tiến của nó và việc bảo tồn Dân tộc tính sẽ là điều hết sức mong manh như ngọn đèn trước gió bão. Theo tôi vấn đề tối cần là Họa sĩ Việt Nam đừng để mất tinh thần dân tộc.


Nguiễn Ngu Í: Xin ông cho biết những công trình tìm kiếm và những kết quả của ông trên địa hạt Hội họa?

Về công trình tìm kiếm của tôi và những kết quả trên địa hạt Hội họa thì thật không có gì đáng kể. Mà có tìm ra được cái hay, lạ, tôi đã phổ biến cho anh em và các sinh viên ở trướng cùng hưởng chung chứ không khư khư giữ riêng cho mình.

Công việc nhà trường có làm trở ngại cho việc sáng tác của ông không?

Tôi đã mất rất nhiều thì giờ cho công việc nhà trường nhưng không vì thế mà tôi ngưng sáng tác. Hiện nay tôi đã vẽ được ít nhiều tranh và vẫn luôn luôn coi việc sáng tác là môn giải trí mà tôi say mê và thích thú nhất.>/p>

Nguiễn Ngu Í: Xin ông cho biết ý kiến về một vài xu hướng như xu hướng Trừu tượng chẳng hạn.

Như tôi đã nói trên, xu hướng nào cũng có cái hay cái lạ riêng của nó. Tôi đã cố tìm hiểu về loại tranh này và cũng hiểu được chút ít. Từ xưa đến nay phần nhiều tranh Việt Nam ta có những đề tài rõ ràng như những tuồng hát thường vào những hồi kết cuộc, lúc nào Trung cũng thắng Nịnh, Chính nghĩa diệt Bạo tàn, người ngay thắng kẻ gian. Phải chăng lối dàn xếp, bố cục này đã quá quen thuộc với quần chúng rồi cho nên trong mấy năm gần đây có nhiều tuồng hát, phim hay đã "vãn" vào lúc mình không thể biết trước được và bắt khán giả khi ra về vẫn còn nhiều suy nghĩ. Người ta cho nó hay, vì đạo diễn biết ngừng đúng lúc. Tôi cho tranh trừu tượng cũng bắt chước na ná giống như thế: màu sắc lối bố cục trong tranh đều mang nặng tính chất "khó hiểu" và đề tài chính như ẩn nấp dưới lớp sơn dày. Với bao nhiêu đó tranh trừu tượng đã buộc người thưởng ngoạn phải tìm tòi, suy nghĩ nhiều để cố hiểu Họa sĩ muốn diễn tả cái gì nhưng sợ điều nói trên không có mấy ai thành công được nếu tranh không có tựa.


Căn cứ vào sự hăng say sáng tác của tất cả anh em Họa sĩ Việt Nam, tinh thần chăm chỉ, cố gắng học hành của các em sinh viên, sự nâng đỡ thiết thực của chính phủ, báo chí và giới thưởng ngoạn, tôi tin rằng ngành Hội họa Việt Nam sẽ tiến mạnh không kém một quốc gia Âu Á nào trên thế giới và sẽ có nhiều Họa phẩm giá trị làm rạng danh cho xứ sở.




Họa sĩ LÊ YÊN


Tên thật: Lê Yên.

Sinh năm 1913 tại Hà Nội, tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1937.

Từng tham dự nhiều cuộc triển lãm ở ngoại quốc (Paris, San Francisco), và nhận được nhiều huy chương Quốc tế.

Vào Nam năm 1953. Đã làm việc và dạy tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội, trường quốc học Vinh, trường Khải Định, Đồng Khánh, Kỹ thuật và Cao đẳng Mỹ thuật ở Huế.

Tôi vào trường Mỹ thuật Huế hiện đã dời vào trong Hà Nội, nhưng không gặp thầy Lê Yên mà lại gặp trò Đinh Cường. Cường bảo tôi: có lẽ giờ này thầy đang dạy ở trường Trung học Kỹ thuật.

Chúng tôi dạo quanh một vòng, nói chuyện về cuộc Triển lãm Quốc tế vừa rồi ở Sài Gòn, đặc biệt là về những nhận xét của Tạ Tỵ và Thái Tuấn về cuộc triển lãm này, rồi kéo xuống nhà của thầy ở mãi gần cuối đường Minh Mạng trong một khu vườn u tịch, phía trước có một cái hồ sen.


Trong khi đợi thầy đang bận bữa cơn trưa để kip đi dạy vào lúc 2 giờ chiều, chúng tôi ngồi nghe chim hót (vì phòng khách - và đồng thời cũng là phòng ngủ của Lê Yên tiên sinh - có một cái chuồng chim khá lớn nuôi đủ các thứ chim hót khá hay) và xem mấy bức tĩnh vật treo rải rác đây đó trong phòng có lẽ không phải vì mục đích mỹ thuật mà vì để cho những bức tường đỡ trống trải.


Phần phỏng vấn của Nguiễn Ngu Í


Nguiễn Ngu Í: Tại sao trong gần mười năm nay, anh không vẽ nữa mà chỉ dạy cho người khác vẽ?

Câu hỏi như có vẻ "xúc phạm" đến lòng tự ái của một nghệ sĩ, anh vội vàng thanh minh và giải thích:

Anh nghĩ tôi còn có thì giờ đâu nữa để mà vẽ!? Hết Kỹ thuật đến Mỹ thuật, hết Mỹ thuật lại chạy sang Kỹ thuật; về đến nhà thì bổn phận đối với con cái. Ngay cả những cuộc phỏng vấn từ bên Pháp gởi sang đã lâu mà tôi cũng chỉ trả lời được một vụ, với những lời lẽ vắn tắt. Nhưng bắt đầu hè này tôi sẽ cố gắng thu xếp để có thì giờ sáng tác.


Nguiễn Ngu Í: Theo anh thì nàng Mỹ thuật Việt Nam trong nhữntq năm gần đây như thế nào? Còn duyên hay hết duyên? Có còn quyến rũ anh như hồi mới ra trường cách đây vài ba mươi năm nữa không?

Nàng Mỹ thuật của chúng ta trong những năm gần đây muốn ngã theo những chiều hướng mới cho sát hợp với những thị hiếu quốc tế và dường như xa rời cái cốt cách và ban sắc dân tộc. Điều này không có gì khó hiểu. Nó như nhiều người trẻ tuổi hôm nay bắt chước thanh niên nước ngoài mặc áo chim cò, mặc quần gin, nhưng vẫn không thiếu những người đứng đắn, một mặt muốn khai phóng, nhưng một mặt vẫn cố gìn giữ những đường nét và màu sắc dân tộc.


Nguiễn Ngu Í: Đặc biệt trong bốn năm dạy ở trường Mỹ thuật Huế, anh thấy có xu hướng nào phát triển mạnh mẽ nhất?

Anh không trả lời thẳng câu hỏi nhưng anh nói về quan niệm đi dạy của anh:

Có người bắt sinh viên hội họa phải nhất luận làm đúng theo những điều họ dạy, họ bảo. Tôi thì không. Nghệ thuật ẩn náu trong lòng mỗi người chứ không phải có thể viện trợ từ bên ngoài vào. Giáo sư giúp cho những nghệ sĩ tương lai những kiến thức, những kinh nghiệm, những ỹ thuật thông thường để họ có thể đốt giai đoạn mà đi sâu vào lòng họ và đi sâu vào thiên nhiên một cách mau chóng và dễ dàng, đỡ phải mò mẫm những điều mà những người đi trước đã mò mẫm và nay đã có thể tổng kết lại thành những kinh nghiệm, những công thức, nguyên tắc. Tôi tin trong địa hạt khoa học e chắc cũng vậy.




Họa sĩ VĂN ĐEN


Tên thật: Dương Văn Đen

Sanh ngày 21-10-1919 tại làng Hòa Thinh, quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ (Nam Việt).

Tự học vẽ từ l921. Năm 1950 qua Pháp với phương tiện riêng, để học hỏi thêm (dự thính trường Cao đẳng Mỹ thuật Quốc gia), đến 1953 trở về nước.

Đã triển lãm ở Pháp 2 kỳ: 1952 ở Galerie de Conti và 1953 ở xóm La Tinh và ở trong nước tại rạp hát Tây 3 kỳ: 1953, 1954, 1955.

Tại Atelier de Arts Francais: 1956, tại Pháp văn Đồng Minh Hội 1 kỳ: 1958, tại phòng Thông tin Đô thành (chung với các họa sĩ khác, 5 kỳ) và riêng (1961).

Đã được thưởng: huy chương vàng (triển lãm hội họa mùa Xuân 1960).

Đã ở trong ban Giám khảo cuộc tuyển lựa tranh để triển lãm hội họa muà Xuân năm 1961 và l962; và ở trong ban tuyển trạch tranh gởi đi ngoại quốc do Nha Mỹ thuật Học vụ tổ chức (1958, 1959, 1960, 1961).


Nước Việt Nam ta hấp thụ văn minh Á và Âu. Về phương diện hội họa, có hai xu hướng Đông phương và Tây phương. Trong xu hướng Đông phương họa sĩ sáng tác theo cổ truyền, với những phương tiện và cách diễn tả Á Đông tính: giấy bản, lụa, khắc gỗ, đường nét, hình thể, sắc thái có tính cách biểu tượng. Trong xu hướng Tây phương, có rất nhiều họa phái thực, siêu tả chân, lập thể, trừu tượng nghĩa là các họa phái đã có hay đang có ở các nước tiên tiến Á và Âu, xu hướng Tây phương có phần lấn át xu hướng Đông phương vì giới họa sĩ Việt Nam theo đà tiến hóa quốc tế. Nhận thức rằng dân tộc tính không phải chỉ vẽ trên lụa hay trên giấy bản, chỉ dùng những phương tiện cổ truyền, họa sĩ Việt Nam, những người có thiện chí cố tìm tòi, khai thác các nguyên liệu quốc tế là sơn dầu. Dùng nguyên liệu này cùng những nguyên liệu Tây phương để diễn đạt được tư tưởng mình hay tư tưởng Á Đông, đó là một công trình. Mặc Âu phục không phải là Tây, dùng nguyên liệu của người để làm của mình, đó mới đáng kể. Riêng về tôi, từ ngót mười năm nay, vẫn dùng lối ấn tượng để diễn tả tâm trạng mình hay đặc tính dân tộc Á Đông. Chuyển màu, biến nét, phá thể, là cốt để đi đến mục đích trên. Tôi có màu sắc riêng biệt, lối diễn tả riêng biệt. Tôi không biết phải liệt tôi vào họa phái nào. Ngày sau, phê bình gia đặt cho lối vẽ tôi danh từ nào cũng được.


Dù muốn hay không, phần lớn họa sĩ Việt Nam đã theo đà tiến triển quốc tế. Như thế là có ý niệm quốc tế hóa họa phẩm nước nhà. Quốc tế hóa không phải khư khư theo đường lối của người nhưng cố giữ vững tinh thần dân tộc. Dân tộc tính ở chỗ nào? Không phải chỉ vẽ cái nhà lá, thửa ruộng, cây dừa, cành tre, v.v Dân tộc tính phảng phất trên toàn diện bức tranh, dầu với đề tài nào. Nó như là không khí trời Đông mà ta thở, khác với không khí trời Âu. Như thế, quốc tế hóa họa phẩm nước nhà mà vẫn giữ dân tộc tính. Hai quan niệm đi song nhau, nương tựa nhau để bảo vệ cái vốn liếng tinh thần dân tộc vô cùng quý báu.


Tiện đây, tôi xin kể anh nghe ví dụ sau đây:

Một nhà sưu tập tranh, người Mỹ, có ghé thăm tôi tại xưởng vẽ. Ông ta lựa mua vài bức và nói với tôi: "Tôi sở dĩ chọn những bức này vì nó có tính cách chung. Người xem bất cứ ở nước nào cũng hiểu được, cũng thấy thích thú, như bức ông vẽ hình, vật đây chẳng hạn. Người tinh ý sẽ thấy trong nét vẽ của ông cái riêng biệt của dân tộc ông. Còn như những bức vẽ cách sinh hoạt, nhà cửa đặc biệt ở đất nước ông, thì khó cho người nước ngoài cảm thông".


