1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      Thư viện Người Việt:
      NAM PHONG
      TRI TÂN
      THANH NGHỊ
      NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
       

       

    2. Giá trị tinh thần lập hiến Việt Nam Cộng Hòa (Nguyễn Quang Duy)

      26-10-2016 | THỜI LUẬN

      Giá trị tinh thần lập hiến Việt Nam Cộng Hòa

       NGUYỄN QUANG DUY

       

      Sài Gòn xưa, ảnh minh họa (Học Xá)

      Nền Cộng Hòa non trẻ của miền Nam Việt Nam đã chấm dứt vào 30 tháng 4 năm 1975, nhưng giá trị tinh thần cộng hòa vẫn tồn tại cho đến ngày nay.


      Nhân kỷ niệm 60 năm ngày bản Hiến pháp Đệ Nhất Cộng Hòa ra đời ngày 26-10-1956 xin được ôn lại các giá trị có thể học hỏi từ tinh thần lập hiến Việt Nam Cộng Hòa.


      Hiến Pháp 1956


      Ngày 26/10/1955 Thủ tướng Ngô Đình Diệm chính thức thông báo kết quả Trưng cầu Dân Ý truất phế Bảo Đại, thành lập Việt Nam Cộng hòa, với Hiến ước Tạm thời làm cơ sở pháp lý điều hành quốc gia.


      Tháng 3/1956 một Quốc hội Lập hiến với 123 dân biểu được bầu. Đến tháng 7-1956 Quốc Hội bỏ phiếu thông qua bản Hiến Pháp. Ngày 26/10/1956 Hiến Pháp được Quốc Trưởng Ngô Đình Diệm ban hành.


      Tinh thần lập hiến và dân chủ chưa đủ


      Chiếu điều 95 và 96 của bản Hiến pháp 1956, Quốc Hội Lập Hiến tự động trở thành Quốc Hội Lập Pháp và Quốc Trưởng Ngô Đình Diệm trở thành Tổng thống đầu tiên Việt Nam Cộng Hòa.


      Lẽ ra hai điều này không nên có vì đã mâu thuẫn với Điều 2 là điều căn bản nhất của thể chế Cộng Hòa: “Chủ quyền thuộc về toàn dân”.


      Nói cách khác Quốc Hội Lập Hiến đã tước quyền người dân bầu chọn một Quốc Hội Lập Pháp và một Tổng thống đầu tiên của nước Việt Nam Cộng Hòa.


      Điều 3 “Tổng thống lãnh đạo Quốc dân” mang xu hướng suy tôn chức danh Tổng thống. Điều 89 “Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này (89) của Hiến pháp.”, Nghĩa là Điều 3 được đặt ngang hàng và được bảo vệ tuyệt đối như Điều 2 “Chủ quyền thuộc về toàn dân”.


      Nói cách khác quyền lực tuyệt đối đã được Hiến Pháp trao cho Tổng Thống do đó quyền dân chủ đã bị giới hạn trong Hiến Pháp Đệ Nhất Cộng Hòa.


      Trong khi miền Nam đang bị cộng sản đe dọa lẽ ra vai trò của các đảng chính trị và của địa phương phải được đặt hàng đầu, Hiến pháp 1956 lại chỉ tập trung vào Trung ương không hề đề cập đến địa phương, thành phố, tỉnh, xã, thị xã… cũng không đề cập đến vai trò các đảng chính trị.


      Thiên thứ 9, quy định việc sửa đổi Hiến pháp, với nhiều bước chặt chẽ. Chương này chỉ thuận lợi cho những chính trị gia đã tham gia guồng máy công quyền, nhưng lại giới hạn cơ hội của dân và của thành phần cấp tiến muốn thay đổi đất nước thông qua việc sửa đổi Hiến Pháp.


      Tam Quyền Phân Nhiệm


      Vai trò và nhiệm vụ của Tổng Thống, của Quốc Hội và của Thẩm phán được nêu rõ trong các Thiên (Chương) ba, bốn và năm của bản Hiến Pháp 1956.


