|
|
|
|
|
VĂN HỌC |
GIAI THOẠI | TIỂU LUÂN | THƠ | TRUYỆN | THỜI LUẬN | NHÂN VẬT | ÂM NHẠC | HỘI HỌA | KHOA HỌC | GIẢI TRÍ | TIỂU SỬ |
Thơ Văn Trần Y. Hoa & Bằng hữu
Thơ Văn Trần Yên Hoà & Bằng hữu

Hạ Long Bụt Sĩ
Lưu Văn Vịnh
Thời Pháp thuộc, khoảng 1930, lương giáo sư tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm Đông Dương còn cao hơn lương tri huyện. Người Pháp dù là Pháp thực dân vẫn trọng dụng trí thức và đánh giá cao giới có học, vì thế lương giáo sư tới 120 đồng một tháng còn lương tri huyện chỉ có hơn 80 đồng, tất nhiên nhà giáo không có bổng lộc như các quan! Ông bác tôi tốt nghiệp Hậu Bổ ra làm tri huyện, đánh bài thua, có khi tới vay tiền nhà giáo!
Nhưng nhà giáo ngày xưa vẫn còn giữ được truyền thống quân sư phụ của nhà Nho, tận tụy và nghiêm túc trong việc trồng người. Thời ấy ở tuổi 30, có đêm ba tôi thức chấm bài đến sáng, tàn thuốc lá đầy bàn chỉ vừa kịp mặc áo đi thẳng tới lớp học.
Khoa cử nhà Nho tàn lụi dần vào khoảng 1915 trước đó mươi năm Pháp đã bắt đầu mở trường học như trường Bưởi, 1907, mới đầu đào tạo lớp thông ngôn như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, sau mới thành trường trung học 4 năm mãi sau mới đặt ra Tú Tài Bản xứ, bao gồm cả ba ban Văn Chương, Toán, Khoa Học, nghĩa là nặng gấp ba Tú Tài Tây. Trước khi có Tú Tài Bản xứ, muốn học lên Tú Tài hoặc phải đi Tây, hoặc phải vào trường Tây thi Tú Tài Tây. Cụ Nguyễn Hữu Tài, sau này dạy ở trường Bưởi môn Lý Hóa dường như là người Việt Nam miền Bắc đầu tiên đậu Tú Tài Tây bên Pháp.
Nhưng chỉ cần 30 năm chuyển tiếp, trí óc sẵn có của nhà Nho, dù là lúc này ông đồ ông cống đã nằm co một xó như Tú Xương, như Tản Đà..., trí tuệ của các ông Trạng, ông Nghè... vẫn luân lưu di truyền trong đám con cháu, để lại bùng nở lên một lớp trí thức Tây học đợt đầu 1925 - 35, lớp này còn dấu tích rất nhiều của ông bà chú bác nhà Nho, đa số còn đọc được chữ Nho hay ít ra vẫn giữ nền nếp, không khí gia tộc, làng xóm cũ... Năm ba tôi và các chú bác trong họ hàng vào Bưởi khoảng một ngàn chín trăm mười mấy, còn có các cụ đồ vào dạy Việt Văn như cụ Phó bảng Nguyễn Can Mộng, mỗi lần tới giờ tiếng Việt cụ đóng hết cửa đảng lại “không cho Tây nghe, trong này thầy trò mình nói tiếng mẹ đẻ, các cậu muốn nói gì thì nói! ”. Tiết tháo của các cụ đồ chính là ngọn lửa truyền lại cho thế hệ Nguyễn Thái Học, một thế hệ chưa Tây hóa nhiều như thế hệ Tây học về sau, thế hệ gần 1940...