Ý kiến của nhà sưu tập tranh này làm tôi nhớ đến một người bạn họa sĩ Ấn Độ tôi quen lúc ở Pháp - Anh họa một phụ nữ Pháp, nhìn thì ai cũng biết đó là một phụ nữ Pháp, nhưng xét kỹ, thì thấy rằng không phải do một họa sĩ Tây phương họa; cũng như khi anh vẽ cảnh vật ở Paris, không ai lầm đó là cảnh vật nơi nào khác, song trong toàn thể bức tranh, phảng phất cái gì của Ấn.

Vậy thì chẳng phải dùng những kỹ thuật riêng của dân tộc mình theo, vẽ những người, những vật, những cảnh chỉ có dân tộc mình có, là đem dân tộc tính mình vào hội họa.


Từ khi bước chân vào ngành hội họa đến giờ, lúc nào tôi cũng tìm kiếm, và ít khi được vừa ý. Lúc nào tôi cũng cảm thấy còn khám phá được cái gì hay hơn trong những ống màu, trong nét cọ hay nhát dao. Đối với tôi, cái hay cái đẹp của một bức tranh không cần ở trong tiểu xảo, mà ở lối diễn tả cho sống và mạnh. Đường nét linh hoạt, màu sắc hòa hợp chặt chẽ, bố cục vững vàng; tất cả phải cùng hòa nhau như một hợp tấu. Tôi thích những màu mạnh, tương phản mạnh nên tôi tìm tòi mãi trong màu sắc và gặt hái được một ít kết quả.

Những kết quả đó biểu hiện trên một vài bức tranh như "Tà dương", "Tự họa", "Thổi chai", "Trâu". Trong bức "Tà dương" tôi mượn đề tài hết sức đơn giản: một cánh đồng vắng chìm trong ánh chiều tà. Màu đỏ bầm hợp với những mây vàng úa nhấn sâu cái vệt đen ở chân trời, nói lên được cái gì trầm lặng, huyền bí và cái sức mạnh bị chứa đựng.


Hội họa Việt Nam không còn ở thời kỳ phôi thai, nó còn có phần trưởng thành. Số đông họa sĩ sáng tác trong những hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn và muốn bán được, lắm lúc phải chiều theo thị hiếu của người. Vì thế, sự sáng tác bị suy giảm. Dân chúng khởi sự thích, xem tranh, phê bình tranh. Ước mong với những cuộc triển lãm liên tiếp, sự tận tâm của giới hữu trách trong việc phổ biến hội họa và nâng đỡ họa sĩ, hội họa được chú ý đến nhiều hơn nữa và trong một thời gian, hội họa được đánh giá đúng.




Họa sĩ TÚ DUYÊN


Tên thật: Nguyễn Văn Duyến.

Sanh ngày 20-12-1919 tại làng Bát Tràng, tỉnh Bắc Ninh (Bắc Việt).

Học dở dang trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội (cùng một lớp với: Nguyễn Huyến, Văn Giáo, Nguyễn Sĩ Ngọc, Nguyễn Thị Kim).

Từ giã trường, mở ngay phòng vẽ tại Hà Nội.

Được một năm thì vô Nam vì tính thích đi xa. Mở phòng vẽ ở đường Lagrandière (bây giờ là Gia Long).

Đã chọn từ lâu ngành Thủ ấn họa, và từng phụ làm thủ ấn với họa sĩ Nguyễn Văn Tị.

Miệt mài mãi, năm 1943 mới thành công.

Đã triển lãm ở: Sài Gòn và Đà Lạt (1953), Hà Nội và Hải Phòng (1954), Sài Gòn (1956), Huế, Đà Nẵng và Nha Trang (1958), Sài Gòn (1960), Đà Lạt (1962).

Đã tham dự các cuộc triển lãm ở: Nhật Bổn, Mã Lai và Mỹ Quốc.

Đã nói chuyện về Thủ ấn họa tại: Sài Gòn (1956), Huế (1958), Nha Trang (1958), Đà Lạt (1962).

Đã được giải thưởng: Tuần lễ văn nghệ (1955), Tết Cộng hòa (1956), Triển lãm mùa Xuân (1960).


Phần phỏng vấn của Nguiễn Ngu Í


- Có phải anh là người tiền phong trong ngành Thủ ấn họa?

Anh gật đầu:

- Thủ ấn họa là một ngành mới trong hội họa nước nhà. Mới, nhưng mầm móng đã có từ trước. Anh cho phép tôi dài dòng một chút.

"Ta từ xưa có phương pháp mộc bản, dựa theo cách thức của Tàu. Ở Bắc Việt có làng Hồ là nơi sản xuất loại tranh Tết bình dân, người ta dùng mo cau phết mực trên bản khắc gỗ rồi ấn trên giấy. Có một dạo, trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương ở Hà Nội đã thử dung hòa kỹ thuật cổ truyền với đề tài mới mẻ".


Tôi vội ngắt lời anh:

- Có phải những bức tranh khắc bản gỗ minh họa một số cảnh, người trong Kiều in trong tập Văn Họa kỷ niệm Nguyễn Du xuất bản năm 1942 là những thí nghiệm của họ?

- Phải. Chính các anh Nguyễn Gia Trí, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Đỗ Cung, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Phạm Hầu, Lê Văn Đệ, Tôn Thất Đào, Nguyễn Văn Tị, Lưu Văn Sìn, mười một anh này đã tự tay khắc lấy bản gỗ, tự pha lấy màu và tự in ra.


- Còn phương pháp của anh có gì khác?

- Tôi dung hòa lối của ta với lối nước người, chế ra lối thủ ấn họa của mình. Thay vì một bản khắc chỉ được một màu, tôi có thể dùng nhiều màu trên một bản gỗ. Ngoài ra, còn thêm dụng công: tôi dùng những ngón tay để làm bút tô màu lên bản gỗ.


- Anh thành công năm nào?

- Miệt mài mãi, đến năm 1943, tôi mới tạm cho mình thành công phần nào, với tác phẩm đầu tay, đó là bức tranh thủ ấn "Phan Thanh Giản".


- Họa phẩm này có được hoan nghênh không anh?

- Tôi không dám nói là đã được hoan nghênh, nhưng nó đã được các báo mười chín năm về trước để ý, giới thiệu với đồng bào và khuyến khích tôi. Tôi còn nhớ có ba tờ báo thời ấy đã đặc biệt tỏ cảm tình với việc tôi theo đuổi, đó là tờ "Thể thao Đông Dương", tờ "Thanh Niên", và một tờ báo Pháp, tờ "I'Impartial".


- Còn các người trong nghề?

- Tôi cũng đã được nhiều vị giáo sư hội họa nâng đỡ, khuyến khích, và kỹ thuật thủ ấn họa của tôi cũng có phần cải tiến, song như anh biết, nghệ thuật thì vô biên, mà tài sức mình thì có hạn.


- Thế thì anh có mong gì chăng với lối đi riêng biệt của anh?

- Tôi chỉ mong có một điều, là nghệ thuật thuần túy Việt này sẽ được vang dội quốc tế.

Anh nhìn ra cửa sổ.

- Hội họa nước nhà hiện có tiến triển, nhưng chưa được tiến triển mấy. Cho nên tôi mong có nhiều nhà phê bình về hội họa tiếp tay với chúng tôi. Tôi lại còn mong các vị Mạnh Thường Quân, các nhà "lái tranh" biết "khai thác" họa sĩ cũng như tác phẩm của họ để những người chân thành quyết sống chết với hội họa có phương tiện và bầu không khí mà sáng tác. Chưa hết, anh à. Tôi mong có một viện Hội họa thu góp những tranh đã có từ trước đến nay của các họa sĩ quá cố cũng như của các họa sĩ đương thời có tiếng, để những người trong giới xem xét và học hỏi, để những ai yêu nghệ thuật có nơi quan sát, so sánh. Sau cùng, tôi mong được đọc những tác phẩm của ngoại quốc nói về hội họa dịch ra tiếng Việt để rộng tầm hiểu biết.


Anh mời tôi dùng với anh một tách nước trà. Tôi vừa uống vừa nhìn thấy bức tranh thủ ấn treo ở tường mà đề tài mượn ở truyện Kiều, ở Chinh Phụ Ngâm, ở lịch sử, và ở ca dao. Tôi hỏi anh lý do việc chon đề tài. Anh chậm rãi đáp:

- Vì tôi nghĩ rằng phong trào dân tộc đang lên ở nước ta cũng như ở các nước khác ở Á Đông. Họa sĩ Nhật đã đi trước ta, và trong các tác phẩm của họ, họ đã đánh dấu được một cái gì cho dân tộc họ. Cho nên tôi mượn đề tài ở lịch sử, ở các tác phẩm dân tộc, ở ca dao.


Về Kiều, tôi cố ý Việt hóa cả nhân vật, y phục và cảnh trí. Ý tôi muốn tỏ cho người ngoại quốc biết tác phẩm bất hủ này là công trình tái tạo của một thiên tài đã đem cái duyên dáng của dân tộc Việt, cái cá tính của mình để biến quyển tiểu thuyết Tàu tầm thường thành một áng thơ Việt bất hủ.


Tôi minh họa các câu ca dao vì chúng man mác hồn quê, và gợi tình hoài cổ.

Còn về lịch sử, là tôi mong ghi lại tinh thần ái quốc cao cả của các tiền nhân và để góp phần cho những ai sau này muốn tạc tượng các anh hùng nước Việt.

Vậy khi vẽ tranh "Thà làm quỷ nước Nam", ta không có một hình một tượng gì của Trần Bình Trọng cả. Nhưng khảo sử, tôi được biết ông khi chết chưa quá bốn mươi, đang thời cường tráng. Một kẻ thất thế mà thốt câu đầy khí phách ấy phải là một người gân guốc, tâm hồn khỏe mà thể xác cũng khỏe. Cằm bạnh, mày rậm, mắt to là tướng của kẻ hùng, tôi căn cứ theo tuổi tác, theo thái độ trước cái chết và trước mồi phú quý để hình dung con người của kẻ bất khuất ấy. Tôi để ông ở trần, để giới thiệu cái ngực nở nang, cánh tay gân guốc. Sau ông, là thành quách cháy, hình ảnh của sự tàn phá dã man của quân Mông Cổ, dưới chân ông là cây đao nằm, tượng trưng sự thất thế. Hai tay bị trói, nhưng toàn người ông tiết ra một sự hiên ngang, hùng dũng không bờ, bất chấp tan tành sau lưng và cái chết trước mặt.


Tôi thích nhất tranh lịch sử này vì nó nói được - tự nhiên là trong mắt tôi - cái sống trong cái chết. Và chính cái chết oai hùng này mới mang đến cho Hưng Đạo Vương cái thắng vẻ vang sau này. Quân Mông Cổ đã thấu tinh thần quyết chiến của dân tộc Việt Nam ta qua thái độ và lời nói của ông; tướng binh và dân ta vì cái chết vinh diệu ấy mà càng thêm phấn khởi. Anh thử nghĩ Trần Bình Trọng mà chịu làm vương đất Bắc thì vận nước biết đâu chẳng đổi thay.


Anh im lặng một chút.

Nhưng nhìn lại, những công việc tìm tòi cũng như sáng tác của tôi chỉ mới là một hạt cát trên bãi biển hội họa.

Anh tha thiết đem dân tộc tính vào tranh với lối vẽ, với đề tài, với cả vật liệu, hẳn là đối với tính cách quốc tế.




Họa Sĩ NHAN CHÍ


Họ Nhan, tên Chí, người Minh Hương.

Sanh ngày 20-4-1920 (tuổi Thân, khai sinh ghi 1921) tại làng Trung Hưng, quận Gò Vấp Gia Định.

Học trường Mỹ thuật thực hành Gia Định (1935), trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội (1937).

Chuyên vẽ chân dung bằng phấn tiên (pastel).

Triển lãm chung tại Phòng Thương mãi Hà Nội (1939) và được Tưởng lệ danh dự tại Pháp văn đồng minh hội (1955), và liên tiếp nhiều năm tại các phòng Triển lãm văn hóa Việt Nam.

