|
|
|
|
|
VĂN HỌC |
GIAI THOẠI | TIỂU LUÂN | THƠ | TRUYỆN | THỜI LUẬN | NHÂN VẬT | ÂM NHẠC | HỘI HỌA | KHOA HỌC | GIẢI TRÍ | TIỂU SỬ |
Thơ Văn Trần Y. Hoa & Bằng hữu
Thơ Văn Trần Yên Hoà & Bằng hữu
MỐC CHUYỂN HOÁ 1789
Vua Quang Trung
Quang Trung chấm dứt nước Đại Việt 800 năm trung ương Thăng Long.
- Những năm cuối thế kỷ 18, đặc biệt 1789, đánh dấu bước ngoặt lớn nhất của Việt Sử: chấm dứt thế tam phân Lê Trịnh-Nguyễn-Tây Sơn, chấm dứt nước Đại Việt trung ương cột trụ ở miền Hồng Hà cổ truyền đã kéo dài cả mấy ngàn năm từ Hùng Vương qua Trưng Vương, Ngô Quyền-Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê/Trịnh, trọng tâm từ đây đặt vào miền đất mới Phú Xuân, kể từ cuối thế kỷ 18, thật ra phải gọi là Tân quốc Nam Việt mới đúng.
- Trọng tâm chính trị chuyển về phương Nam với Phú Xuân Huế, từ 1789 tới 1945.
- Triều đình mới Tây Sơn 14 năm- Nguyễn 1802-1945 tại miền đất tân Việt.
- Bỏ rơi, cai trị lỏng lẻo, trọng tâm dân số châu thổ sông Hồng, hơn 300 vụ nổi loạn dưới thời Nguyễn xảy ra ở miền Bắc.
a- Không một ông vua Nguyễn nào lấy vợ miền Bắc
b- Không một nhân sĩ miền Bắc nào làm tới cao cấp ngoại trừ Phạm Quỳnh do Pháp đưa vào.
c- 4 trường thi ở miền Trung, 2 ở Bắc, 2 ở Nam, mặc dù dân số miền Bắc đông hơn cả Trung Nam gộp lại
d- Vua Minh Mệnh 1831 đổi tên Thăng Long ra Hà Nội, Kinh Bắc ra Bắc Ninh-Thành Thăng Long bị phá hủy để xây thành mới nhỏ hơn ở Huế.
- Thiếu nhân sự, thiếu tin cậy nhau, nhà Nguyễn để miền đất tổ suy yếu làm mồi ngon cho Thực dân thế kỷ cuối XIX-đầu XX.
- Dân chúng châu thổ sông Hồng đứng về phía đối nghịch với Triều đình Huế thời 1945, Việt Minh có đất bàn đạp, thu hút nhân sự quần chúng bất mãn cho tới cả thập niên 1960, chính quyền quốc gia, Bảo Đại, Ngô Đình Diệm được nhìn như là sự kéo dài của thời quan liêu Phú Xuân-Huế.
- Trịnh Nguyễn với sông Gianh, Quốc Cộng với Bến Hải.
PHÂN HÓA DÂN TỘC
- Tam quốc Mạc-Lê Trịnh-Nguyễn tới thế kỷ 16
- Tam quốc Tây Sơn-Lê Trịnh-Nguyễn thế kỷ 18
- Quốc-Cộng thế kỷ 20
Thời điểm Nam tiến từ thế kỷ 11-14-15-17, đa sắc dân, nhiều khối dân chúng dị biệt về nhân chủng, thành phần kinh tế, giáo dục, tâm lý, tín ngưỡng...
Cho đến thế kỷ 15 trung tâm sinh hoạt của VN chỉ thu hẹp quanh châu thổ sông Hồng (bắc Thanh Hóa bây giờ, vùng Nga Sơn, cũng do phù sa sông Hồng bồi lên) với khoảng từ 1 triệu người (đời Trưng) tới 4 triệu người (đời Trần).
Khối dân chính là Lạc Việt và Mường.
Càng vào
trong, từ vùng sông Lam, số dân Lạc Việt thưa thớt, Tày và Chàm (dân Lâm Ấp) có thể đông hơn, tới khi chúa Nguyễn vào Hoành sơn nhất đái thì cũng chỉ vài ngàn quân binh từ Thanh Hóa, Nam Định đi theo, thổ dân Chàm hẳn là nguồn nhân lực và hòa máu dần dần với quân binh từ Bắc vào.
Yếu tố phân hóa:
Địa phương, tôn giáo, kinh tế.
Thực dân Pháp chia Bắc, Trung, Nam - Xứ bảo hộ và đô hộ.
Quốc Cộng.
CS đệ Tam, đệ Tứ.
Quốc gia thân Mỹ, Quốc gia thân Pháp.
Cộng thân Tàu, Cộng thân Nga, ...
Việt quốc nội, Việt hải ngoại-Việt Âu châu, Việt Cali...