Tốt nghiệp trường Bưởi ra, ban Sư Phạm, ba tôi đi làm Đốc học tỉnh Quảng Yên, dưới quyền Tuần phủ Hoàng Huân Trung (cử nhân Nho học sau làm hội trưởng Khai Trí Tiến Đức) giống như Trưởng Ty Học Chính thời mới. Đầu thế kỷ XX người Pháp muốn đào luyện một lớp giáo sư trung cấp cho chương trình mới nên ngay bên y khoa cũng chỉ đào tạo Y sĩ Đông Dương (médecin indochinois) hầu đáp ứng nhu cầu thực tế. Cụ Nguyễn Xuân Chữ, bạn thân của ba tôi ở Bưởi, học theo chương trình này, cụ ghét Tây tới độ có lần ở bệnh viện quan ba y sĩ Tây bắt tay, có vẻ hỗn xược, cụ cầm tay ông quan ba đặt vào mông đít! Có đêm ba tôi đang nằm ngủ ở tỉnh Quảng Yên, cụ Chữ bất thần đến kéo hết chăn đệm ra rồi nói “anh còn trẻ cần gì nằm đệm, cho tôi mượn”, về sau mới biết cụ lấy về cho cụ Ngô Đức Kế (?) nằm. Lúc này các cụ hoạt động cách mạng bí mật, cụ Kế chắc đến gặp cụ Chữ để bàn bạc. Chuyện này vào khoảng đầu thập niên 1920. Sau dăm năm, 1925 ba tôi trở về Hà Nội thi vào Cao Đẳng Sư Phạm ban Văn chương, lúc này khóa I đã có cụ Dương Quảng Hàm, cụ Nguyễn Gia Tường tốt nghiệp. Cụ Dương Quảng Hàm lúc nào cũng “quân tử chính đạo”, đi giữa đường mặc cho xe cộ tránh! Khóa II có cụ Trần Văn Hương tác giả bài thơ nổi tiếng “ngồi buồn gãi háng”.
Trường Cao Đẳng Đông Dương mở ra vào khoảng đầu thập niên 1920, trước đó ít lâu đã mở trường thuốc đào tạo Y sĩ Đông dương, Thú Y, Dược... Năm vào Cao Đẳng, 1925, bốn sinh viên chia một phòng nội trú: ba tôi, Lưu Văn Minh, cụ Vũ Ngô Xán cùng lớp Sư Phạm, một sinh viên Cao Miên và Nguyễn Thái Học. Lúc này Nguyễn Thái Học theo ban Canh Nông, tính ít nói, không hề thổ lộ chuyện đảng phái cách mạng, ông có tướng ngủ nằm sấp, dáng dấp hơi quê mùa, mang theo một chiếc hòm đựng quần áo vật dụng, loại hòm của lính, sơn màu đen.
Thời ấy Nam Phong tạp chí, Đông Dương tạp chí... bắt đầu xiển dương văn hóa Đông, Tây, dường như cụ Nguyễn Văn Vĩnh có báo Pháp ngữ viết không xuể phải nhờ sinh viên Sư Phạm trợ bút viết thêm. Cụ Vĩnh có văn tài đã đành lại còn thêm tài nói tiếng Tây, cụ đứng đằng sau bình phong nói tiếng Pháp, người đứng ngoài không thấy mặt tưởng Tây nói chuyện. Cụ Vĩnh chủ trương “có thực mới vực được đạo” nên ngoài việc làm báo viết văn, cụ còn kinh doanh, sang tận Lào tìm mỏ vàng...