Dự Triển lãm mùa Xuân các năm 1959, 1961.

Dự Triển lãm Stanvac năm 1960, 1961.

Huy chương vàng hội Văn hóa Việt Nam (1960).

Tưởng lệ danh dự Triển lãm Hội họa mùa Xuân năm 1960 và 1961.


Phần phỏng vấn của Nguiễn Ngu Í


Lần thứ ba, anh lại mời tôi ra nhà sau để tiện bề trò chuyện, mà tôi vẫn còn nán lại ở phòng khách. Vì hai bức tranh phong cảnh cửa anh.

Nhà anh là một nhà cao cổng ở tận cùng một ngõ hẻm không lối ra của một con đường hẻm trong cái xóm cù lao của khu Tân Định, nên tìm lối, hỏi nhà, dẫn xe dưới nắng hè, tôi đà thấm mệt, nhưng vừa bước vô nhà anh, hai bức tranh phong cảnh này đã làm tôi mát mắt và khỏe cả người. Và tôi nhớ đến một anh bạn nhà văn mới về nhà mới nhờ tôi xem trong số tranh của các họa sĩ tôi phỏng vấn có bức nào làm dịu được con người thì giới thiệu cho anh.


- Có phải đây là cảnh Đà Lạt không anh?

Phải. Cảnh hồ Than Thở.

- Chắc khi anh vẽ cảnh này, tâm hồn anh thơi thới lắm.

Sao anh biết?

- Vì màu sắc và bố cục như khiến nqười xem muốn quên hết ưu phiền! Anh vẽ ngay tại chỗ hay phác họa rồi về xưởng vẽ tiếp?

Hai tranh này, tôi vẽ luôn tại chỗ. Tôi ngại xa cảnh, phần "ô trọc" sẽ trở lại làm chủ con người mình, rồi cái chất thanh thản ít khi mình gặp biến đi làm bức tranh sẽ mất cái "mát", cái "khỏe" như anh vừa nói.


Nhưng mà tôi thỉnh thoảng cao hứng với vẽ phong cảnh, tôi ngày thường vẽ chân dung. Mời anh ra sau này ta nói chuyện. Ở trước, chật, và lũ con tôi làm ồn quá."

Tôi theo anh. Sau nhà là chỗ anh làm việc, cái xưởng họa của anh, và cũng là nơi các bạn thân cùng nghề họp để hội đàm và cũng để hội họa, những ngày chủ nhật.

Anh kéo bức mành mành. Một con rạch nhỏ đang phơi một đám rau muống uột èo và triển lãm một mớ chân nhà lỏng khỏng của xóm nhà sàn bên bờ đối lập. Nước ròng sát, mùi tanh của bùn sình thoang thoảng.


Anh chuyên về chân dung vì anh thích?

Thích cũng có, mà cần cũng có. Ban đầu, thì tôi vì thích "chất người" hơn "chất thú", "chất vật", nhưng rồi vì hoàn cảnh, tranh chân dung được tiêu thụ dễ dàng hơn.


Anh vẽ một bức chân dung, mất bao nhiêu thì giờ?

Trung bình là bốn giờ. Một ngày vẽ một giờ thôi, anh à. Vẽ một giờ, người mẫu đã mệt, mà mình cũng chẳng còn khỏe!


Vẽ chân dung, chắc anh khỏi bận tâm mệt trí nhớ?

Anh nói sao, tôi chưa hiểu.

Tôi muốn nói vẽ người, anh thấy sao vẽ vậy, khỏi tìm tòi, khỏi tốn công dàn, xếp, nghiên cứu ánh sáng, màu sắc chẳng hạn.

Có lẽ thấy câu chuyện sẽ khá dài, anh không vội trả lời, gọi con trai lớn, bảo đi mua nước giải khát. Rồi ngồi lại trước mặt tôi, anh mân mê vài sợi râu dài ở mép trên, nhìn thẳng mắt tôi.


Anh tìm tôi là anh tìm một họa công hay một họa sĩ?

Tôi nhìn anh, chưa hiểu:

Nhạc thì có nhạc công, nhạc sĩ; văn cũng có văn sĩ, văn công. Thì họa cũng thế. Đã có chữ "sĩ" ở sau, thì có bao giờ làm một công trình nghệ thuật - dù đó là vẽ hình người để lấy tiền, nói vẽ mướn đi cho tiện - mà chẳng tìm tòi, chẳng nghiên cứu, chẳng sáng tác.


Đứa con anh vừa mang nước giải khát về, rót ra ly. Anh vội mời tôi:

Uống đi, rồi tôi nói tiếp cho anh nghe. Cái tôi đang tìm kiếm là vẽ sao cho giống.

- Giống như chụp hình?

Anh lại "hạ" tôi nữa! Vẽ như chụp hình thì đâu phải công việc của nghệ thuật. Đó là việc của kỹ thuật. Cái giống tôi nói, là chẳng phải người thật ra sao, người trong tranh y như vậy, từ cái thẹo đến cái nốt ruồi! Mà là "cái thần" của người ấy, sao cho nó hiện ra ở con người mình vẽ, để ai biết rõ người kia, xem tranh mình là thấy ngay chính người đó.


- Thế anh định là cho "giống" bằng cách gì? Màu sắc hay đường nét?

Cả hai. Và tùy theo người, mà tôi dùng màu sắc nhiều hơn đường nét hay ngược lại.

- Thế thì khi anh vẽ, anh phải nghiên cứu kỹ gương mạt người mẫu?

Tôi "phá" họ luôn.

- Anh phá họ bằng cách nào?

Tùy người. Như vẽ ông A, ông ấy nghiêm, và cái vẻ nghiêm xét hợp với ổng thì tôi giữ điệu bộ đàng hoàng. Còn như họa cô X, xét cái vui sẽ làm bật hẳn cái duyên của cô lên, thì tôi kể chuyện vui, hoặc dùng nét mặt, cử chỉ làm cô ấy cười.


-Tôi mỉm cười, nói với anh: "Anh cố chọc cho cô X ấy cười, khiến tôi thấy cảnh mà một nhà thơ tiền chiến này đã họa trước anh bằng chữ:

Em cười bừng nở hàm răng lựu

Sáng cả trời xanh mấy dặm trường.

Anh hít hà:

Cái tôi muốn "giống" trong bức tranh cô X. , chẳng phải hàm răng lựu khi cô ấy cười, mà là cái "sáng cả trời xanh" ấy.

- Thế anh đã đạt được cái "giống" ấy chưa?

Tôi đã nói với anh lúc nãy, tôi chưa đạt được, hay mới được một phần chưa đáng kể.


Tôi dứng dậy, lại gần một bức tranh của anh. Hai đứa trẻ. Chị bồng em. Vẻ thiếu thốn rõ rệt, và một thoáng u buồn.

- Còn nhà văn của anh để ý cái gì nhất trong tranh này?

Tôi nhìn kỹ một hồi, lùi mươi bước.

Con mắt. Mắt ngây thơ của đứa em còn non dại. Mắt lo âu của đứa chị vừa lớn khôn và có lẽ cũng vừa hiểu đời là gì.

Chính tôi dồn sức vào đôi mắt chúng. Thế là tôi đã đạt được chút gì rồi. Vì tên bức tranh này là: "Trề mồ côi".

- Chắc anh thích tranh này?

Anh gật đầu, rồi tiếp với một nụ cười nhẹ:

Nhưng chưa biết được bao lâu.


Chúng tôi trở lại bàn con.

- Vẽ người, anh thấy có cần dân tộc tính không?

Anh chậm rãi uống một hớp nước giải khát, rồi mới thong thả đáp:

Tôi không biết nói với anh sao. Bởi tôi không đặt thành vấn đề. Không tự hỏi mình nên dùng chất gì, theo lối nào, nhấn mạnh khía cạnh nào để người xem tranh mình thấy đó là tác phẩm của một người Việt. Nhưng có lẽ cái gì đặc biệt của dân tộc mình nó theo máu mà truyền ra tay, ra cọ sao chẳng biết, mà bức chân dung các người ngoại quốc - phần đông là chánh khách - do tôi họa mang một cái gì là lạ, riêng riêng, khiến những người ấy hài lòng ra mặt rồi giới thiệu bạn bè quen biết tìm tôi để nhờ vẽ. Cái đó phải chăng là dân tộc tính?


Im lặng một lúc, anh nói tiếp:

Hội họa có cần phải có dân tộc tính hay không, tôi chẳng có ý kiến gì, nhưng trong họa phẩm của mình, nếu có cái gì riêng của mình trong ấy, mà cái riêng ấy của mình nếu lại bắt nguồn từ dân tộc mình mà ra, thì càng tốt chớ sao!

Rồi anh bỗng xoay câu chuyện:

Trong bức thơ phỏng vấn, câu đầu hỏi về xu hướng nào đáng kể nhất trong nền Hội họa hiện nay ở nước ta, anh chị em khác thì sao chẳng biết, chớ tôi, tôi thấy có xu hướng này là đáng kể nhất: đó là xu hướng tìm kiếm cái gì mới, lạ, khác hơn cái mình đang có, mặc dầu lắm khi cái mới, lạ của mình tìm ra, người ta đã tìm thấy rồi mà mình chẳng biết, mặc dầu lắm khi tìm mãi mà kiếm chẳng ra.


- Anh có thấy họa sĩ cần xuất dương không?

Xuất dương để mà làm chi! Trong nước, vẽ trọn đời chưa hết. Mà ra nước ngoài, thì mình tranh đua với thiên hạ sao lại!

- Tôi muốn nói đi nước ngoài để mà nhìn, xem, mà học hỏi chớ chẳng phải để tìm đề tài, hoặc để triển lãm tranh đâu.

Anh uống cạn ly rồi gật gù:

Cái đó thì ai chẳng muốn, huống hồ là bọn tôi vốn sống chết vì màu sắc, vì đường nét, vì đổi thay. Tôi có đôi lần được dịp đi, nhưng rồi tôi bỏ lỡ.


- Anh bỏ lỡ hay là anh tảng lờ cho đôi dịp ấy đi qua.

Anh mở mắt, nhìn tôi:

Anh đoán đúng. Hồi vẽ cho Bollaert, Pignon, các "ông lớn" ấy mến tôi, tạo cho cơ hội để đi ra ngoài. Tôi để cho cơ hội ấy qua. Vì mình không muốn đi ra ngoài bằng lối đó.


- Anh có mong gì ở chánh quyền để ngành Hội họa mình phát triển?

Anh phát biểu những ý kiến bằng một tiếng gọn lỏn.

Không.

- Sao lại không? Anh chẳng mong Chánh quyền cấp học bổng đi quan sát hoặc đi trau dồi nghệ thuật ở nước ngoài sao?

Mong mà làm chi. Vì Chánh quyền không thể làm được trong tình thế này. Chánh quyền chỉ có thể giúp được một điều, mà điều ấy Chánh quyền đã làm rồi, đó là tổ chức cuộc Triển lãm hằng năm.


Thấy anh bắt đầu tỏ vẻ bực, tôi hỏi sang chuyện khác:

- Anh kể cho tôi một kỷ niệm gì hay hay trong cái nghề vẽ chân dung của anh.

Mặt anh tươi tươi lại:

Tôi có vẽ một bà. Bà này từng hoạt động nhiều ngoài xã hội nên tôi chẳng lạ gì. Nhưng khi bà làm kiểu cho tôi vẽ, thì bà dành cho tôi một sự ngạc nhiên thích thú. Bà tỏ ra vui vẻ, hồn nhiên và rất kiên nhẫn. Vì cần có bức họa gấp, bà ngồi luôn ba giờ cho tôi họa. Như tôi đã nói với anh, đứng vẽ một giờ, họa sĩ thấm mệt, mà người mẫu cũng khó chịu nhiều, nên tôi chỉ vẽ một giờ, rồi sau vẽ tiếp. Với bà này lại khác, bà vẫn vui tươi trong suốt ba giờ đồng hồ; và suốt ba tiếng đồng hồ tôi vừa nhìn, vừa vẽ, vừa nói chuyện, vẫn không thấy mệt. Tôi có trước mắt một người đàn bà giản dị, hồn nhiên, vui vẻ trong khung cảnh gia đình, và đẹp một cái đẹp khó tìm ở những người phụ nữ đã quá nửa chừng xuân, một người mình thấy rất gần mình, rất dễ cảm thông, khác hẳn với con người xã hội mà mình được biết giữa đám đông. Sự khám phá kỳ thú này làm tôi không biết mệt. Bà yêu cầu tôi vẽ thêm một giờ nữa cho xong bức họa, nhưng tôi chối từ, để hôm sau vẽ tiếp.