      Thiên thứ sáu dành cho Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo Hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.


      Thiên thứ bảy về Hội đồng Kinh tế Quốc gia do Phó Tổng thống là Chủ tịch có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.


      Thiên thứ tám về Viện Bảo Hiến nhằm phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh.


      Kinh Tế Tự Do


      Chương hai nêu rõ việc Quốc gia (chính phủ) công nhận và bảo đảm tất cả các quyền tự do cá nhân.


      Đặc biệt Điều 20: “Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu.” Cùng với việc khuyếch trương kinh tế tự do, chiếu theo điều 20 này chính phủ đã có những chính sách vô cùng tích cực.


      Lấy thí dụ, chính phủ quy định các loại xe chuyên chở công cộng như xe taxi, xe lam, xe xích lô… cho nhập cảng xe mới và đem bán trả góp cho tài xế. Các loại xe này nhanh chóng trở thành những phương tiện di chuyển thông dụng nhất tại miền Nam.


      Chương trình Người cày có ruộng, chính phủ mua lại ruộng đất của điền chủ đem bán lại cho tá điền qua phương cách trả góp.


      Ngoài một số hoạt động công ích xã hội, như điện, nước, hàng không,… sinh hoạt kinh tế hoàn toàn tự do. Chính phủ không cạnh tranh với tư nhân. Chính phủ chỉ giữ vai trò khuyết trương kinh tế và bảo đảm tư nhân cạnh tranh một cách công bằng và hợp pháp.


      Ngay trong giáo dục Chương trình tư thục được chính phủ khuyến khích và nâng đỡ. Nhờ đó chia sẻ gánh nặng với chính phủ và đã đào tạo nhiều thế hệ thanh niên sẵn sàng đóng góp cho quốc gia dân tộc.


      Chính phủ còn cho thành lập các khu kỹ nghệ như Thủ Đức, An Hòa, Nông Sơn, … nhiều nhà máy được xây dựng như nhà máy xi măng Hà Tiên, nhà máy thủy điện Đa Nhim, nhà máy vải sợi Vinatexco Đà Nẵng, Vimytex Sài Gòn, Nhà máy thủy tinh, mỏ than Nông Sơn…


      Các quốc gia khác sau khi giành được độc lập đều có khuynh hướng bảo vệ thị trường, chính phủ trực tiếp làm kinh tế, quốc hữu hóa công xưởng, đề ra các chính sách bảo vệ thị trường.


      Trong khi miền Nam lại theo kinh tế tự do nên kinh tế và kỹ nghệ đã phát triển nhanh hơn các quốc gia trong vùng.


      Hòa giải tranh chấp lao công


      Thiên thứ bẩy về Hội đồng Kinh tế Quốc gia mà hội viên gồm các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.


      Chính phủ cũng đề ra chính sách dung hòa quyền lợi giữa chủ và thợ, giảm thiểu các tranh chấp lao công, khiến cho xã hội hài hòa cùng nhau phát triển sản xuất nâng cao đời sống vật chất và tinh thần.


      Đây là một điểm son của của xã hội miền Nam, nhờ đó cộng sản không thể lợi dụng biến các cuộc biểu tình đình công đòi hỏi quyền lợi của giới thợ thuyền thành những cuộc biểu tình chính trị.


      Tinh thần nhân bản, khai phóng và dân tộc


      Trong lời mở đầu Hiến Pháp nêu rõ: “…dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.”


      Nhìn chung Hiến Pháp 1956 xây dựng trên tinh thần nhân bản, khai phóng và dân tộc, tinh thần này được tiếp tục duy trì trong Hiến Pháp 1967.


      Hiến Pháp 1967


      Sau đảo chánh 1-11-1963, miền Nam bị đẩy vào tình trạng khủng hoảng chính trị. Các chính phủ quân sự và dân sự liên tiếp được thành lập. Để có cơ sở pháp lý mỗi chính phủ đã ban hành Hiến Chương riêng.