Hà Nội thời 1920 - 30 phục hồi thành thủ đô văn hóa sau cả trăm năm trung tâm đất nước chuyển vào Huế với triều Nguyễn. Người Pháp rất tinh tế, đến Việt Nam họ biết ngay Hà Nội mới là cái nôi văn hóa toàn quốc nên đặt ngay Phủ Toàn quyền ở đấy và mở trường Đại Học đầu tiên ở ven sông Hồng, không cách xa Văn Miếu, có lẽ trên nền cũ của phủ Chúa Trịnh không chừng. Giới nhà văn nhà báo còn ít ỏi, số sinh viên cũng chỉ ở con số vài trăm nên thường quen biết lẫn nhau. Các sinh viên Cao Đẳng là lớp trí thức hàng đầu thay thế ông Tiến ông Cử cổ xưa, là lớp đại khoa được xã hội kính trọng phi Cao Đẳng bất thành phu phụ. Đằng sau thấp thoáng kỳ vọng của thế hệ nhà Nho tiền bối, đặt hết tin yêu vào đám con trẻ dựng lại cơ đồ văn hóa quốc gia trong thời mới. Bạn học của ba tôi đều giỏi chữ Nho như cụ Hoàng Khôi, cụ Nghiêm Toản..., ngay cụ Phan Thế Roanh, Cao Đẳng Sư Phạm ban Khoa học, sau này lập ra Thanh Hoa Thư Xã ở Hà Nội, tới thời 1953-54 còn xuất bản tập Bút Hoa của thân phụ là nhà Nho Phan Mạnh Danh với những nét họa hiếm có của thế hệ cổ học. Cụ Nguyễn Văn Tố đàn anh của các sinh viên Cao Đẳng thời đó vẫn mặc áo the đen đi quốc làm việc ở thư viện Viễn Đông Bác Cổ. Có lần một cô đầm từ Tây sang nghiên cứu về văn hóa cổ Việt Nam tưởng cụ là thư ký nên sai cụ đi lấy sách vở tài liệu, cụ Tố thản nhiên đi lấy hết sách này đến sách kia cho cô ta, suốt mấy tuần lễ như vậy, sau cùng nhà thâm Nho mới lên tiếng bằng Pháp ngữ hỏi xem cô còn thắc mắc về những điểm gì, nghe xong, cụ Tố bảo cô ta lấy giấy ra chép, rồi cụ ngồi đọc một mạch bài tóm lược cả một chồng sách biên khảo, trước sự kinh ngạc thán phục của cô nữ học giả từ Paris sang! Sau này, tuy chẳng bao giờ biết mặt cụ Tố nhưng được học Toán giáo sư Nguyễn Tá là con cụ Tố, tôi vẫn thấy toát ra phong thái nghiêm túc thông minh của nhà Nho.
Các sinh viên sau khi tốt nghiệp Cao Đẳng không còn vinh quy bái tổ như thuở nào, nhưng ngay vào khoảng 1940, có làng ở Hà Nam còn rước kiệu một ông Cử nhân Luật đầu tiên của làng. Tại Hà Nội thì các đại gia, hoặc các giới chức, chia nhau mời tân khoa về nhà đãi tiệc. Ba tôi ra trường khóa III (1928), cùng khóa với Hoàng Ngọc Phách, Đặng Thái Mai, Tôn Quang Phiệt, Nghiêm Toản, Nguyễn Ngọc Cư (đậu thứ nhì, sau thành thông gia), Tăng Xuân An và bà Nguyễn thị Hợp (sau thành bà An), bà Thục Viên, Vũ Tam Tập (Nam Định), Ưng Quả (Huế, thủ khoa), ... được thi sĩ Tản Đà mời ăn mãn khóa.
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu hơn đám sinh viên thời đó khoảng 20 tuổi. Chiều hôm ấy ba tôi đến ăn với Tản Đà trên một sân thượng ở phố Hàng Bông, ông ngồi ngâm thơ uống rượu suốt một buổi chiều, ngắm hoàng hôn xuống trên hồ Gươm, nhìn trăng lên lóng lánh lung linh giữa hàng cây phượng vĩ đang mùa hoa đỏ, và có thể thêm cả tiếng ve sầu của mùa hè Hà Thành... mãi tới gần 10 giờ đêm, cả hai chủ khách đã đói, Tản Đà mới bắt đầu cho nhà bếp dọn món ăn lên đãi tân khoa: một đĩa đậu phụ rán vừa nóng chấm tương Bần! Gần 70 năm sau bữa tiệc đậu phụ rán ấy, tôi về thăm Hà Nội, đi đi lại lại khu phố Hàng Bông, cố nhìn xem nhà nào có sân thượng không, những mong tìm lại dư ảnh Tản Đà và chút âm vang một thời dĩ vãng.