- Chắc bức chân dung bà ấy là một trong những bức chân dung anh ưng ý nhất?

Đúng vậy. Tôi đã say sưa làm bổn phận nghề nghiệp của mình.

- Họa sĩ bằng lòng tác phẩm cửa mình, nhưng người mẫu có bằng lòng công trình của nhà nghệ sĩ không?

Bà nhờ tôi theo bức chân dung ấy vẽ lại một bức thứ nhì để bà tặng một người bạn quý. Như thế đủ trả lời câu anh hỏi.


- Và anh vẽ lần thứ nhì kém hứng thú hơn lần thứ nhất?

Dĩ nhiên. Có họa sĩ nào vẽ lần thứ nhì một đề tài mà say sưa như cái thuở ban đầu cho được. Lần đầu, tôi sáng tác, lần sau tôi sao chép. Hai cái khác nhau.

Sực nhớ một bậc họa sĩ đàn anh nói với tôi: "Nhan Chí có tâm hồn nghệ sĩ như Van Goh như Gauguin. Thương và tội cho anh ấy quá. Tốt với bạn vô cùng. Sống chật chội và mắm muối với vợ con thế, mà có tiền, là kéo anh em đãi đằng, và bạn bè lúc ấy có gì cần anh, là anh sẵn sàng", tôi vừa bắt tay từ giã anh vừa hỏi:

- Nghề vẽ có nuôi sống anh và gia đình không?

Nhờ Trời, đủ anh à.


Nhưng anh chưa vội bỏ tay tôi ra:

Tôi thèm cái đời làm báo của anh quá. Đi đây, chạy đó, hoạt động luôn luôn. Còn nghề tôi, cứ thế mãi: bữa nay, đến nhà này một giờ, vẽ, buổi chiều đến nhà nọ một giờ, vẽ, rồi cứ vậy vậy. Đều đều, chán chán, như đời nước đọng.

Và tôi gặp đôi mắt nặng buồn của anh nhìn xuống con rạch con nước triều chưa lên tới. Và từ bên kia rạch, vẳng lại bài dạy Pháp văn của một ông giáo già quen biết mà anh nghe đi nghe lại chẳng biết đã bao nhiêu lần.


Giữa lúc đó, chị đi chợ về. Lũ con ùa ra bu lấy má. Tôi vừa chào chị vừa lớn tiếng hỏi anh:

- Người ta đồn vợ họa sĩ ghen lắm phải không anh?

Anh phì cười, ôm lấy đứa con áp út lên ba:

Cái đó, anh phải phỏng vấn vợ tôi chớ, chớ sao lại hỏi tôi.

Hỏi anh để mà chơi vậy, còn phỏng vấn chị, thì chẳng cần. Vì đàn bà nào mà chẳng ghen khi thấy chồng mình đứng ngó châm bẫm hằng giờ những cô mẫu xinh xinh đẹp đẹp ngay trước mắt mình hay ở tại đâu đâu.

Chị cười:

Lúc đầu thì có, rồi dần dần quen đi.

"Rồi dần dần quen đi" Anh như vô tình lặp lại và bỏ tay tôi ra.




Họa Sĩ DUY THANH


Họ Nguyễn

Sanh ngày 11-8-1931 tại Thái Nguyên (Bắc Việt).

Học vẽ năm 1952 với họa sĩ Nguyễn Tiến Chung.

Triển lãm: năm 1954 tại nhà hội họa Khai trí tiến đức, Ha Nội;

năm 1956 tại phòng Triển lãm Đô thành và Pháp văn Đồng minh hội,

năm 1958 và năm 1961, cũng tại Pháp văn Đồng minh hội.

Đã dự nhiều cuộc triển lãm chung với các họa sĩ khác ở Thủ đô.


Phần phỏng vấn của Nguiễn Ngu Í


Xe ngừng, tôi nhìn lên thấy anh tựa bao lơn tự lúc nào, nhìn xuống. Tôi cười, xin lỗi tới trễ và lên mau thang lầu ...

Được biết nửa giờ sau anh có hẹn, tôi vội nói ngay:

- Anh cho xin một bức ảnh để giới thiệu trên báo.

Anh lẳng lặng lại bàn làm việc, lấy một miếng giấy vẽ, đưa tôi. Tôi tay nhận, mắt nhìn anh, rồi nhìn bức anh tự họa, bụng hỏi thầm chẳng biết khi đăng trên báo, có ai nhìn ra đó là họa sĩ Duy Thanh không?


Nghĩ mình quá lo xa, và chợt nhớ tới một ý do một anh bạn vừa gợi hôm qua, tôi vào đề:

- Anh thấy giới hội họa cần làm cách nào cho công chúng hiểu và thích tranh hơn không?

Anh nhìn tôi, đôi mắt hiền lành của anh có chiều ngơ ngác sau đôi gương cận thị. Tôi lập lại câu hỏi.

Mắt anh nhấp nháy:

- Công chúng cần đọc sách bàn về mỹ thuật, cần đi xem các cuộc triển lãm, cần sự giáo dục về nghệ thuật, rồi mới có thể thích tranh.


Đó là phần công chúng. Còn giới các anh chị, tưởng cũng nên làm gì để gần công chúng hơn.

Chẳng lẽ chúng tôi lại mang tranh mình đem tới từng nhà, giải thích chỗ hay, rồi mời người ta mua à?


Tôi cười. Nhà họa sĩ đang độ nửa chừng xuân này, lúc bất bình cũng không có gì là dữ.

- Công chúng đi tới Hội họa, thì Hội họa cũng tiến lại công chúng. Có kẻ đi qua, người đi lại, mới sớm có sự gặp gỡ, mới dễ có sự cảm thông chứ!

Anh nghĩ ngợi một chút:

- Tôi thấy mỗi anh chị em họa sĩ cố làm sao thực hiện được những gì mình ôm ấp, - tôi muốn nói tìm tòi cho đến nơi đến chốn - rồi tổ chức thường xuyên những cuộc triển lãm, đó là một trong những cách để Hội họa với công chúng gần nhau.


Thấy tôi bỗng chăm chú nhìn mấy chục bức tranh treo khít, anh lên tiếng trước:

- Câu hỏi trong thư phỏng vấn: nói về bức tranh nào tôi ưng ý nhất, tôi thấy không trả lời anh được.


Tôi cũng biết nghệ sĩ có bao giờ hài lòng hẳn về một công trình nào của mình. "Cái đẹp ngày nay không đẹp đến ngày mai".

- Nhưng trong một lúc nào đó, ta cũng vẫn thấy rõ rệt là ta ưng ý bức tranh này hơn những bức tranh khác; sau đó sự ưa thích của ta có đổi thay cũng là lẽ thường".

Anh cười tủm tỉm, đứng dậy lại gần tường chỉ ba bức tranh treo khít nhau:

- Bây giờ, đây là ba bức tranh tôi ưng ý hơn hết.


Đó là ba bức họa không có người.

Một góc phố vắng hoe.

Một cảnh ở cao nguyên thì phải.

Một cảnh ở đồng bằng, chắc thế.

Ba đám lúa. Lúa vàng, lúa xanh và lúa đỏ?

Anh nhìn tôi:

- Tùy anh muốn hiểu sao thì hiểu.


- Thế là anh ở trong phái Trừu tượng?

- Tôi không ở trong phái nào cả. Nhận mình ở trong môn phái nào, là cho mình bằng lòng với lối họa mình theo đuổi, là đứng ì lại một chỗ, tức là không còn băn khoăn, nghi ngờ, học hỏi, tìm tòi nữa. Đó là việc của nhà phê bình, cho mình vào hạng nào đó, hoặc khám phá mình đang đi vào con đường lạ.


- Anh nói vậy, nhưng hiện nay, anh cũng vẽ theo một xu hướng nào đó chớ!

- Hiện thời, tôi có thể nói là tranh vẽ của tôi mang tính chất trừu tượng.


- Tôi để ý thấy màu anh chỉ một sắc và anh ít chú trọng đến chi tiết.

Anh gật đầu.

- Như bức tranh ba đám lúc anh nói đây, anh nhìn lại đám đất mà tôi cho màu đỏ, mới nhìn, anh thấy như một màu, nhưng thật ra, có nhiều màu trong đó. Tôi muốn sao cho mà tranh của tôi nó là một khối, và chi tiết, tôi bớt đi nhiều. Đề tài của tôi ở vào vai phụ, rất phụ. Tôi muốn chơi với chất họa.


- Vậy bức tranh "Ba đám lúa với mặt trời" đây, cũng chẳng phải anh vẽ cảnh thật, nhìn theo anh?

Anh lắc đầu.

- Tôi nhận rằng Thiên nhiên giúp người học rất nhiều, nhưng tôi không nô lệ Thiên nhiên. Thiên nhiên chỉ gợi hứng cho tôi.


- Nếu vậy đứng trước một cảnh anh thích, thấy cần ghi lại?

- Thì tôi vẽ phác, rồi về nhà, màu sắc, hình thể, tôi diễn tả theo cảm quan của tôi. Như tôi ngắm một cảnh trong cơn giông tố, về nhà, tâm trí tôi xúc động vì cảnh Tạo vật nổi cơn thịnh nộ mà tôi "cảm" những đồ vật, người ta, cảnh trí qua tâm hồn tôi dao động vì cơn giông tố nọ.


Tôi nhìn bức tranh ở góc trong: một người đàn ông mà thân mình không rộng bằng bề ngang cái đầu và cái mặt méo mó, màu xanh đậm, màu đỏ tươi, màu đen đem lại cho mặt anh ta một cái gì vừa đáng sợ vừa đáng thương.

- Cái anh chàng này, anh nhìn theo cảm quan anh lúc đó nên chẳng bình thường như mọi người thường chớ gì?

Anh gật đầu.

Tôi tự hỏi không biết anh ta đang si mê ai hay đang dự định làm đổ máu ai đây!




Họa sĩ TRƯƠNG THỊ THỊNH


Sanh ngày 13-6-1928 tại Huế.

Thủ khoa khóa I trường Cao đẳng Mỹ thuật Quốc gia (1957).

Triển lãm chung với các họa sĩ khác ở phòng Triển lãm Đô thành (1958, 1959, 1960), do nghiệp đoàn Hội họa, hội Văn hóa Việt Nam tổ chức và dự Triển lãm mùa Xuân (1959, 1960).

Triển lãm riêng tại phòng Triển lãm Đô thành năm 1960 và 1961.

Hiện giáo sư Hội họa trường Trung học Trương Vĩnh Ký.


Họa sĩ NGUYỄN TRÍ MINH


Sanh ngày 15-12-1924 tại Chợ Lớn.

Thủ khoa trường Mỹ thuật trang trí Gia Định.

Học thêm với ông Bâte (Grand prix de Rome).

Triển lãm lần đầu ở rạp hát Tây chung với họa sĩ toàn quốc (1948).

Họa sĩ chính thức của Hội chợ Triển lãm Sài Gòn 1949.

Tham dự cuộc Triển lãm do Pháp văn Đồng minh Hội tổ chức tại tòa Đô Chánh (1954).

Đã triển lãm riêng:

Tại phòng triển lãm Đô thành 3 kỳ: 1959, 1960, 1961.

Tại Musée d' Art moderne de la ville de Paris, 1959.

Tại Pháp văn Đồng minh Hội năm 1960 và năm 1961.

Triển lãm chung với các họa sĩ khác tại phòng Trển lãm Đô thành: 1956, 1957 (2 kỳ), 1958 (2 kỳ), 1959 (3 kỳ), 1960 (3 kỳ), 1961 (2 kỳ), 1962.