      Mãi đến tháng 9/1966, một Quốc Hội Lập Hiến gồm 117 Dân biểu được bầu ra. Một Ủy ban soạn thảo Hiến pháp được thành lập rút ưu khuyết điểm Hiến Pháp 1956, nghiên cứu và tham vấn nhiều bản Hiến pháp các quốc gia khác, đặc biệt là Pháp, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc.


      Hiến Pháp 1967 tam quyền phân lập, dân chủ và phân quyền


      Ngày 01/04/1967 Hiến Pháp 1967 được công bố theo đó nguyên tắc kiểm soát và đối trọng giữa các nhánh quyền lực được triệt để tuân thủ.


      Lập pháp gồm lưỡng viện, hành pháp và tư pháp hoàn toàn độc lập. Vai trò và nhiệm vụ của lập pháp, của hành pháp và của tư pháp được nêu rõ trong các Chương ba, bốn và năm của bản Hiến Pháp.


      Để tránh nguy cơ độc tài, Hiến pháp 1967 đặt ra chế độ Tổng thống với Lưỡng viện Quốc Hội và với chức vụ Thủ Tướng nhằm chia sẻ trách nhiệm và quyền hành của Tổng thống.


      Đặc biệt, Chương 5 Điều 70 nêu rõ: “Nguyên tắc địa phương phân quyền được công nhận cho các tập thể địa phương có tư cách pháp nhân như: xã, tỉnh, thị xã và thủ đô.” Các Điều 65, 70, 71, 72, 73, 74, 75 và 114 tạo cơ sở pháp lý cho các chính quyền địa phương.


      Chương 6 về vai trò và nhiệm vụ của các Định Chế Đặc Biệt bao gồm Đặc Biệt Pháp Viện, Giám Sát Viện, Hội Đồng Quân Lực, Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục, Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội, Hội Đồng các Sắc Tộc.


      Vai trò chống tham nhũng của Giám Sát Viện được nêu rõ: “Thanh tra, kiểm soát và điều tra nhân viên các cơ quan công quyền và tư nhân đồng phạm hay tòng phạm về mọi hành vi tham nhũng, đầu cơ, hối mại quyền thế hoặc phương hại đến quyền lợi quốc gia.”


      Chính Đảng và Đối Lập


      Chương 7 về Chính Đảng và Đối Lập, nền Đệ Nhị Cộng Hòa khuyến khích việc tiến tới chế độ lưỡng đảng đối lập như sau:


      Điều 99


      1- Quốc Gia công nhận chánh đảng giữ vai trò thiết yếu trong chế độ dân chủ.

      2- Chánh đảng được tự do thành lập và hoạt động theo các thể thức và điều kiện luật định.

      Điều 100 – Quốc Gia khuyến khích việc tiến tới chế độ lưỡng đảng.

      Điều 101 – Quốc Gia công nhận sự định chế hóa đối lập chính trị.

      Điều 102- Một đạo luật sẽ ấn định quy chế chánh đảng và đối lập chính trị.


      Sinh hoạt chính trị ở miền Nam cho đến 30-4-1975 đã chiụ nhiều ảnh hưởng chủ trương lưỡng đảng đối lập, các đảng Khối hay chính trị gia đã hình thành những liên kết đối lập về đường lối và chánh sách quốc gia.


      Thêm vào đó để tránh tình trạng Quân Đội cấu kết với các đảng phái chính trị làm đảo chánh, Chương 2, Điều 23 cấm “Quân nhân tại ngũ không được sinh hoạt đảng phái”.


      Hữu sản hóa nhân dân


      Điểm mạnh nhất của mô hình Đệ Nhất Cộng Hòa là phát triển kinh tế tự do, điểm mạnh này đã được tiếp tục trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Về Công Nghiệp, Khu Kỷ Nghệ Biên Hòa là một thành tựu phát triển vào bậc nhất trong vùng Đông Nam Á. Mặc dù chiến tranh kinh tế và kỹ nghệ miền Nam vượt hẳn các quốc gia trong vùng.


