1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      Thư viện Người Việt:
      NAM PHONG
      TRI TÂN
      THANH NGHỊ
      NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
       

       

    2. Lễ gia tiên ngày Tết (Ngô Nhân Dụng)
      11-02-2016 | THỜI LUẬN

      Lễ gia tiên ngày Tết

       NGÔ NHÂN DỤNG


      Hiện nay dù theo tôn giáo nào, người Việt Nam cũng có thể thắp nén nhang, lạy trước bàn thờ tổ tiên vào ngày giỗ, tết. Đối với người Việt ở xa quê hương lễ gia tiên còn quan trọng hơn khi ở quê nhà. Vì đó là một cơ hội cho chúng ta nối quá khứ với hiện tại, hướng thế hệ trẻ về tương lai với một niềm tin vào truyền thống.


      Ngày Tết là cơ hội mọi gia đình nhắc nhở con cháu biết lịch sử của ông bà, tạo cơ hội giải thích với con cháu tại sao phải lễ lạy trước bàn thờ. Chúng ta có thể tạo cho các thế hệ trẻ về niềm tự hào truyền thống văn hóa dân tộc, trong đó có phong tục làm giỗ, làm lễ và tưởng nhớ tổ tiên.


      Người Việt Nam có phong tục thờ cúng tổ tiên từ nhiều thế kỷ trước khi bị các quan thái thú đời Hán ép sống theo văn hóa Trung Hoa, trong các cuốn sách về lịch sử Giáo sư Lê Mạnh Thát đã nêu nhiều chứng cớ. Những ngôi mộ cổ từ hàng ngàn năm trước Tây lịch cho thấy nhiều vật tùy táng chôn theo trong mộ. Hiện tượng này chứng tỏ người Việt đã coi những người đã chết như còn vẫn tiếp tục sống ở một thế giới khác. Trong Tiền Hán Thư đã kể chuyện một người Việt trình bày cho Hán Vũ đế nghe về phong tục thờ vong và gọi hồn người chết. Thời Tiền Hán kéo dài trong hai thế kỷ trước Công Nguyên (206 TCN – 9 CN).


      Lê Mạnh Thát thấy trong Lục Độ Tập Kinh đã trình bầy quan niệm về đạo Hiếu. Kinh này được thiền sư Khương Tăng Hội, sống ở nước ta vào thế kỷ thứ ba, dịch sang chữ Hán. Thân phụ nhà sư di cư từ bán đảo Ấn Độ sang nước ta, thân mẫu ngài chắc là người Việt. Kinh Lục Độ Tập hiện nằm trong bộ đại tạng chữ Hán, nhưng được dịch từ ngôn ngữ nào? Lê Mạnh Thát biện luận rằng bản gốc không viết bằng chữ Phạn mà có thể bằng tiếng Việt, vì trong kinh có nhiều từ ngữ và khái niệm mà các kinh văn chữ Phạn không bao giờ nói tới.


      Thí dụ, kinh nói đến tục chôn người chết, tục bỏ tiền vào miệng thi hài, những tục đó không thông dụng ở Ấn Độ cũng như Trung Hoa, còn người Việt đã theo từ lâu. Những luận giải trong kinh này về Hiếu, Hạnh, không thấy trong văn học chữ Phạn mà cũng không giống quan niệm Nho giáo ở Trung Hoa trong các thế kỷ đầu công nguyên. Ngoài ra, cấu trúc ngôn ngữ nhiều chỗ lại viết theo văn pháp tiếng Việt, ngược với văn pháp chữ Hán. Thí dụ, trong kinh viết Tượng Phật theo văn pháp tiếng Việt, người Hán phải viết Phật Tượng; có hàng chục trường hợp tương tự, đặt tĩnh từ sau danh từ.