Phần phỏng vấn của Nguiễn Ngu Í


Căn nhà gọn gọn xinh xinh ở cạnh đường quốc lộ ấy vừa là nơi bày tranh, nơi làm việc và chốn nghỉ ngơi của anh chị.

Nên khi tôi bước qua cái sân nhỏ là bước vào cái tiểu thế giới của cặp vợ chồng nghệ sĩ trẻ trung này.

Anh chị mời tôi ngồi xuống cái ghế thấp con con, bên cái bàn nho nhỏ, rồi cùng ngồi. Và trong khi họ lo thu vén đồ đạc ngổn ngang trên chiếc bàn con, thì anh đưa tay ra khoác một cử chỉ rộng, mỉm cười như thể phân trần: "Đó anh xem, tranh chúng chiếm hết chỗ của chủ và của khách!"


Mà quả thế, tranh treo trên tường, tranh dựa vào vách, tranh chưa vô khung cuộn lại, trang còn vẽ dở dang nằm chờ, tranh mới phác họa, tôi bất giác nhìn ra cửa: ngoài kia, vài thước, là con đường quốc gia số 1 với tất cả cái bon chen, ồ ạt, lộn xộn của cuộc đời tranh đua gắt gay của máy móc và của con người, thì đây, lại là sự êm dịu của màu sắc, sự điều hòa của đường nét, sự kiếm tìm và thực hiện âm thầm.


- Nguyễn Ngu Í: Các cháu không ở chung với anh chị à?

Cái mỉm cười vui vui chưa nở hết trên môi chị thì anh đã vỗ vai tôi:

Anh coi, gian nhà có bao nhiêu đây thì "nhét" hai đứa con vào đâu cho được chớ. Chúng tôi để chúng ở với người vú ở cái nhà nhỏ xéo bên kia đường.

Chị nối lời anh:

Chúng tôi nấu nướng và ăn bên ấy, còn làm việc và ở bên này.


- Nguyễn Ngu Í: Thế khi các cháu qua chơi, các cháu có ngứa tay mà "tô điểm" thêm các công trình nghệ thuật của ba má không?

Chị lắc đầu nhẹ, anh sung sướng ra mặt, đáp:

Cái đó, anh khỏi lo cho chúng tôi. Chúng nhìn, chúng ngắm, mà tuyệt nhiên không mó tay vào, không lục lọi phấn màu của tụi tôi.

Rồi anh quay qua phía chị:

Có phải thế không, Thịnh?

Và người được hỏi xác nhận bằng cái gật đầu nhẹ.


- Nguyễn Ngu Í: Xin phép chị được tò mò một chút. Chị đi con đường Hội họa có gặp gì khó khăn không?

Chị hơi cau đôi mày, như để nhớ lại:

Không anh à. Có lẽ tôi được may mắn hơn các bạn cùng phái. Ba tôi vốn theo mới và thích vẽ, thấy tôi có khiếu về môn này, thấy tôi có khiếu về môn này, tỏ ý muốn trở nên họa sĩ, thì ba tôi đồng ý ngay.

Nhưng còn bạn bè, bà con, người chung quanh có thì thầm gì khi thấy cô sinh viên đầu tiên và độc nhất của khóa đầu trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định manh giá đi vẽ đó đây cùng bạn trai?

Bạn bè và bà con không ai phản đối việc tôi vào trường Mỹ thuật, mà lại còn khuyến khích tôi. Còn như người ta thấy cái cảnh hơi lạ mắt như anh vừa nói thì ban đầu hơi lấy làm lạ, cũng có người tò mò hỏi han hay theo dõi, nhất là phái phụ nữ. Nhưng sau đó, họ hiểu và có cảm tình với người phái yếu đầu tiên "mạo hiểm" vào con đường nghệ thuật, người phái yếu đầu tiên ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định.


Nhưng này, chị, chẳng hay nghệ thuật có ảnh hưởng gì đến sự chọn lựa người bạn đời của chị không?

Chị nhìn tôi, như muốn tôi hỏi lại, thì anh đã mau mắn:

Nghĩa là anh Ngu Í hỏi Thịnh vậy chớ đã là nghệ sĩ, Thịnh có mơ một người bạn trăm năm cũng nghệ sĩ như mình không? Có phải anh định hỏi nhà tôi như thế không, anh Ngu Í?


Tôi mỉm cười gật đầu.

Chị đăm chiêu một chặp.

Không. Giấc mơ con gái của tôi về "người ấy" nó giản dị lắm. Tôi mơ được gặp gười hiểu mình, thương mình, hợp tính với mình. Thế thôi.

Thế ra ông Hoàng tử của Thịnh không có cầm trong tay một cái cọ à?

Chị cười nhỏ nhẹ, ngó nhìn anh, có chiều như xin lỗi.


- Nguyễn Ngu Í: Còn anh?

Tôi à? Thì tôi cũng vậy. Không nghĩ đến người bạn đời của mình sẽ cùng một chí hướng như mình, mà chỉ mong sao "Nàng" tánh tình hợp với mình.


- Nguyễn Ngu Í: Nhưng duyên trời run rủi, anh chị lại cùng nghề thì càng quí chớ sao?

Hai anh chị nhìn nhau, cười xác nhận.


Xin lỗi anh chị nhé. Cùng là họa sĩ cả, anh chị hẳn có hai quan niệm riêng hay là chung một lối?

Mắt anh thoáng chút bất bình và vết thương nhẹ đang kéo da non trên trán anh như nhíu lại.

Nếu vợ chồng tôi mà kéo nhau đi một ngã đường, thì tranh chúng tôi giống nhau hết cả! Không đâu anh. Về hội họa, Thịnh là Thịnh, Minh là Minh, mỗi nười giữ cái gì riêng của mình. Đúng vậy, Minh là Minh, mà Thịnh là Thịnh.


Tôi đùa một câu:

Thế mà tôi cứ tưởng là: Thịnh cộng Minh chia hai!

Anh chị cười tủm tỉm.

Chết chưa. Anh quên, mà Thịnh không nhớ nhắc anh. Nãy giờ quên mời anh Ngu Í uống cái gì. La-ve anh nhá?


Anh cho tôi thứ giải khát gì ngọt. Kem sôđa chẳng hạn.

Bộ sợ uống la-ve ngà ngà, không phỏng vấn tụi tôi được à? Vậy tôi la-ve, anh kem sôđa, nhà tôi xá xị vậy.

Chị vừa đứng dậy, thì anh đã mau mắn bước vào trong, lấy đồ giải khát trao cho chị.


Này, anh chị có thấy vợ chồng mà cũng nghệ sĩ có lợi hay hại gì không?

Chị toan phát biểu ý kiến, thì anh đưa tay ra.

Xin lỗi Thịnh. Để anh nói trước, rượu vào lời ra mà!

Anh để ly la-ve xuống bàn.

Anh Ngu Í cũng đủ rõ chớ. Chúng mình sống ở ngoài đời nhiều hơn ở nhà. Đi chơi có, thăm bạn bè có, vào thư viện có, tìm cảnh vẽ có; mà gặp người vợ không hiểu điều đó cho mình, muốn mình đi làm rồi thì ở nhà hú hí với vợ con, hoặc đi có giờ về có giấc, thì nguy quá! Còn về phía nhà tôi, gặp ông chồng không phải người cùng giới, thấy vợ đi cả ngày, việc gia đình bê trễ phần nào, nổi máu ghen lên, thì cũng chết!




Họa sĩ BÉ KÝ



     Họa sĩ Bé Ký lúc 23 tuổi

Tên thật: Nguyễn Thị Bé.

Sanh ngày rằm tháng 10 năm Kỷ Mảo (nhằm ngày 25 tháng 11 năm 1939) tại tỉnh lị Hải Dương (Bắc Việt).

Năm 1954, được họa sĩ Trần Đắc thu nhận làm môn đệ, và nhờ các họa sĩ Văn Đen, Nhan Chí, Trần Văn Thọ chỉ dẫn thêm.

Đã theo lớp Hội họa hàm thụ của trường ABC ở Pháp.

Chuyên vẽ hoạt họa, ký họa.


Đã triển lãm tại:

Pháp văn Đồng minh hội (1957), phòng Triển lãm Đô thành do Hội Văn hóa Việt Nam tổ chức (1957), Langbian palac, Đà Lạt (1958), Pháp văn Đồng minh hội (1958), phòng Triển lãm Đô thành do hội Văn hóa Việt Nam tổ chức (1958).

Dự Triển lãm mùa xuân (1959-1960), và tranh "Nghe đàn" đã được sở Thông tin Huê Kỳ chọn đăng vào lịch của sở năm 1959.

Triển lãm tại công ty Việt Hà (1959-1960).

Tranh "Bà bán hàng rong" được nhà Mỹ thuật học vụ chọn gởi Triển lãm Hiệp Chủng Quốc (1960).

Dự cuộc Triển lãm do nghiệp đoàn Hội họa tổ chức (1960).

Dự cuộc Triển lãm do Văn hóa vụ tổ chức tại tòa Đô sảnh (1961).

Triển lãm tại Hotel Catinat (1961).

Bức "Thuyền chài nghỉ lưới" được Tưởng lệ danh dự Triển lãm mùa xuân 1961..


Tôi nhìn người đối diện mà không khỏi ngạc nhiên.

Bảy năm qua mà cô thanh nữ giờ đây không khác mấy cô thiếu nữ bán tranh tự vẽ trên vỉa hè các đường còn mang tên Catinat, Bonard, Charner. Vẫn cái dáng ốm, thấp, vẫn cái mái tóc kẹp sau lưng, vẫn cái vẻ chất phác, hiền lành, từ tốn trong cử chỉ, trong lời. Chỉ khác một thoáng già dặn trong cái cười e ấp, trong cái nhìn thuần lương. Ngắm Bé Ký, người ta có ý nghĩ: nghệ thuật là cái gì ở tầm tay của mọi người, chớ không phải dành riêng cho một hạng người nào.


Nguiễn Ngu Í: Tuổi ấu thơ cửa em chắc không được vui mấy?

Hai bàn tay xương xương, móng để tự nhiên và cắt bằng đầu, nắm lấy nhau và gương mặt đăm chiêu hơi nghiêng về trước.

Em mồ côi cha mẹ lúc còn nhỏ dại, vào vụ đói 1944, anh chị em thất lạc cả, chết sống thế nào nay em cũng chẳng biết. Nhờ ông bà Trần Đắc cám cảnh nuôi làm con, cho đi học.


Nguiễn Ngu Í: Em thích vẽ từ đó?

Thưa ông, không ạ. Em thích vẽ trước khi học chữ. Em vẽ chim, vẽ cò, thấy gì vẽ nấy và thích xem sách báo có hình. Chỉ khi em học trường Trí Tri ở Hải Phòng là khiếu vẽ của em mới nảy nở. Sau này, nghĩa phụ em mới dạy em.

Vừa lúc ấy, họa sĩ Trần Đắc bước vô, và cùng ngồi góp chuyện, tôi hỏi:


Nguiễn Ngu Í: Ông dạy em Bé Ký vẽ, hẳn lúc đó ông thấy ở em nhiều hứa hẹn.

Cái khiếu vẽ của cháu, tôi biết từ lâu, nhưng tôi chỉ thật sự nhận cháu làm môn đệ lúc cháu được mười lăm tuổi. Tôi vốn chuyên về sơn mài, cháu phụ việc với tôi cùng một số trẻ khác. Nhưng chỉ có cháu là chịu khó nhất, và cần cù nhẫn nại chẳng ai bì.

Có những đêm cháu thức đến một, hai giờ khuya để làm cho xong việc tôi giao. Tôi từng học trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội, từng lăn lộn trong nghề, thấy lắm gian nan, một người đi tắt cần phải bền chí lắm mới mong thành công được phần nào.


Nguiễn Ngu Í: Thế thì ông bắt đầu dạy em theo lối nào?

Tự nhiên là không theo lối nhà trường. Tốn công, tốn thì giờ, mà khi ra đời những điều học hỏi dùng cũng chẳng được bao nhiêu. Tôi khuyên cháu nên theo con đường hoạt họa. Ghi nhanh chóng một dáng người, một hoạt cảnh, hợp với cái khiếu nhận xét của cháu hơn và cái tài sẵn có của cháu.