      Điểm đặc biệt của Hiến Pháp 1967 Điều 19 phần 2 “Quốc Gia chủ trương hữu sản hóa nhân dân” và Điều 22 “Quốc Gia chủ trương nâng cao đời sống nông dân và đặc biệt giúp đỡ nông dân có ruộng đất canh tác.” Sự thành công của chánh sách Người Cày Có Ruộng và Chương trình cơ giới hóa nông nghiệp chính là nhờ các điều khoản nói trên.


      Hiến pháp nhân bản, khai phóng và dân tộc


      Thừa kế tinh thần Đệ Nhất Cộng Hòa, Hiến pháp 1967 lấy nhân bản, khai phóng và dân tộc làm quốc sách. Điều 11 ghi rất rõ “Văn hóa giáo dục phải được đặt vào hàng quốc sách trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản.”


      Điều 2 phần 2 nêu rõ tinh thần cộng hòa “Quốc Gia chủ trương sự bình đẳng giữa các công dân không phân biệt nam nữ, tôn giáo, sắc tộc, đảng phái. Đồng bào thiểu số được đặc biệt nâng đỡ để theo kịp đà tiến bộ chung của dân tộc.”


      Các điểm nổi bật


      Nhìn chung Hiến pháp 1967 vừa ngắn gọn, rõ ràng, vừa nêu rõ chính phủ phải bảo đảm những quyền tự do căn bản, kể cả quyền đối lập chính trị. So với các quốc gia trong vùng Đông Nam Châu Á cùng thời, Hiến pháp 1967 chỉ rõ sự tiến bộ vượt bực của Việt Nam Cộng Hòa.


      Còn so với thực tế Việt Nam Cộng Hòa có một số đặc điểm nổi bật như:


      1. Các quyền tự do căn bản đã được chính phủ bảo đảm, đặt biệt là quyền tư hữu;

      2. Xây dựng được một nền dân chủ tam quyền phân nhiệm, phân lập và phân quyền;

      3. xây dựng thành công một nền văn hóa giáo dục, lấy nhân bản, khai phóng và dân tộc làm căn bản;

      4. tôn giáo, văn học, văn nghệ, nghệ thuật phát triển;

      5. báo chí tự do;

      6. theo kinh tế thị trường tự do;

      7. nhưng vẫn bảo đảm được công bằng xã hội và dân sinh như y tế đại chúng hay thực hiện luật Người Cày Có Ruộng;

      8. một xã hội dân sự phát triển.


      Kinh nghiệm thế giới cho thấy các yếu tố trên là căn bản trong việc phát triển quốc gia. Nghĩa là nếu miền Nam không rơi vào tay cộng sản thì Việt Nam Cộng Hòa sẽ không thể kém xa các quốc gia Đông Nam Châu Á như hiện nay. Nếu không nói là sẽ vượt trội hơn nước người.


      Tinh thần lập hiến và thượng tôn pháp luật pháp thời Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn đó và sẽ được học hỏi kế thừa khi Việt Nam có tự do dân chủ.


      Melbourne, Úc Đại Lợi, 25-10-2016


      Nguyễn Quang Duy

      Nguồn: danchimviet.info



      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Giá trị tinh thần lập hiến Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Quang Duy Nhận định

      - Nhìn Lại Báo Chí Thời Đệ Nhị Cộng Hoà Nguyễn Quang Duy Nhận định

      - Tư tưởng chủ đạo và bản sắc nền cộng hòa tại Miền Nam Nguyễn Quang Duy Nhận định

      - Họ Không Thể Giết Hết Chúng Ta Nguyễn Quang Duy Phiếm luận

      - Giáo dục học sinh căm thù điền chủ Nguyễn Thị Năm Nguyễn Quang Duy Phiếm luận

    3. Thòi Luận

       

      Thời Luận

       

      Giữ Gìn Văn Hóa Việt Nơi Xứ Người (Mỹ Đức Phạm Nguyễn)

      Giữa Cơn Gió Bụi (Tưởng Năng Tiến)