      Lê Mạnh Thát kết luận rằng kinh Lục Độ Tập đã thông dụng với tổ tiên người Việt chúng ta trong mấy thế kỷ trước và sau Công Nguyên. Trong kinh đó đã bàn đến đạo Hiếu, chứng tỏ các quan niệm này đã phổ thông với người Việt từ rất lâu. Sau một ngàn năm bị người Trung Hoa cai trị, người Việt Nam đã hấp thụ Nho giáo, hòa lẫn tư tưởng đạo Nho với phong tục thờ cúng tổ tiên có sẵn. Nhưng so sánh với người Trung Hoa người Việt không quá chú trọng đến hình thức như họ. Từ đời Hán người Trung Hoa coi chữ Hiếu là đứng đầu các tính tốt, họ theo đạo Hiếu với một thái độ “giáo điều.” Con có hiếu là “vững lập trường,” có đủ mọi đức hạnh, ai không giữ hiếu là vứt đi! Trong khi đó đối với người Việt, như Lê Mạnh Thát thuật lại theo kinh Lục Độ Tập, thì chữ Hiếu không có vai trò độc tôn. Giá trị của chữ Hiếu còn ở dưới lòng thương người, thương muôn vật, tình thương này là quan trọng nhất.


      Ngày nay chúng ta làm lễ tổ tiên như thế nào? Bàn về việc hành lễ, đức Khổng Tử nói: "Tế như tại" (Luận Ngữ, Thiên Bát Dật, câu 12). Theo tinh thần đó, khi làm lễ tổ tiên chúng ta cung kính như thể tổ tiên đang ở trước mặt mình.


      Nghi lễ đặt ra không phải chỉ vì người ta muốn làm bổn phận với Trời, Phật, Tiên tổ, mà còn một mục đích quan trọng khác là tác dụng trên lòng người, giúp con người hướng đến điều lành, ghi khắc trong lòng các giá trị trong truyền thống. Việc thờ cúng ông bà chỉ có tác dụng nếu người hành lễ chú tâm tưởng niệm. Những lời khấn mời ông bà về họp mặt cùng con cháu nhân ngày giỗ, ngày Tết, chỉ cần nói một cách chân thành, giản dị, như thể có dịp trò chuyện với tổ tiên, tất cả hiện diện trước mặt mình. Điều mà các bậc phụ huynh chúng ta cần giải thích cho con em là, tổ tiên lúc nào cũng có mặt ở bên ta, nói đúng ra, ở ngay trong mỗi con người chúng ta.


      Điều các em có thể hiểu, nói một cách khoa học, là trong mỗi cá nhân đều có những hạt giống, có dòng máu di truyền của ông bà, cha mẹ. Những hạt giống di truyền đó nằm ở trong mình, ở với chúng ta suốt cuộc đời. Mỗi người sẽ truyền lại hạt giống di truyền cho các thế hệ sau. Có thể nói mỗi người đều mang trong mình một phần những tế bào sống và những kinh nghiệm đạo lý, tâm linh mà tổ tiên đã thu nhận, đã nuôi dưỡng. Di sản của tổ tiên còn gồm cả những việc làm, những lời nói của người đã khuất. Khi còn sống, tổ tiên đều ý thức các hành động của mình sẽ ảnh hưởng tới con, cháu, nhiều thế hệ. Tổ tiên người Việt lúc nào cũng ước ao, cũng mong mỏi những việc mình làm sẽ đem kết quả tốt lành cho các thế hệ sau. Quan niệm đó, người Việt gọi là Phước Đức Ông Bà. Khi một người Việt làm điều thiện, tránh điều ác, hành động đó không phải chỉ cốt tạo ra những hậu quả tốt cho chính mình, mà còn muốn, có khi chỉ làm với mục đích "để dành phước đức," truyền lại cho con cháu.


      Người Việt Nam tin vào Phước Đức. Đây cũng là một niềm tin đặc biệt Việt Nam, người Trung Hoa hay Ấn Độ không đề cao niềm tin vào Phước Đức như vậy. Người Việt nghĩ rằng mỗi cá nhân có một “kho” các điều lành, gọi là “Phước Đức.” Cái kho đó do mình tạo ra, do các hành động của chính mình; nhưng kho Phước Đức cũng thu nhận hậu quả các hành động do cha mẹ, ông bà đã làm. Niềm tin đó nối liền các thế hệ. Nó khiến mỗi cá nhân cố gắng làm điều lành, tránh điều ác, không những để mình nhận được hậu quả tốt lành mà còn “góp vốn” cho con cháu đời sau được hưởng phước. Hoặc ít nhất con cháu “không phải trả nợ” những lỗi lầm vì những việc mà ông cha đã làm.