Nguiễn Ngu Í: Ngoài ông ra, em có còn thọ giáo của ai nữa không?

Còn có trường hàm thụ ABC ở Pháp, và các anh bạn: Văn Đen, Nhan Chí, Trần Văn Thọ.

Đến đây, họa sĩ Trần Đắc có việc lên xưởng họa, tôi trở lại chuyện trò cùng Bé Ký.


Nguiễn Ngu Í: Tôi thấy trong các bức vẽ của em, em hay chọn những đề tài lấy ngay ở cuộc sống quanh em, những cảnh, những người bình dân như "Ông già xem tướng, Người kéo nhị, Gánh phở, Cô bán hột vịt, Cô bán đu đủ, Em bé bán bong bóng đỏ, Lớp học bình dân". Có phải vì tuổi thơ của em phải chịu thiệt thòi mà em thích vẽ những người xấu số, những kẻ phải lấy mồ hôi đổi lấy miếng ăn?

Một thoáng cười, vui buồn lẫn lộn.

Dạ thưa ông nói đúng. Em mến những người lao động, những cảnh tay làm hàm nhai.


Nguiễn Ngu Í: Thế thì dạo trước, tự em, em muốn đi bán tranh dạo và đi vẽ dạo hay vì hoàn cảnh khiến thế.

Thưa ông, có cái này một chút, cái kia một chút. Đi bán và đi vẽ rong thế, em nuôi hai hy vọng: gặp những khách hàng người Pháp, và những họa sĩ ngoại quốc. Em mong một ngày kia được sang Pháp, sanh Ý để xem, để học, nên em có học chữ Pháp. Đọc thì được mà nói thì khó. Đi bán rong em tự buộc mình ở vào cái thế phải mời khách, phải nói này nói nọ, dầu nói bập bẹ đi nữa. Nhờ thế, em trở nên dạn đĩ, và nói một ngày một thêm trôi chảy. Và em cũng gặp các họa sĩ Pháp có, Mỹ có, Ý có, Nhật có, mến chút tài em (vì lắm khi em vẽ tại chỗ ảnh họ để tự giới thiệu hoặc ghi nhanh những dáng điệu đặc biệt thoáng qua), họ hỏi chuyện, họ chỉ vẽ thêm, họ lại nhà để xem tranh em, rồi phê bình. Nhờ thế mà sự học vẽ của em tấn tới nhiều.




Họa sĩ HIẾU ĐỆ


Tên thật: Nguyễn Tánh Đệ.

Sanh ngày 1-8-1935 tại thị xã Phan Thiết (Trung Việt).

Tốt nghiệp trường Mỹ thuật thực hành năm 1953, tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật quốc gia năm 1957; tốt nghiệp giáo sư Hội họa năm 1958.

Vẽ biếm họa cho tuần báo "Đời Mới" từ năm 1952 đến năm 1954, vẽ biếm họa và hài hước cho nhật báo "Tiếng Chuông" từ năm 1954 đến 1959.

Giáo sư trường Trung học Cần Thơ (1959-1961), nữ Trung học Đồng Khánh (Huế, 1961), Trung học Hàm Nghi (Huế, 1962).

Được: giải thưởng phòng tranh Pháp văn Đồng Minh Hội (1954), giải thưởng Triển lãm Hội họa mùa Xuân (1960-1961).

Tranh được chọn dự Triển lãm Hội họa Á châu ở Kuala Lampur (Mã Lai, 1959) và triển lãm Lưỡng niên Paris (1959-1961).

Đã triển lãm tại: Cần Thơ (1960), Huế (1961), Sài Gòn (1962).


Phần phỏng vấn của Nguiễn Ngu Í


Còn một buổi là phòng Triển lãm của anh bế mạc. Tôi chọn lúc này để tìm thăm anh.

Tôi vừa bắt tay anh ở cửa và hỏi:

- Tranh anh bán được nhiều chớ?

Anh gật đầu:

- Bốn chục bức triển lãm, bán được trên hai chục bức.


- Tức là quá bán. Như vậy anh cũng đã thành công ...

- Trên một phương diện nào đó thôi. Hẳn anh cũng biết thành công về phương diện thương mãi là một việc, mà thành công về phương diện nghệ thuật lại là việc khác.

Anh trầm ngâm một hồi:

- Tôi sắp theo khóa sinh viên sĩ quan ở Thủ Đức. Một cuộc đời khác. Cây súng thay cây cọ, và đạn lửa thế cho sắc màu, đường nét. Làm thế nào mang cả cái vốn liếng này theo, cũng chẳng thế nào để nó nằm ngủ ở một xó nhà. Nay, có người thưởng thức, có bạn cảm thông, giữ giùm mà lại biếu ít tiền tiêu, thì tôi cho được vậy là sướng lắm rồi. Vì thế giá tranh của tôi để có phần không giống các anh, chị khác. Vả lại, chắc anh cũng đồng ý với tôi, giá trị của bức họa không hẳn tùy thuộc ở giá tiền bức tranh.


Chúng tôi đang đứng trước "Lăng Tự Đức".

- Có phải hè năm ngoái, lúc chúng tôi gặp anh và hai anh bạn khác ở lăng Tự Đức, là lúc anh có ý muốn ghi lên vải nơi yên nghỉ của ông vua thi sĩ này chăng?

Anh mỉm cười gật đầu rồi chỉ vào tranh:

- Màu xanh, anh có thấy cái gì khác không? Tôi muốn nhờ nó mà cho bức tranh một cái vẻ thư sinh, cố sao cho phảng phất cái tâm hồn thơ của vị vua này.


Nhưng anh thích bức nào nhất?

Anh không đáp, kéo tôi lại đầu phòng bên kia:

- Đây, bức vẽ mới nhất và cũng là bức vẽ tôi hiện ưng ý nhất.


- Có phải anh vẽ mấy con trâu?

- Phải, bốn con cả thảy. Về kỹ thuật cũng như về bố cục, với bức tranh này, tôi hướng về Trừu tượng. Bốn con trâu dường như ở trong cơn thác loạn, và tôi lôi mặt trời xuống để dưới bụng một con trâu.


Tôi cười:

- Như thế thì trâu anh còn gì! Nhưng sao anh dùng màu đỏ nhiều thế?

Tôi lấy đường nét (anh để ý rằng tôi dùng những đường thông thường cửa hình học) và màu sắc (do đó tôi xài nhiều màu đỏ) để nói lên cái nổi loạn của những con vật khoẻ mạnh này, mà ngày thường vốn hiền lành, chậm chạp.


Tôi còn nhìn bức "Trâu" này, thì anh vội kéo tay tôi:

Bức quá. Chúng mình tìm cái vì uống chơi rồi nói chuyện tiếp.


Đi xuôi đường Tự Do, tôi còn cố hỏi anh về việc tranh bán.

Anh có để ý những người mua tranh anh là những ai?

Một số anh em nghệ sĩ mua giúp. Như bức "Phóng thể", bức mà tôi cho một cái tên thứ nhì: Sợ hãi, Khổ đau, và Đói khát, được anh Mỹ Tín lấy giùm và người ngoại quốc mua cho một số.


Người ngoại quốc chắc họ mua tranh anh vẽ phong cảnh?

Không đâu anh. Họ mua toàn những tranh vẽ theo lối mới; còn người mình thì lại mua tranh vẽ cảnh, vẽ vật nhiều.


Anh như sực nhớ điều gì, nắm tay tôi.

Tôi nghĩ các bạn đồng nghề định cho tôi một bài học mà tức cười. Tôi là một kẻ có thể nói là không nhà, lại sắp "xếp cọ màu lên đường súng đạn", không biết cất tranh mình vào đâu, được các anh em và một số người mến chuộng giữ giùm, lại còn đưa tiền xài, thì còn gì hơn nữa. Xưa ở trời Âu, biết bao họa sĩ đã đổi được bức tranh lấy một ổ bánh mì thì sao. Tôi còn "lời" hơn các họa sĩ ấy nhiều. Chớ tôi nào dám để những giá "kiêu ngạo".




Họa sĩ THU NGA

Tên thật: Nguyễn Thị Nga.

Sanh năm 1919 tại Huế, gốc người Thanh Nghệ.

Viết văn, làm thơ, vẽ.

Về vẽ, tư học, được một số họa sĩ đàn anh dìu dắt, như họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung.

Đã dự Triển lãm Hội họa mùa Xuân Nhâm Dần (1962).

Triển lãm riêng tại phòng Triển lãm Đô Thành (14-8 đến 20-8-1962).


Phần phỏng vấn của Nguiễn Ngu Í


Nguiễn Ngu Í: Chị cho biết cái duyên của chị với Hội họa bắt đầu lúc nào?

Chị mơ màng như nhìn vào quá khứ:

Xin phép anh nói đến chuyện đại gia đình một tý. Có thế anh mới hiểu hơn. Nguyên ông ngoại tôi là Bạch Xỉ.


Nguiễn Ngu Í: Một nhà Cách mạng đương thời với cụ Phan Đình Phùng. vì chống chính sách bảo hộ nên bị người Pháp bắt đem hành hình, nếu tôi nhớ không lầm?

Chị gật đầu, tiếp:

Thân sinh tôi là Đình nguyên Nhuyễn Phong Di tức Nhuyễn Thái Bạt, vốn là một nhà Cách mạng trốn sanh Tàu và Nhật cùng với Kì ngoại hầu Cường Để, sau bị thực dân Pháp bắt về giam lỏng tại Huế.

"Chẳng nói anh cũng rõ vì ông và cha chúng tôi đã hoạt động chống Pháp nên đại gia đình tôi bị theo dõi, rồi đến phong trào bãi khóa l929-30, các anh tôi có dự, nên thân tộc đều bị ghi vào sổ đen và bị nhà cầm quyền nghi kị. Bà ngoại tôi cũng từng làm cách mạng thuở thiếu thời mới đưa anh em tôi về quê ở, về phía trên Đô Lương. Nhà có nhờ một họa sĩ Tàu dạy vẽ cho các anh, tôi còn nhỏ cũng học lóm. Tôi thích vẽ đến nỗi vườn nhà, có mo cau nào rụng là có một cái quạt mo với bức tranh sơn thủy do tôi vẽ lấy và tặng tất cả người trong nhà. Nhờ thế mà tôi được học vẽ với các anh, và tôi say mê với màu với nét. Vườn ruộng, núi rừng lúc bấy giờ khiến tôi càng mến cảnh thiên nhiên và tôi lấy chúng làm đề tài để vẽ. Lớn lên, tôi tìm cách đi theo các người thân trong những cuộc săn bắn vùng Thanh Nghệ Tĩnh, cốt được thấy những nơi trước kia ông ngoại tôi hoạt động trong thời cụ Phan Đình Phùng, hầu sau này viết lại đời người, nhưng rồi mộng trẻ ấy cũng trôi theo ngày tháng. Chỉ được một cái là tôi càng mến Thiên nhiên. Và vì thế mà sau này, tôi thích vẽ cảnh hơn vẽ người.

Và chị không ngăn được cái thở dài.


Nguiễn Ngu Í: Mất mộng viết, chị còn mộng vẽ. Thế chị còn hơn bao anh chị em suốt đời chẳng thực hiện được mộng nào. A, chị có thể nào cho xem tranh chị sắp triển lãm chăng?

Chị trở lại vui vẻ, mời tôi lên lầu. Một căn phòng dài dành riêng cho chị để tranh. Một số đã vô khung, một số còn chờ đợi.

Chị lần lượt giới thiệu tranh, từ lối vẽ cổ điển đến lối vẽ tân thời, lối nào chị cũng nghiên cứu và thể hiện, cả lối lập thể và siêu thực. Toàn là tranh sơn dầu, và ở một góc, một bức tranh lụa chị vừa phác họa.


Nguiễn Ngu Í: Chị cũng toan bước sang tranh lụa à?

Như anh thấy đó. Tôi chưa biết mình nên dừng lại ở chất liệu nào, môn phái nào. Chất liệu nào, môn phái nào, tôi cũng để tâm tìm hiểu, học hỏi và thực hiện. Vì tôi thấy mỗi lối, mỗi chất liệu đều có một cái đẹp riêng. Chưa biết phải phụ gì giờ!