Việt đỏ, Việt vàng, Việt hồng hồng...
Bắc kỳ chín nút, Bắc kỳ cán ngố.
HỆ QUẢ
- Hệ quả của chuyển hóa và phân hóa: không có mẫu số chung, không thể có hội nghị Diên Hồng.
- CSVN tuy yếu, nhưng quốc gia cũng không có lực đủ mạnh để đối kháng.
- Từ 1945 tới 1975 quốc gia liên tiếp thất bại vì:
a- CS là một hệ thống quốc tế, có quốc tế vận, có huấn luyện cán bộ chính trị chuyên nghiệp
b- Chiến lược lấy nông thôn bao vây thành thị/du kích của Mao
c- Chiến lược CS lộng giả thành chân, đội lốt dân tộc, quốc tế vận.
d- Quốc gia: chính trị tài tử, Pháp Mỹ thay đổi bất nhất, dân vận đã thiếu mà quốc tế vận lại càng yếu ớt.
- Chính quyền quốc gia, nội bộ bất hòa, bất đồng chính kiến, chính trị Nóng chứ không Trầm, đối lập phá hoại nhau, nên không còn đủ lực tập trung chống CS.
NHÌN NHAU NHƯ ĐỐI THỦ!
Từ thời vua chúa, sự tranh chấp giữa các dòng họ, nạn bè phái “con em đất Bái” đã cuốn hút cả dân tộc vào cuộc tranh chấp xô xát, khi thì hai phe Mạc-Lê Trịnh, khi thì 3 phe Tây Sơn-Nguyễn-Lê Trịnh, sông Gianh phân cực chưa xong hẳn, Tây sang tạo tam cực Bắc Trung Nam, rồi lại sông Bến Hải phân cực lần nữa. Hai lần thống nhất: Gia Long 1802 và Cộng Sản VN 1975 thực chất chỉ là sự nhất thống sơn hà. Mấy chục năm đầu thời Nguyễn riêng miền Bắc tính ra có hơn 300 vụ nổi loạn lớn nhỏ chống nhà Nguyễn ở Huế, vụ quan trọng ai cũng biết là Giặc Châu Chấu do danh Nho Cao Bá Quát cựu quan triều Nguyễn khởi động. Năm 1975, đã quá nhiều tài liệu phân tích, nói chung cũng chỉ là sự nhất thống bạo động áp đặt chứ không có lòng dân tự nguyện như Đông Đức - Tây Đức.
Vì sự phân hóa cả 300 năm nay như vậy, dân tộc Việt lại không có một chất keo tâm linh kết chặt (qua tôn giáo như Do Thái, Hồi, Ấn), nên xã hội Việt trở thành rời rạc như nồi cơm nát, tệ hơn nữa, hậu quả là đôi mắt nhìn nhau thù hằn, hằn học, nghi ngờ, từ già đến trẻ, từ nam tới nữ, từ trẻ con đến người lớn, từ Bắc lan mạnh vào Nam.
Khi xưa mấy triết gia hiện sinh đặt vấn đề người nhìn người như là đối tượng (object), nhưng ở xã hội VN thì đối tượng đã đành mà gọi là đối thủ nữa mới đúng. Người Việt, giới có ăn học khoa bảng cũng không khác, vẫn mang tâm thức dìm người khác, hạ người khác, mình đúng hết, đối thủ sai hết.
Bác sĩ chuyên khoa tâm thần Trần Minh Tùng từng phân tích: người Việt mình có tính ác, đánh người phải đánh cho chết, không hòa nhau bao giờ... Gs Nguyễn Ngọc Huy chi tiết hơn: người mình không biết hòa hợp tương nhượng (ông dùng chữ compromise), phe Phật giáo như Thích Tâm Châu thì biết “compromise” với chính quyền, phe Trí Quang thì quyết liệt, extremist...
Nói khác đi ác tính, chê gièm, tố khổ, ác khẩu chửi bới nhau... đều xuất phát từ căn Sân hận, từ tâm lý nhìn người khác như đối thủ.
Tâm thức ấy bị những yếu tố kinh tế, chính trị làm nặng nề thêm: miền Nam đất lành chim đậu, no đủ từ hàng trăm năm có đôi mắt nhân hậu hơn, dân miền Bắc lũ lượt di cư vào sau 1975, Lâm Đồng, Bà Rịa, Đồng Tháp... rồi đây, con em họ, sẽ chuyển hóa theo dòng sống đôn hậu hồn nhiên miền Nam, họ được ăn bánh thật chứ không cần ăn bánh vẽ như ở xứ nghèo sỏi đá, ăn no những từ ngữ đao to búa lớn tuyên truyền. Và chỉ cần một thế hệ, tâm thức sẽ đổi, như lớp di cư Bắc 1954 cũng đã đổi khá nhiều, bằng chứng là Bắc 54 (dân gian bây giờ gọi đùa là Bắc kỳ chín nút) gắn bó với Sài gòn hơn là với quê cha đất tổ khô cằn, đảo lộn như Học Lạc từng ví là “con tôm cứt lộn đầu”, thậm chí chỉ nghe giọng nói mới ở Hà Nội cũng đã thấy lạ!