      Cũng vậy, mỗi thế hệ cũng nghĩ rằng trong đời mình có khi gặp được điều tình cờ may mắn không hiểu được tại sao, thì sẽ giải thích may mắn đó một phần là do Phước đức ông bà để lại. Với niềm tin tưởng vào Phước Đức, mỗi thế hệ đều biết ơn tổ tiên vì những phước đức tích lũy từ đời trước. Rồi đến lượt chính mình cũng muốn làm điều thiện để cất đầy trong kho phước đức chung, cho con cháu đời sau được hưởng.


      Tổ tiên chúng ta đều chia sẻ niềm tin vào Phước Đức, từ bao nhiêu thế kỷ nay vẫn giữ niềm tin này. Trong giống dân nào cũng vậy, ông bà cha mẹ đều cầu mong con cháu gặp mọi sự tốt lành, muốn để lại cho con cháu những di sản có giá trị. Nhưng đặc biệt trong truyền thống của chúng ta, niềm tin vào Phước Đức khiến tổ tiên chúng ta không phải chỉ dùng lời nói để cầu khẩn, ước mong. Vì tin vào Phước Đức, tổ tiên chúng ta cầu chúc cho con cháu bằng các hành động lương hảo, nhân từ, bác ái. Tổ tiên đã dùng chính bản thân, chính cuộc đời của mình để chúc lành cho con cháu. Khi hiểu như vậy, chúng ta sẽ cảm thấy một sợi dây thiêng liêng nối liền các thế hệ, sẽ nhớ tới tổ tiên với một niềm biết ơn sâu xa. Và chúng ta hiểu chính mình cũng phải làm bổn phận như vậy cho các thế hệ sắp tới.


      Thế hệ trẻ có thể hiểu dễ dàng rằng trong mỗi người chúng ta mang các hạt giống di truyền của tổ theo sinh học. Quan niệm Phước Đức giúp họ thấy mình cũng mang theo hạt giống của các điều thiện mà tổ tiên để lại. Các bạn trẻ có thể cảm thấy sự hiện diện của tổ tiên rõ ràng hơn. Tổ tiên đang hiện diện thật sự trong bản thân họ. Khi đó việc cử hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên có một ý nghĩa sâu xa hơn; châm ngôn "Tế như tại" được thể hiện.


      Nghi lễ cúng bái tổ tiên không cần phải phức tạp hay sang trọng. Đức Khổng Tử cũng nói "Lễ, dữ kì xa dã, ninh kiệm," nghĩa là việc hành lễ mà xa xỉ thì nên kiệm ước còn hơn. (Luận Ngữ, Bát Dật, 4.) Để cho thế hệ trẻ tham dự nghi lễ thờ cúng ông bà một cách tự nhiên, thoải mái, chúng ta cần hành lễ theo cách nào đơn giản hơn cả, chú ý đến nội dung hơn là hình thức. Như lời Khổng Tử nói về tang lễ, trong cùng đoạn trên, "Tang, dữ kì dị dã, ninh thích" (Tang lễ mà quá chú trọng nghi tiết thì chỉ bày tỏ lòng thương xót còn hơn.) Nhưng giản dị không có nghĩa là vội vàng, cẩu thả. Lòng thành kính phải được thể hiện ra với hình thức bên ngoài, trong y phục và cử chỉ người lễ. Hành lễ với khung cảnh, thái độ cung kính và trang nghiêm sẽ tạo được tác dụng sâu xa trong lòng các bạn trẻ, giúp họ tham dự vào phong tục thờ cúng ông bà. Giữ phong tục thờ cúng tổ tiên sẽ truyền lại cho các thế hệ sau một di sản văn hóa quý báu của dân tộc Việt Nam.