"Bây giờ, để tôi hỏi lại anh chứ. Anh thấy trong tất cả tranh tôi, có điểm nào làm anh để ý?"

Tôi nhìn lại một lượt các tranh bày.

Không biết có đúng không, nhưng tôi sao có cảm tưởng rằng dù chị vẽ cảnh ban mai tươi đẹp, cảnh họp chợ nhà quê hay cảnh đèn sáng quanh hồ; (đừng nói chi đến cảnh hoàng hôn, đến khu phố vắng), vẫn bàng bạc trong nét, trong màu, trong toàn thể bức tranh một cái gì như xa vắng, như cô đơn.


Chị im lặng một hồi.

Tôi tánh thích sống ẩn dật, thích từ thuở bé, và có lẽ cái hoang vu, cái buồn kín đáo của những nơi tôi sống lúc tâm hồn còn non dại đã để những vết sâu đậm trong người, nên khi vẽ, chúng "hồi sinh" ở trong tranh mà tôi không ngờ. Cũng như vấn đề dân tộc tính mà anh nêu ra trong bức thư phỏng vấn. Vẽ, tôi chỉ biết vẽ, chớ không hề bận tâm về điểm: đề tài mình chọn, lối mình họa có cái gì là dân tộc tính chăng? Ấy đó mà khi tranh hoàn thành, nhìn lại, tôi thấy có cái gì của đất nước. Chẳng hạn như tranh "Em bé chăn trâu" này.


Tôi thấy chị vẽ gần đủ lối và đủ loại. Tranh cảnh, tranh người, cả tranh lịch sử, có tranh xã hội nào không chị?

Cũng có anh à, nhưng tôi chưa hoàn thành. Có lần tôi phác họa bức tranh "Khi người ta đói": một họa sĩ giang hồ ốm tong teo, sau khi đàn hát, dơ cái nón cũ mèm ra, mà khách ăn trong hiệu kẻ đồ nỉ mới tinh, người phấn son rực rỡ vẫn bận say sưa với miếng ăn ngon, với chất rượu ngọt mà chẳng ngó ngàng gì người nghệ sĩ lỡ thời nọ. Nhưng rồi nửa chừng, hứng mất, tôi đành bỏ lỡ.


Thấy tôi đứng nhìn lâu hai bức tranh để kề, chị nói:

Tôi thích những con đường phố cũ, những góc phố đìu hiu. Và anh đang ngắm hai bức tranh tôi thích nhất. A, anh có biết con dường nhỏ sau nhà thương Đô Thành chứ?

Nguiễn Ngu Í: Biết nhiều lắm, chị. Mươi năm truớc, bị tai nạn xe hơi suýt chết, tôi nằm ở nhà thương ấy mấy tháng trời và thường đứng ngắm con đường nho nhỏ, buồn buồn ấy.

Chính nó ở trong tranh "Nắng trong phố" đây. Tự nhiên là tôi có sửa đổi cảnh thật đi một ít.


Tôi hỏi chị, có chiều dột ngột.

Nguiễn Ngu Í: Có phải chị có ý thích màu xanh không chị?

Anh nhận xét đúng. Nhưng rõ ràng hơn, là tôi ưng ý nhất màu xanh nhạt. Và các bầu trời của tôi đều xanh một màu xanh lợt lạt. Tôi đã đặc biệt sử dụng màu xanh này trong tranh: "Nắng trong thôn" đây. Xin phép anh tôi đọc bài thơ tôi đề tranh này:


Trưa hè nắng dọi thôn xa

Mây râm đôi lúc nhạt pha xanh mờ.

Xa xa có mảnh rào thưa

Có ao thả cá có bờ lúa xanh...


Tình cờ tôi nhìn thấy sáu, bảy chiếc giường con ở trong một phòng gần đấy, tôi bèn hỏi chị:

Chị nay tuy khỏi bận về việc ngoài đời, nhưng bao bổn phận trong gia đình hẳn không cho chị theo đuổi Nghệ thuật như ý muốn?

Chị cười cười, có chiều an phận mà cũng có vẻ muốn vẫy vùng.

Bảy cháu phải chăm lo, cũng đủ chiếm gần hết thì giờ. Nhưng tôi lợi dụng những hồi, có thể lợi dụng được. Tỉ như những lúc đưa con nghỉ mát ở Đà Lạt.




Họa sĩ VŨ HỐI



     Danh họa Vũ Hối trong Hội chợ Tết
Xuân Tân Mão, 2011, Melbourne, Úc Châu

Sinh ngày 22-11-1932 tại Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (Trung Việt).

Đã tổ chức những cuộc Triển lãm chung với các họa sĩ khác ở Hội An, Đà Nẵng, Huế.

Đã gởi tranh triển lãm ở New York, Washington do sự đỡ đầu của các họa sĩ đàn anh ngoại quốc.

Được giải thưởng danh dự về Trang trí năm 1958.

Hiện đang kèm cho các ngoại kiều môn tự học về Hội họa và giáo sư Hội họa cho các trường Trung học ở Phong Dinh (Cần Thơ).

Đang điều khiển một phòng vẽ quảng cáo và Trang trí ở Phong Dinh.


Phần trả lời của Họa sĩ Vũ Hối


I. Theo tôi thì ngành Hội họa của nước Việt ta nhận xét qua các cuộc triển lãm ở trong nước có đủ xu hướng. Còn riêng tôi, tôi chưa dám cho xu hướng nào đáng kể nhất, vì hiện các xu hướng còn đang tiến triển và cố giành lấy phần thắng thế về mình. Chẳng khác nào trong một cuộc chạy đua băng đồng, ta chỉ mới chứng kiến phút mới khởi đầu.


Phần tôi, tôi hiện đang đứng ở ngã ba đường, chưa biết mình nên theo xu hướng nào, nhưng tôi đang cố gắng tìm một đường lối riêng biệt.

Sau nhiều lần nhận xét đồng bào thưởng thức tranh, tôi có thể nói rằng họ đã có một con mắt nhận xét khá tinh vi, và họ không còn dễ dãi như trước nữa. Họ luôn luôn muốn tìm một cái gì mới, lạ trong tranh của ta.

Theo chỗ tôi được biết, công chúng xem tranh hiện giờ có thể chia làm hai phái.

Một phái thích "cảm" một bức tranh đẹp khi họ thấy bức tranh đó, họ hiểu được, màu sắc dịu dàng, đúng với sự thật. Còn một phái thích những cái gì tân kỳ, họ ưa tìm tòi, đứng trước một bức tranh có những màu sắc lạ, có lối bố cục mới, có kỹ thuật độc đáo, làm họ phải suy ngẫm hàng giờ, dang xa, lại gần, đứng góc này nhìn, qua góc nọ ngắm, rồi một khi họ đã "khám phá" được dụng ý của nghệ sĩ, họ đã thông cảm được tình, những ý mà họa sĩ muốn diễn tả bằng một nghệ thuật chẳng giống ai, thì họ rất lấy làm thích thú.


Vậy thì người sáng tác tranh nên "phục vụ" phái nào đây? Số đông dễ dãi, hay số ít khó khăn?

Đến đây, xin anh cho phép tôi nói đến cái "tôi" một chút. Trong các cuộc triển lãm, tôi có trưng bày một số tranh vẽ theo nguồn cảm xúc của tôi, diễn tả hơi khác lề lối cổ điển; có nhiều bạn xem, không hiểu hay hiểu mà không biết có đúng không, đích thân họ tìm tôi để nhờ tôi giải thích, cả phần hình thức lẫn phần nội dung của cả những bức tranh ấy. Chắc anh cũng rõ giảng tranh mình là điều tối kỵ. Tôi không ngại điểm mình "đề cao" mình, bởi lẽ giải thích là nói lên trường hợp sáng tác, dụng ý của mình, chứ không phải là tự khen mình dùng màu này nó hay, mình vẽ lối này nó đẹp. Hay, đẹp, đó là thuộc về quyền của người xem tranh, nhà phê bình chuyên môn hay người thưởng thức tài tử. Nhưng vì lẽ khi tô màu lên vải, tôi đã gởi gắm nhiều ý, nhiều tình, lắm khi những đòi hỏi, những ước mơ, có những cái rất riêng tư, rất tế nhị, mình ngại ngùng nói ra. Mà có muốn giải thích đi nữa, chẳng biết các bậc đàn anh, các bạn của tôi ra sao, chớ tôi thì thấy lời nói của mình không đủ để diễn tả. Giải thích e mình lại phụ mình!


Tôi cũng như phần đông người xem tranh quan niệm rằng một bức tranh phải chứa đựng một cái gì trong đó, "nói lên" một cái gì, nghĩa là làm sao cho người xem tranh không dửng dưng. Tranh "đẹp" theo tôi là ở điểm đó.

Tôi nghĩ mình vẽ và đem triển lãm là mình có tham vọng được người ta hiểu. Có hiểu, người thưởng ngoạn tranh mới thấy đẹp, và khiến họ càng tìm hiểu tác phẩm đã làm họ thích thú, do đó họ tìm hiểu Hội họa thêm.

Cho nên vì vậy mà tranh của tôi có ba loại: loại cựu, loại tân (tôi tạm gọi là thế), và loại dung hòa giữa tân và cựu. Đành rằng nghệ sĩ thì phụng sự nghệ thuật, nhưng mà xa cách công chúng quá, để đến nỗi họ ngơ ngác và lánh xa thì e mình lại phụ nghệ thuật chăng, vì nghệ thuật vốn do người mà có, chẳng lẽ lại tách xa người?


Khi nào có dịp xuống miền Tây, mời anh ghé chơi nhà vẽ của tôi, anh sẽ thấy tôi là người "ba lối". Phần nhiều tranh tôi, nhìn thấy là hiểu ngay, một số sáng tác theo lối suy tưởng của riêng tôi với kỹ thuật hoàn toàn mới, và một số kết hợp cả cổ điển và tân thời, không dễ hiểu nhưng cũng không bưng bít.

"Có người mà cũng có ta", chẳng hiểu tôi có đạt được điều tôi mong muốn này chăng?


Người ngoại quốc mua tranh của tôi, thì họ thích những bức tranh sáng tạo theo lề lối cổ điển, có những gì riêng biệt của địa phương mình: hoặc đường nét, hoặc màu sắc, hoặc cảnh. Tôi nghĩ hay vì họ quá mới nên họ thích cái gì cổ, đó cũng là một lối thời thượng chăng?


II. Dầu sao, tôi thấy Dân tộc tính trong tranh là điều cần, vì có thế ta mới có một cái gì khác biệt, nhưng chẳng phải Dân tộc tính là nệ cổ, cứ đi theo những con đường mòn có sẵn, không tìm tòi, không khám phá, không học hỏi thêm. Tôi muốn nói: cái gia tài ta được hưởng, ta phải làm nó sinh sôi nảy nở. Và ai cấm ta vừa giữ cái hồn nhiên của Dân tộc vừa theo những kỹ thuật tân tiến, để tác phẩm của mình đáp ứng đúng những đòi hỏi của cuộc sống mới, rộng, quốc tế thời nay, vừa rung động được người cùng nòi giống?


III.Nói ra chắc ông anh thông cảm mà chẳng cười: những bức tranh của tôi quả là kết quả của mồ hôi, huyết lệ của tôi, không hơn không kém. Tôi không quan trọng hóa mà cũng không bi đát hóa sự việc, vì ngoài những giờ làm việc miệt mài ở sở, tôi về nhà, bỏ cặp ra là loay hoay vẽ, có khi phải cầm cọ, tô màu đến hai giờ sáng. Bức tranh tôi đã nhìn ngoài đời, đã nghiền ngẫm trong tâm trí từ mấy hôm trước, nay nó nhảy múa, lồng lộn trong tiềm thức, hoạt động trong vô thức và tiềm thức, bắt tôi phải thực hiện sớm chừng nào hay chừng ấy. Có khi nó là một mảnh tâm lý của mình. Và ở đây, theo tôi, Hội họa mang bản ngã chủ quan của nghệ sĩ hơn văn chương nhiều. Và nếu tôi chậm trễ ghi lại hình ảnh ấy, tức là bỏ lỡ cơ hội vì giây phút thai nghén chín mùi ấy tan đi, là hỏng việc. Nếu lúc ấy qua rồi mà gắng gượng vẽ lại, thì cũng sẽ tạo một bức tranh vô vị, vô duyên, chỉ có màu sắc vô tư chứ không còn có con người tôi trong ấy nữa. Đúng là "mỗi bức tranh là một trạng thái tâm hồn" và tôi nhớ câu nói của bà Công tước De Noailles sao mà đúng thế!