      Một Cơn Gió Bụi (Mạnh Kim)

      Mẹ Việt Nam (Hồ Đình Nghiêm)

      Giạt Vào Bờ (Trần Mộng Tú)

      Về Mẹ (Vũ Hoàng Thư)

      Chữ, Nghĩa và sự trong sáng của tiếng Việt (Giang Phúc Đông Sơn)

      Giá trị tinh thần lập hiến Việt Nam Cộng Hòa (Nguyễn Quang Duy)

      Trump, anh phải sống! (Lê Hữu)

      Nhà văn Nguyên Ngọc: "Giá chúng ta giữ Tây Nguyên như một Bhutan" (Đức Tâm)

      Nhà văn Nguyên Ngọc: "Giá chúng ta giữ Tây Nguyên như một Bhutan" (Đức Tâm)

      Obama, ngày vui qua mau (Lê Hữu)

      Cá ơi và tình ơi!... (Lê Hữu)

      Những tra vấn tháng 4 tự trả lời (Nguyễn Thị Thanh Bình)

      Độc đáo Sài Gòn: ‘Chiêu Cà Phê Sách’ (Nguyễn Đạt)

      Lễ gia tiên ngày Tết (Ngô Nhân Dụng)

      Sự thật có phép chữa lành (Tuấn Khanh)

      Năm nay 2015 – Không có Mùa Nước Nổi (Ngô Thế Vinh)

      Đập Thuỷ Điện Don Sahong In Đậm Dấu Tay Trung Quốc (Ngô Thế Vinh)

      Nhìn Lại Báo Chí Thời Đệ Nhị Cộng Hoà (Nguyễn Quang Duy)

      Biển Hồ Cạn Nước (Tưởng Năng Tiến)

      Nhìn vào hậu trường (Tuấn Khanh)

      Những người chiến sĩ đáng hãnh diện (Ngô Nhân Dụng)

      Tư tưởng chủ đạo và bản sắc nền cộng hòa tại Miền Nam (Nguyễn Quang Duy)

      Ngày Tự Sướng (Lê Hữu)

      Nền giáo dục VNCH - một kinh nghiệm bản thân (Cao Đắc Tuấn)

      Rất đáng tri ân, rất đáng hãnh diện (Ngô Nhân Dụng)

      Nên làm gì với Viện Khổng Tử ở Hà Nội? (Ngô Nhân Dụng)

      Thắp Lại Bình Nhang (Ngô Nhân Dụng)

      Viết Từ Chiến Trường (Đoàn Xuân Thu)

      Ra Nước Ngoài là Vào Ngõ Cụt (Trần Văn Tích)

      Homeless tại Hoa Kỳ và tại San Jose 2014 (Giao Chỉ)

      Vì sao dối trá? (Nguyễn Thị Từ Huy)

      Ngày 20 Tháng 11 Nhớ Về Thầy (Lê Công Định)

      Giấc Mơ? Hoà Giải Hoà Hợp Dân Tộc? (Nguyễn Mạnh Trinh)

      Tán gẫu đêm ma quỷ (Tuấn Khanh)

      Hồi Ký và cái "Tôi" Đáng Ghét (Huy Phương)

      Giá như bố tôi… bớt bồi bút… (NT)

      Góp ý với nhà văn Phạm Thị Hoài Về những từ “đấu tố”, “bất hiếu” (Kiều Phong)

      Từ Nguyễn V. Trỗi đến Nguyễn V. Bé, kỹ thuật tuyên truyền “người thật chuyện giả (Trần Trung Đạo)

      Những Sai Lầm Trong Bài "Trường Hợp Võ Phiến" Của Thu Tứ (3) (Kiều Phong)

      Chuyện Buồn Vui Suốt 40 Năm của Người Việt Hải Ngoại (Đoàn Thanh Liêm)

      Những Sai Lầm Trong Bài "Trường Hợp Võ Phiến" Của Thu Tứ (2) (Kiều Phong)