      Ngô Nhân Dụng

      Nguồn: diendantheky.net




      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Lễ gia tiên ngày Tết Ngô Nhân Dụng Tạp luận

      - Những người chiến sĩ đáng hãnh diện Ngô Nhân Dụng Xã luận

      - Rất đáng tri ân, rất đáng hãnh diện Ngô Nhân Dụng Nhận định

      - Nên làm gì với Viện Khổng Tử ở Hà Nội? Ngô Nhân Dụng Nhận định

      - Thắp Lại Bình Nhang Ngô Nhân Dụng Nhận định

      - Gian Dối Từ Trên Xuống Dưới Ngô Nhân Dụng Nhận định

      - Làm cách nào xóa mối nhục bán nước? Ngô Nhân Dụng Nhận định

      - Công an Ukraine quỳ gối xin tha lỗi Ngô Nhân Dụng Nhận định

      - Cuộc hành trình hy vọng của Việt Dzũng Ngô Nhân Dụng Tạp bút

    3. Thòi Luận

       

      Thời Luận

       

      Giữa Cơn Gió Bụi (Tưởng Năng Tiến)

      Một Cơn Gió Bụi (Mạnh Kim)

      Mẹ Việt Nam (Hồ Đình Nghiêm)

      Giạt Vào Bờ (Trần Mộng Tú)

      Về Mẹ (Vũ Hoàng Thư)

      Chữ, Nghĩa và sự trong sáng của tiếng Việt (Giang Phúc Đông Sơn)

      Giá trị tinh thần lập hiến Việt Nam Cộng Hòa (Nguyễn Quang Duy)

      Trump, anh phải sống! (Lê Hữu)

      Nhà văn Nguyên Ngọc: "Giá chúng ta giữ Tây Nguyên như một Bhutan" (Đức Tâm)

      Nhà văn Nguyên Ngọc: "Giá chúng ta giữ Tây Nguyên như một Bhutan" (Đức Tâm)

      Obama, ngày vui qua mau (Lê Hữu)

      Cá ơi và tình ơi!... (Lê Hữu)

      Những tra vấn tháng 4 tự trả lời (Nguyễn Thị Thanh Bình)

      Độc đáo Sài Gòn: ‘Chiêu Cà Phê Sách’ (Nguyễn Đạt)

      Lễ gia tiên ngày Tết (Ngô Nhân Dụng)

      Sự thật có phép chữa lành (Tuấn Khanh)

      Năm nay 2015 – Không có Mùa Nước Nổi (Ngô Thế Vinh)

      Đập Thuỷ Điện Don Sahong In Đậm Dấu Tay Trung Quốc (Ngô Thế Vinh)

      Nhìn Lại Báo Chí Thời Đệ Nhị Cộng Hoà (Nguyễn Quang Duy)

      Biển Hồ Cạn Nước (Tưởng Năng Tiến)

      Nhìn vào hậu trường (Tuấn Khanh)

      Những người chiến sĩ đáng hãnh diện (Ngô Nhân Dụng)

      Tư tưởng chủ đạo và bản sắc nền cộng hòa tại Miền Nam (Nguyễn Quang Duy)

      Ngày Tự Sướng (Lê Hữu)

      Nền giáo dục VNCH - một kinh nghiệm bản thân (Cao Đắc Tuấn)

      Rất đáng tri ân, rất đáng hãnh diện (Ngô Nhân Dụng)

      Nên làm gì với Viện Khổng Tử ở Hà Nội? (Ngô Nhân Dụng)

      Thắp Lại Bình Nhang (Ngô Nhân Dụng)

      Viết Từ Chiến Trường (Đoàn Xuân Thu)

      Ra Nước Ngoài là Vào Ngõ Cụt (Trần Văn Tích)

      Homeless tại Hoa Kỳ và tại San Jose 2014 (Giao Chỉ)

      Vì sao dối trá? (Nguyễn Thị Từ Huy)

      Ngày 20 Tháng 11 Nhớ Về Thầy (Lê Công Định)

      Giấc Mơ? Hoà Giải Hoà Hợp Dân Tộc? (Nguyễn Mạnh Trinh)

      Tán gẫu đêm ma quỷ (Tuấn Khanh)

      Hồi Ký và cái "Tôi" Đáng Ghét (Huy Phương)

      Giá như bố tôi… bớt bồi bút… (NT)

      Góp ý với nhà văn Phạm Thị Hoài Về những từ “đấu tố”, “bất hiếu” (Kiều Phong)

      Từ Nguyễn V. Trỗi đến Nguyễn V. Bé, kỹ thuật tuyên truyền “người thật chuyện giả (Trần Trung Đạo)

      Những Sai Lầm Trong Bài "Trường Hợp Võ Phiến" Của Thu Tứ (3) (Kiều Phong)