Trong giới giáo sư Pháp sang dạy, tôi thấy các cụ khi họp nhau thường hay ca tụng hai ông: ông Brachet dạy Toán và ông Meillon dạy văn chương Pháp. Các cụ thú vị kể lại chuyện Giáo sư Nguyễn Viết An (Cao Đẳng Sư Phạm ban Khoa học khóa đàn em) rất giỏi Toán đã dám cãi nhau với Thạc sĩ Toán học Brachet khi vào lớp thanh tra. Thạc sĩ Meillon dạy Văn học sử Pháp thấy sinh viên dùng cuốn Histoire de la littérature francaise (Văn Học Sử Pháp) của Des Granges, ông mỉm cười nói, “khóa ấy tôi đậu đầu Thạc sĩ, Des Granges đỗ hạng ba, các anh cứ nghe tôi giảng là đủ!”, ông đọc kỹ chuyện Kiều và tán thưởng “các anh đã có một nền văn minh rất vi tế" (vous avez une civilisation très raffinée), ông là loại trí thức của nền văn hóa xây dựng trên tinh thần tự do bình đẳng nên rất ghét bọn Pháp thực dân, ông thường nói với sinh viên: “tôi sẽ giải phóng cho các anh, ít nhất một người!”, về sau ông tìm một em bé làm con nuôi rồi đưa về đất Pháp tự do! Có nhiều giáo sư người Pháp chống Thực dân Pháp như Thạc sĩ Meillon: bên Y khoa giáo sư Thạc sĩ Blondel thời 1945 nằm hút với ông bác tôi, Đàm Quang Thiện, khuyên bảo nhóm trí thức trẻ Việt Nam thời đó: “Lúc này mà các anh không nổi lên tống cổ tụi Tây chúng tôi đi, thì còn chờ đến khi nào?” Khi kể lại chuyện đó ông bác tôi chép miệng bàn thêm: “Ấy người mình vẫn cứ ù lì như vậy, phải chờ Tây nó thúc giục mình mới chịu đứng lên đánh nó!”,
Sau 1945, từ Nam chí Bắc, ngành giáo dục học chính đều do các giáo sư tốt nghiệp Cao Đẳng Đông Dương đảm nhiệm và các cụ thân tình với nhau lắm. Ít năm sau ông Diệm và gia đình đánh giá thấp nhân sĩ miền Nam, lại dựa vào khối giáo dân di cư miền Bắc để làm mưa làm gió ở Sài Gòn, nên dường như các bạn miền Nam của ba tôi ít thấy lui tới như hồi đầu, hoặc giả tới tuổi già, trên 50, 60 tuổi, các cụ đều mỏi mệt cả chăng? Sau này cụ Trần Văn Hương (Cao Đẳng khóa II, 1927) lên phó Tổng Thống có ra sắc lệnh nâng cấp các giáo sư Cao Đẳng Đông Dương cũ lên hàng giáo sư Đại Học... kể ra về kinh nghiệm và đức độ sư phạm thì các cụ đều xứng đáng, về kiến thức thì các cụ bị lối giáo dục khoa cử của Tây, tuy chắc chắn nhưng có giới hạn giáo khoa học đường... Sách vở của cụ Dương Quảng Hàm, Nghiêm Toản, Đặng Thai Mai... chỉ dùng ở cấp trung học.
Sau khi ra trường, ba tôi được bổ nhiệm về dạy Pháp văn lớp thi Thành chung trung học Hải Phòng, lấy mẹ tôi, em gái của bạn học ở Bưởi, sống yên ổn ngày ngày đi dạy, suốt 17 - 18 năm (1927 - 1945) tới lúc Mỹ ném bom Nhật, rồi chính biến liên tiếp mới về nằm ở quê vợ, vùng Bái Tư Long bên sông Bạch Đằng Giang. Họ ngoại tôi, Đàm Quang, vốn gốc ở làng Me Kinh Bắc, cùng tổ với các danh Nho như Đàm Thận Huy (người ném nghiên mực vào mặt Mạc Đăng Dung), Đàm Quốc Sư (quốc sư đời Lê Trịnh)..., tới thế kỷ XIII chi trưởng rời xuống ven sông Bạch Đằng, phải chăng vì thời ấy vùng này là đất bản địa của nhà Trần?