      Họ Không Thể Giết Hết Chúng Ta (Nguyễn Quang Duy)

      Trường Hợp Võ Phiến hay câu chuyện Tái Ông Thất Mã (Phùng Nguyễn)

      Những Sai Lầm Trong Bài "Trường Hợp Võ Phiến" Của Thu Tứ (1) (Kiều Phong)

      Đèn Cù và Những Lời Trăn Trối (Nguyễn Văn Tuấn)

      Giáo dục học sinh căm thù điền chủ Nguyễn Thị Năm (Nguyễn Quang Duy)

      Đọc “Đèn Cù” (Lê Quốc Tuấn)

      Dựng Tượng Đức Thánh Trần ở Little Saigon... (Phạm Cao Dương)

      45 năm giỗ Bác: Bác làm gì kệ Bác (Trần Hồng Tâm)

      Trần Đức Thảo Những Lời Trăng Trối: Nêu Đích Danh Thủ Phạm (1) (Phan Ngọc Khuê)

      Trần Đức Thảo Những Lời Trăng Trối: Nêu Đích Danh Thủ Phạm (2) (Phan Ngọc Khuê)

      Của Trần Trọng Kim Trả Về Cho Trần Trọng Kim (Du Minh)

      Sự Mỉa Mai Của Lịch Sử (Nguyễn Trần Sâm)

      Suy nghĩ của một du học sinh Việt Nam (Phan Nguyên)

      Gian Dối Từ Trên Xuống Dưới (Ngô Nhân Dụng)

      Việc Thi Hành Hiệp Định Genève (Trần Gia Phụng)

      Những Tập Sách Bị Xé Vụn (Đặng Ngữ)

      Căn Nhà Cuối Cùng Của Tôi (Lê Hữu)

      Chỉ Có Kẻ Ngu Mới Chống Hoa Kỳ (Lý Quang Diệu)

      Người Trung Quốc Xấu Xí (Bá Dương)

      Làm cách nào xóa mối nhục bán nước? (Ngô Nhân Dụng)

      Có 1000 Lý Do Để Hòa. Chỉ Có Một Lý Do Để Đánh (Trần Mộng Lâm)

      Hơn Mười Ngày Nay (Cao Trần)

      Căn bệnh sợ “chính trị” của người Việt (Dương Hoài Linh)

      Dư Âm Của Những Đám Tang (Tưởng Năng Tiến)

      Bi Kịch Của Chủ Nghĩa Xã Hội (Hồ Hải)

      Là Con Người Với Nhau (Tuấn Khanh)

      Chiến Tranh Là Gì? (Tuấn Khanh)

      Công an Ukraine quỳ gối xin tha lỗi (Ngô Nhân Dụng)

      Thấy Gì Ở Ngày Chủ Nhật Vừa Qua (Người Buôn Gió)

      Thanh Bình Dưới Bóng Cờ 'Thiên Triều?' (Phạm Khắc Hàm)

      Suối Phi Khanh (Trần Đại Sỹ)

      Đi mua sắm hạnh phúc (Lê Hữu)

      Cuộc hành trình hy vọng của Việt Dzũng (Ngô Nhân Dụng)

      Chiếm Đoạt Lịch Sử Rồi Để Lại Gì Cho Dân Tộc? (Việt Thần)

      Dưới Chế Độ Độc Tài (Hoàng Ngọc Tuấn)

      Chủ nghĩa xã hội hoàn thiện là cái quái gì vậy? (Hoàng Ngọc Tuấn)

      Cứu giúp nạn nhân bão Haiyan, cơ hội đền ơn đất nước Phi (Trần Trung Đạo)

      Viện Khổng Tử hay cuộc xâm lăng văn hóa Trung Quốc (Thanh Phương)

      Có Ai Về Ghé Qua Đồng Tháp (Tưởng Năng Tiến)

      Bạn Thật, Bạn Giả (Lê Hữu)

      Áp lực nào buộc CSVN phải thả Phương Uyên? (Trần Trung Đạo)

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)