Thánh Gandhi xứ Ấn cao cả đã không nhìn thực dân Anh như đối thủ, ngài từng nói: người Anh có nhiều điều đáng cho ta học hỏi, Tagore cũng vậy, ông không mang mặc cảm viết thơ bằng Anh ngữ để đoạt giải Nobel văn chương 1911 đầu tiên cho Á châu. Ở Việt Nam, ta nhìn người Pháp như ác quỷ mà quên đại quỷ sứ Nga Tàu đàng sau, chẳng ai buồn nghe phương cách giành độc lập ôn hòa không đổ máu của một Phan Chu Trinh, một Phạm Quỳnh... cứ coi nhau như đối thủ, đánh nhau sứt đầu xẻ tai rồi mà cũng không nhận ra anh em!
Nước Pháp đã xây dựng công trình rất lớn cho VN trong 50 năm: 1890-1940, với tất cả hệ thống giao thông, giáo dục, tư pháp, y tế... Nếu không có cuộc Tây hóa đó, VN còn là một xã hội không hơn gì các bộ tộc Tây nguyên, và cũng chẳng có ông nào biết ngoại ngữ để du học Mác với Lê!
Ấy vậy, mà vẫn vô ơn bất nghĩa, vẫn coi Pháp chỉ là kẻ thù, thậm chí đến những khẩu súng đầu tiên của Mỹ trang bị hồi 1945 cho đại đội VM đánh Nhật... vẫn chưa thấy sử liệu nào ghi nhận, mà chỉ thấy hết hô Mỹ ngụy đến Pháp ngụy ! Còn đối với Bảo Đại, quốc gia miền Nam, thì khỏi nói, đối tượng đối thủ thù nghịch ít nhất 3-4 đời nữa, hoặc cả 300 năm nữa may ra mới xóa hẳn.
Hệ quả của sự phân cực, quốc cộng, hằn sâu nhất vì chiến cuộc kéo dài quá lâu 1945-1975, mà phe thắng lại không phải là phe xứng đáng, đã thế, lối tuyên truyền của CS Mác Lê rất triệt để, cho đến hôm nay, TV vẫn ngày đêm hâm nóng hận thù, từ Củ Chi, đến Vũng Rô, bom Mỹ, Mỹ Lai, Da Cam... tưởng như mặt trận vẫn còn đang nóng như thời 50-60 năm trước. Nếu tính từ 1945 đến giờ, đã 80 năm dân tộc triền miên sống trong lằn ranh hận thù, nhìn nhau như Đối Thủ chứ không phải là Đồng bào để thương nhau, để giúp nhau đi lên.
Với tâm thức ấy – nước Việt Câu Tiễn đã tan rã, nước của Chế Bồng Nga đã tiêu tan, bộ tộc Lạc Việt còn lại quả thật không thể có tương lai trường cửu trong một thế giới đang tiến nhanh và tiến vùn vụt theo hướng mới liên hành tinh!
- Việt Nam 200 Năm Chuyển Hóa Đất Nước Và Phân Hóa Dân Tộc Lưu Văn Vịnh Biên khảo
- Từ Bãi Tắm Khỏa Thân Đến Chiêc Giường Của Chu Mạnh Trinh Lưu Văn Vịnh Tham luận
- Âm Thanh Từ Một Bọc Trứng Lưu Văn Vịnh Nhận định
- Nhất Linh người định nghĩa sống và định nghĩa chết Lưu Văn Vịnh Khảo luận
• Việt Nam 200 Năm Chuyển Hóa Đất Nước Và Phân Hóa Dân Tộc (Lưu Văn Vịnh)
• Ngôn Ngữ Và Giải Thoát: Mỹ Học Và Sứ Mệnh Văn Học Phật Giáo (Huệ Đan)
• Văn học miền Nam Trung Bộ – Nhớ lại một thời chín năm... (Trần Huiền Ân)
• Văn Học Hải Ngoại: Giữ Gìn Bản Sắc Và Sức Sống Trong Thời Đại Mới (Uyên Nguyên Trần Triết)
• “Duy Tuệ Thị Nghiệp”: Từ Trí Tuệ Phật Giáo Đến Sự Phát Triển Nền Giáo Dục Nhân Bản (Vạn Đức)
• Mỹ học của hư vỡ: Kintsugi, lấy vàng nối gốm (Nguyên Giác)
• Lịch Sử Đạo Hồi (PHS News)
• Giáo Dục Quốc Gia (1945 - 1975) (Trần Bích San)
• Văn chương đương đại tiếp nhận gì từ văn học miền Nam (Inrasara)
• Năm Dần Nói Chuyện Cọp (Thái Văn Kiểm)![]()
|
© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com) |