Thời gian dạy học là quãng đời yên vui nhất của nhà giáo tiền chiến, lương cao, 120 đồng, thuê một biệt thự cũng chỉ mất mấy đồng, một anh xe, anh bếp... cũng chưa tới một đồng, chỉ có vài hào một tháng. Nếu ông nào chịu “ngoại giao” thi vào ngạch giáo sư Tây (như giáo sư Tăng Xuân An, Phạm Xuân Độ...) thì lương vọt cao lên gấp đôi, tất nhiên không phải dễ vào, phải biết cách lắm mới lọt qua. Tuy có phê bình nhau về việc ấy, nhưng các cụ cho đến hết đời gặp nhau vẫn tay bắt mặt mừng chứ không đố kỵ với nhau bao giờ. Tình bằng hữu của các cụ thời xưa thật quý báu, cho tới hồi di cư vào Nam, tụ tập quanh khu Bàn Cờ, Vườn Chuối, các cụ vẫn thường họp nhau khi tổ tôm, khi đi uống rượu, có cụ còn đi hát cô đầu nữa... Tới tuổi 80-90, vẫn còn tìm nhau: giáo sư Nguyễn Đình Phú gần 90 tuổi ở Đà Lạt về vẫn cố kết xe đạp lại thăm ba tôi, đồng môn, đồng tuế, thời Sài Gòn đã đổi cờ đổi tên.
Không khí cách mạng sôi nổi từ 1930 khi ông bạn cùng phòng nội trú cũ của ba tôi là Nguyễn Thái Học lên đoạn đầu đài! Cô Bắc cô Giang học cùng lớp tiểu học ở Bắc Giang với mẹ và cô, bác tôi, cũng tự tử theo cho trọn nghĩa. Học sinh Hải Phòng thời đó nhiều người đi hướng đạo và hoạt động bí mật. Một học sinh giỏi Pháp văn, viết chính tả (dictée) tiếng Pháp lần nào cũng 19, 20 điểm là Nguyễn Đình Thi, sau này làm thông ngôn cho ông Hồ và có tiếng ở bên kia vĩ tuyến! Ba tôi kể lại anh Thi đi hướng đạo, rất xuất sắc trong lớp.
Năm 1946, phái đoàn ông Hồ đi dự hội nghị Fontainebleau bằng đường thủy qua bến Hải Phòng, các giáo chức phải đi đón, ba tôi còn nhớ, “mắt ông lúc nào cũng lấm lét không nhìn thẳng, khi nói chuyện nước bọt phun ra tung tóe!” Thời gian bất ổn này, suốt từ 1942-46, dân chúng tỉnh thành lũ lượt tản cư về vùng quê để tránh bom đạn, cho tới khi chiến tranh bùng nổ khoảng cuối 1946 ba tôi mới về hẳn quê ngoại, nằm dài đọc sách, học xem số Tử Vi, đi xuống đầm xem vớt cá... còn sáu anh chị em tôi thì đã theo mẹ về làng từ năm 1942 khi tôi mới lọt lòng được một tuần để tránh bom Mỹ thả xuống quân Nhật. Lúc này hai phe Quốc Cộng sát phạt nhau ở Hà Nội nên bác tôi, Đàm Quang Thiện, thuộc loại cách mạng tài tử (dân biểu phe Đồng Minh Hội), cũng về quê ẩn náu. Có lần nằm hút với Xuân Thủy (phe Cộng), bác tôi nói đùa: “Sao các toa không ám sát moa?”, Xuân Thủy cười trả lời: “Ám sát ai chứ ám sát toa thì chỉ mang tiếng cho tụi moa chứ có ích lợi gì!”. Khi kể lại giai thoại này ông bác tôi bàn thêm, “Cộng Sản họ thực tế lắm, người nào nguy hiểm họ mới hạ, tài tử như bác thì họ không thèm ám sát!”