      Chuyện Buồn Vui Suốt 40 Năm của Người Việt Hải Ngoại (Đoàn Thanh Liêm)

      Những Sai Lầm Trong Bài "Trường Hợp Võ Phiến" Của Thu Tứ (2) (Kiều Phong)

      Họ Không Thể Giết Hết Chúng Ta (Nguyễn Quang Duy)

      Trường Hợp Võ Phiến hay câu chuyện Tái Ông Thất Mã (Phùng Nguyễn)

      Những Sai Lầm Trong Bài "Trường Hợp Võ Phiến" Của Thu Tứ (1) (Kiều Phong)

      Đèn Cù và Những Lời Trăn Trối (Nguyễn Văn Tuấn)

      Giáo dục học sinh căm thù điền chủ Nguyễn Thị Năm (Nguyễn Quang Duy)

      Đọc “Đèn Cù” (Lê Quốc Tuấn)

      Dựng Tượng Đức Thánh Trần ở Little Saigon... (Phạm Cao Dương)

      45 năm giỗ Bác: Bác làm gì kệ Bác (Trần Hồng Tâm)

      Trần Đức Thảo Những Lời Trăng Trối: Nêu Đích Danh Thủ Phạm (2) (Phan Ngọc Khuê)

      Trần Đức Thảo Những Lời Trăng Trối: Nêu Đích Danh Thủ Phạm (1) (Phan Ngọc Khuê)

      Của Trần Trọng Kim Trả Về Cho Trần Trọng Kim (Du Minh)

      Sự Mỉa Mai Của Lịch Sử (Nguyễn Trần Sâm)

      Suy nghĩ của một du học sinh Việt Nam (Phan Nguyên)

      Gian Dối Từ Trên Xuống Dưới (Ngô Nhân Dụng)

      Việc Thi Hành Hiệp Định Genève (Trần Gia Phụng)

      Những Tập Sách Bị Xé Vụn (Đặng Ngữ)

      Căn Nhà Cuối Cùng Của Tôi (Lê Hữu)

      Chỉ Có Kẻ Ngu Mới Chống Hoa Kỳ (Lý Quang Diệu)

      Người Trung Quốc Xấu Xí (Bá Dương)

      Làm cách nào xóa mối nhục bán nước? (Ngô Nhân Dụng)

      Có 1000 Lý Do Để Hòa. Chỉ Có Một Lý Do Để Đánh (Trần Mộng Lâm)

      Hơn Mười Ngày Nay (Cao Trần)

      Căn bệnh sợ “chính trị” của người Việt (Dương Hoài Linh)

      Dư Âm Của Những Đám Tang (Tưởng Năng Tiến)

      Bi Kịch Của Chủ Nghĩa Xã Hội (Hồ Hải)

      Là Con Người Với Nhau (Tuấn Khanh)

      Chiến Tranh Là Gì? (Tuấn Khanh)

      Công an Ukraine quỳ gối xin tha lỗi (Ngô Nhân Dụng)

      Thấy Gì Ở Ngày Chủ Nhật Vừa Qua (Người Buôn Gió)

      Thanh Bình Dưới Bóng Cờ 'Thiên Triều?' (Phạm Khắc Hàm)

      Suối Phi Khanh (Trần Đại Sỹ)

      Đi mua sắm hạnh phúc (Lê Hữu)

      Cuộc hành trình hy vọng của Việt Dzũng (Ngô Nhân Dụng)

      Chiếm Đoạt Lịch Sử Rồi Để Lại Gì Cho Dân Tộc? (Việt Thần)

      Dưới Chế Độ Độc Tài (Hoàng Ngọc Tuấn)

      Chủ nghĩa xã hội hoàn thiện là cái quái gì vậy? (Hoàng Ngọc Tuấn)

      Cứu giúp nạn nhân bão Haiyan, cơ hội đền ơn đất nước Phi (Trần Trung Đạo)

      Viện Khổng Tử hay cuộc xâm lăng văn hóa Trung Quốc (Thanh Phương)

      Có Ai Về Ghé Qua Đồng Tháp (Tưởng Năng Tiến)

      Bạn Thật, Bạn Giả (Lê Hữu)

      Áp lực nào buộc CSVN phải thả Phương Uyên? (Trần Trung Đạo)

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)