"Jamais nous n'aurons notre âme de ce soir" (Còn bao giờ ta tìm lại được tâm hồn của ta chiều nay nữa).


IV. Chọn bức tranh nào tôi thích nhất, là điều đã làm tôi khó nghĩ. Bởi lẽ vẽ xong bức tranh nào là tôi thấy nhẹ nhàng khoan khoái, như bà mẹ sau khi cho đứa con thấy ánh sáng mặt trời, nhưng rồi sau, vẽ xong bức khác, tôi lại thấy bức mới này làm tôi ưng ý hơn!

Tôi xin gởi anh hai bức tranh tương đối tôi ưng ý.

Bức "Bờ biển Quy Nhơn" gợi lại trong tôi niềm nhớ quê hương dằng dặc và một bức loại siêu thực tôi vừa vẽ xong, trong đó tôi cố diễn tả niềm "Say nhạc".


V. Tôi có ba nguyện vọng thiết tha:

- Một là chính phủ lập viện Bảo tàng để giữ tranh giá trị họa sĩ trong nước và ngoài nước; được thế sẽ có ích lợi biết bao cho những họa sĩ muốn học hỏi thêm và những người xem tranh thiếu phương tiện hoặc ít thì giờ.

- Hai là có những cuộc triển lãm ở các tỉnh để đồng bào lục tỉnh cũng có dịp thưởng thức tranh như đồng bào ở thủ đô vậy.

- Ba là báo chí sẵn sàng giới thiệu các cuộc Triển lãm Hội họa, viết bài giới thiệu, phê bình, mở rộng cột báo cho Họa sĩ phát biểu ý kiến, thì có lợi cho giới Hội họa và người mến Hội họa.




Họa sĩ TRẦN VĂN QUANG


Sanh ngày 22-2-1934 tại làng Lại Trì, tỉnh Thái Bình (Bắc Việt).

Chính thức bước vào ngành vẽ Quảng cáo và Trang trí năm 1950.

Năm 1955, theo học trường Cao đẳng Mỹ thuật Quốc gia một thời gian, nhưng vì hoàn cảnh, phải bỏ ngang.

Từ đó, tư học hỏi.

Đã Triển lãm nhiều kỳ:

Chung với Phạm Huy Trường tại phòng Triển lãm Đô thành năm 1960; dự các cuộc Triển lãm do hội Văn hóa Việt Nam và Văn hóa vụ tổ chức, dự Triển lãm Stanvac (1961).

Riêng tại phòng Triển lãm Đô thành, do hội Khổng học Việt Nam bảo trợ (1960), tại Long Xuyên và Cần Thơ (1961) v.v.

Dùng "sơn mài nhân tạo" do kỹ thuật gia Phạm Văn Thành sáng chế mà sáng tác trên 60 bức tranh theo cả hai lối kỹ thuật hội họa phổ thông và kỹ thuật sơn mài thiên nhiên (đã triển lãm họa phẩm và mỹ phẩm vẽ với "sơn mài nhân tạo" trong cuộc triển lãm "Sơn mài Mỹ - Á" năm 1961).

Giữa năm 1962, về miền Trung để lần lượt triển lãm ở Đà Nẵng, Huế, Đà Lạt, Nha Trang, Phan Thiết.

Bức tranh sơn dầu "Hoàng Hôn" được bằng danh dự cuộc Triển lãm hàng năm do hội Văn hóa Việt Nam tổ chức (1960).

Được giải thưởng Stanvac (1961).

Có tranh được chọn gửi dự các cuộc triển lãm ở Mỹ (Cầu chữ Y), Pháp (Sông Thị Nghè), Mã Lai...


Phần trả lời của Họa sĩ Trần Văn Quang


I. Tôi thấy Hội họa hiện ở nước ta xu hướng nào cũng có, và đều làm người quan tâm đến ngành nghệ thuật này phải chú ý, nhưng tiếc một điều là chưa có xu hướng nào có những thành công nổi bật.

Riêng tôi, lối nào tôi cũng thích, và tôi vẫn cố học như ngày mới bước vào nghề, mong sẽ rút tỉa được những điều hay để có thể dựa vào đó mà tìm ra được cái gì mới lạ chăng.


Còn việc áp dụng thứ sơn mới do anh bạn Phan Văn Thành sáng chế mà chúng tôi tạm gọi là "sơn mài nhân tạo" (laque artificielle hay laque esthétique), thì tôi mới ở thời kỳ dọ dẫm. Tôi rất mừng mà thấy có một chất sơn giống sơn mài, mà lại đủ màu như sơn dầu, cách sử dụng không khó khăn, không tốn kém mà lại rất bền. Tôi mong rằng nền Hội họa và ngành tiểu công nghệ nước nhà sẽ nhờ chất liệu mới này mà thêm một sắc thái mới, mà nhất là mỹ thuật nhờ đó mà đi rộng vào dân chúng.


II. Dân tộc tính trong Hội họa là một điều cần, mà tính cách Quốc tế trong tranh lại càng cần hơn nữa. Vì tôi nghĩ rằng trước hết, mình phải là mình trước đã, thì màu sắc, đường nét, đề tài, mình phải tận dụng cái vốn mà ông cha và các bậc đàn anh mình để lại, nhưng rồi ta phải tiến theo trào lưu của thế giới, tức là trào lưu "năm châu chung chợ, bốn biển chung nhà", thì cái tiếng nói cửa ta phải cố sao cho khắp mọi người đều hiểu, đều cảm. Thành ra, kỹ thuật và đề tài phải giã từ tính cách địa phương và vươn tới tính cách Quốc tế.

Tôi cho rằng hai lập luận Dân tộc tính và Quốc tế tính bổ túc cho nhau chớ không trái nghịch nhau. Phần tôi, tôi còn đang ở giai đoạn dân tộc.


III. Công trình tìm kiếm và những kết quả của tôi hiện chưa có gì đáng nói. Tôi vẫn đang dò dẫm. Đến nay, lối vẽ của tôi chưa có gì độc đáo, nhưng có điều tôi tự hào, tôi không hề cóp nhặt kỹ thuật của một ai.


IV. Tôi xin gởi hai ảnh chụp lại hai bức tranh mà tôi thích. Bố cục, màu sắc, đường nét đều đơn giản. Chủ ý của tôi là muốn sao giữa người sáng tác và người thưởng ngoạn, không có sự cách biệt quá xa hay quá sâu. Tôi muốn người thưởng ngoạn tranh có thể hiểu được họa sĩ muốn diễn tả gì, chớ không muốn người xem tranh mệt ngay với kỹ thuật của mình.


Nguiễn Ngu Í

(Tạp chí Bách Khoa)




Warning: include(../../@CungTacGia.html): failed to open stream: No such file or directory in /home/phetran/hocxa.com/Hoa/HoaSi_NguyenNguI_pv.php on line 36

Warning: include(): Failed opening '../../@CungTacGia.html' for inclusion (include_path='.:/usr/local/lib/php:/usr/local/php5/lib/pear') in /home/phetran/hocxa.com/Hoa/HoaSi_NguyenNguI_pv.php on line 36

 

 

Hoi Hoa

 

 

Hội Họa

 

Tình mẫu tử trong tranh Bé Ký (DĐTK)

Tranh Dân Gian, Tranh Tết (Huỳnh Hữu Ủy)

Chân Dung Một Nhà Sưu Tập Nghệ Thuật Ở Hà Nội: Ông-Café-Lâm (Huỳnh Hữu Ủy)

15 nghệ sĩ tham gia triển lãm tranh, tượng ‘Mầu Thời Gian’ (Lâm Hoài Thạch)

‘Màu Thời Gian,’ triển lãm lần đầu của Hội Họa Sĩ Việt Nam Hải Ngoại (Nguyên Huy)

Tranh Giáng Sinh Của Miền Nam Việt Nam

(Trịnh Thanh Thủy)

Từ Bức Chạm Gỗ Xưa "Mèo Ngoạm Cá" Tới Vài Nét Về Điêu Khắc Cổ Việt Nam (Đinh Cường)

Tìm Lại Nét Đẹp Trong Tranh Dân Gian Việt Nam (Đinh Cường)

Cổ Tục và Trò Chơi Ngày Tết Qua Mỹ Thuật Dân Gian (Huỳnh Hữu Ủy)

Bức Tranh Gà (Huỳnh Hữu Ủy)

Những Hình Ảnh Chạm Khắc Trên Cửu Đỉnh Ở Huế (Huỳnh Hữu Ủy)

Khảo Về Tứ Linh: Lân, Long, Qui, Phụng Trong Mỹ Thuật Việt Nam Ngày Xưa (Huỳnh Hữu Ủy)

Nghệ Thuật Chạm Khắc Dân Gian Việt Nam

(Huỳnh Hữu Ủy)

Sự Diệu Kỳ Của Thư Họa (Phạm Khắc Hàm)

Xem Tranh (Võ Đình)

Bức Tranh Vẽ Mãi Không Rồi (Võ Đình)

Huỳnh Hữu Ủy In Sách Mới: 'Mỹ Thuật Việt Nam Ngày Xưa' (Phan Tấn Hải)

Hai Mươi Năm Hội Họa Miền Nam (Huỳnh Hữu Ủy)

Phỏng vấn các Họa sĩ (Nguiễn Ngu Í)

Đầu Xuân, vãng cảnh và chiêm ngắm các pho tượng nơi chùa cổ (Huỳnh Hữu Ủy)

Hồn Sài Gòn trong từng món đồ cũ (Trịnh Cung)

Mấy cơ sở nghiên cứu và đào tạo Mỹ thuật, Mỹ nghệ dưới thời Pháp thuộc (Huỳnh Hữu Ủy)

Chiều Tà, tranh Hàm Nghi (Đặng Tiến)

Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (1925-1945) (Ngô Kim Khôi)

Triển lãm "Hội Ngộ" (Mặc Lâm)

Giai thoại Hội họa Việt Nam (T. V. Phê)

Giá tiền của những bức tranh (T. V. Phê)

Người mẫu khỏa thân (T. V. Phê)

Thất hiền trong hội họa Việt Nam (T. V. Phê)

Vai Trò Trường Mỹ Thuật Đông Dương (Huỳnh Hữu Ủy)

Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định & Huế (Huỳnh Hữu Ủy)

 

Họa sĩ:

Ann Phong,  Cao Bá Minh,  Choé,  Dương Phước Luyến,  Duy Thanh,  E Gras,  Hồ Hữu Thủ,  Hồ Thành Đức,  Khánh Trường,  Lê Bá Đảng,  Lê Tài Điển,  Lê Thành Nhơn,  Lê Thị Lựu,  Lương Văn Tỷ,  Nghiêu Đề,  Ngô Viết Thụ,  Ngọc Dũng,  Nguyễn Gia Trí,  Nguyên Khai,  Nguyễn Phước,  Nguyễn Thanh Thu,  Nguyễn Thị Hợp,  Nguyễn Trung,  Nguyễn Đình Thuần,  Tạ Tỵ,  Tăng Hưng,  Thái Tuấn,  Trần Thị Hà,  Trịnh Cung,  Trương Đình Quế,  Văn Đen,  Vị Ý,  Võ Đình,  Vũ Hối,  Điềm Phùng Thị,  Đinh Cường,  Đỗ Quang Em,  

 

Nhiếp ảnh gia:

Nguyễn Cao Đàm, Trần Cao Lĩnh,

Nguyễn Ngọc Hạnh, Hương Kiều Loan

 

Trường Vẽ Gia Định (truongvegiadinh.blogspot)

 

 

 

© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)