. Hồi học ở trường Bưởi bác tôi thuộc loại thần đồng, tới giờ Triết giáo sư Pháp cho ngồi riêng muốn làm gì thì làm, không phải ngồi học như các học sinh khác. Ông có trí nhớ cực kỳ tốt, có thể đọc thuộc lòng cả ngàn bài thơ Đường (mặc dù không chuyên chữ Nho), nhớ như in cả tập sách Y khoa, nói thứ tự từng câu thơ Kiều và đam mê truyện Kiều... mãi tới khi nghe bác tôi diễn thuyết về Kiều, năm 1957, mới vỡ lẽ là câu “hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình” là tiểu đối nên chữ gây là mùi gây gây (tĩnh tự) đối với chữ khan giọng (tĩnh tự) chứ gây không phải là gây nên! Đang học Y khoa năm chót thì ông bỏ đi Hồng Kông làm đạo diễn kiêm diễn viên cuốn phim đầu tiên của Việt Nam: Cánh Đồng Ma, cùng với Nguyễn Tuân. Nhưng người bác lớn hơn, Đàm Quang Hậu, lại là người được họ hàng xa gần kính mến hơn cả, cụ từ quan vào thời 1940 sau khi để lại tiếng thơm không tơ hào một đồng của dân đen trong chức vụ quan tòa, và cả đời, cho đến năm 1998 mất ở Minnesota, chỉ cặm cụi nghiên cứu sách vở, từ dịch thơ Đường tới phân tích phẩm chất hí kịch trong truyện Kiều, từ ngôn ngữ Việt tới Anh Pháp ngữ. Tập sách độc nhất Danh Từ chuyên khoa trong Việt ngữ do Đại Học Huế xuất bản khoảng thập niên 60 có nhiều ý kiến độc đáo: nên dùng chữ đường tia (tia như tia sáng, từ trung tâm phát ra) thay vì bán kính vì Tàu có chữ đường kính nhưng một nửa đường kính thì không có nên mới phải dùng chữ bán kính. Cụ còn soạn thảo một tập sách dạy học chữ Nho 1500 chữ nghe nói phương pháp còn hay hơn của Wieger! Tiết tháo quân tử nhà Nho (dù xuất thân Tây học) mà cổ nhân thường ca tụng, tôi thấy rõ ở bác tôi, cả ngày và cả đời chỉ nói chuyện văn chương học hành chứ không màng bất cứ chuyện gì khác!
Khi người Pháp trở lại Đông Dương năm 1947, miền duyên hải, Hải Phòng, Hòn Gai..., là điểm chiến lược và tiện cho tàu chiến Pháp đổ bộ và xuất phát loang ra. Ba tôi đang nằm trong làng thì mấy ông bạn trường Bưởi cũ, Trương Đình Chi, Đặng Hữu Chí... lại kéo ra làm Hội Đồng An Dân phụ trách tỉnh Quảng Yên... Nể bạn mà đi vào việc hành chính chẳng những trái tay mà còn mang họa vào thân: năm 1949 khi họ Mao chiếm xong lục địa, Việt Minh có hậu phương lớn, có đất tập trận, nên thử ra quân đánh vào Quảng Yên! Ít tháng trước, ông bác tôi từng làm Bố Chánh ở mạn ngược biết đổi chút tiếng Quảng, nghe đài phát thanh Tàu biết tin Cộng Sản thắng bên Hoa Lục đã tỏ vẻ lo lắng, tôi nhớ các cụ thì thào bàn chuyện quanh chiếc máy radio Philips độc nhất của toàn tỉnh, to bằng cái thùng gỗ.
Đa số các tỉnh miền Bắc dân chúng đứng về phía truyền thống dân tộc, bắt đầu với Đề Thám rồi Nguyễn Thái Học, sau này đám quần chúng bình dân bị cuốn hút vào guồng máy tuyên truyền tinh vi của Việt Minh Cộng Sản nên ngả theo Việt Minh. Mẹ tôi cúng một chiếc nhẫn cho Tuần Lễ Vàng, bà con tập ca múa nhất là múa kiếm gỗ, tối lên đình làng xem diễn kịch: một anh mập mạp béo tốt đóng vai Tây, một anh gầy còm đóng vai người dân đen, khi anh Tây béo tốt bị vật ngã cả đình làng vỗ tay không ngớt, đặc biệt tôi nhớ có cả người nhấc đôi guốc gỗ đập vào nhau mà hoan hô. Có hôm Việt Minh tổ chức buổi lễ trên đình treo cờ đỏ sao vàng, một cán bộ từ tỉnh về cầm khẩu súng bắn chỉ thiên “đoành” một phát, cả làng đều nể phục khép nép! Ai muốn xem hình ông Hồ (lúc đó mới có 54 tuổi, nhưng để râu dài giống râu Chu Ân Lai hồi Vạn Lý Trường Chinh) phải xếp hàng ra tỉnh, cả tỉnh chỉ có một bức hình mới quý, nhiều quá hóa nhàm... Đại khái phép tuyên truyền chinh phục quần chúng của Cộng Sản có phương pháp như vậy. Trong làng những nhà gốc trí thức, loại cao, đều theo Quốc Dân Đảng, Đại Việt, nhưng những ông hương sư, anh mõ và những thành phần thấp kém mang mặc cảm làng mạc “khinh”... đều bị Việt Minh thu hút, phong cho những chức vụ nghe rất kêu như "tổ trưởng”, "trưởng ban"... nắm được số đông bình dân, có khi cả bọn đầu đường xó chợ, mới có người kháng chiến, trí thức tài tử không ai nghe ai, người nào cũng muốn làm ông tướng, nên không thành đại cuộc được! Thời 1945 dân trí còn thấp, bá đạo dễ thành công là phải! Việt Minh học được khoa vận động quần chúng của Nga, Tàu, nên cả trẻ con lên 3, 4 tuổi như tôi hồi đó cũng phải vào đoàn Thiếu nhi, theo các anh chị 10, 11 tuổi từ làng ra tỉnh hát bài “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng”, lại có người tin là mắt Bác có điện! Những chuyện này, nửa thế kỷ sau nằm ở xa nghĩ lại, mới thấy ở các nước chậm tiến nhược tiểu, người ta dễ ăn bánh vẽ vì không có bánh thật! Nhân chi sơ có lẽ tính bản ác nên gây sân hận, cực đại hóa oán hờn dễ thành công hơn là kêu gọi lòng thiện! Vả lại thời ấy cả nước hăng hái đánh Tây nên chẳng ai nghĩ tới chuyện phân biệt đảng này đảng kia nữa. Một người anh họ tôi, kể lại “tôi vào Nam kháng chiến, vừa chân ướt chân ráo từ Miền Nam trở ra Hà Nội thì đúng vào ngày biểu tình ở Nhà Hát Lớn, đang đứng lơ ngơ giữa đám đông thì gặp thằng bạn cũ là Chu Bá Phượng, nó cầm một tập truyền đơn bảo mình phát hộ, thế là tôi phát chứ có biết gì đâu! Rồi cũng theo đoàn người đi vào Dinh Khâm Sai.” Một người anh họ khác, Đàm Sĩ Hiến, khi còn sống, thuật rằng hồi sau 1975, bị ngồi tù chung với cụ Vũ Hồng Khanh ở ngoài Bắc, cụ Khanh nhận rằng, “mình thua họ là phải, đảng phái mình chẳng ai chịu học tập, chẳng có kỷ luật gì cả”. Thủ đoạn chính trị thì thời nào cũng có nhưng lừa đảo cả nước, lái cả lòng yêu nước trong sáng của thanh thiếu niên vào ổ sắt thép quốc tế, thì phải ghê gớm lắm mới làm được! Trần Thủ Độ ngày xưa cũng ác, nhưng chỉ ác với họ Lý chứ không ác với dân, đấy là điểm khác biệt căn bản!
Đầu năm 1950 đang học lớp Tư trường tỉnh, ê a bài học thuộc lòng:
Chiều nay trống học vừa tan
Cổng trường mở rộng thả đàn bướm bay
(Thơ Trần Trung Phương)
thì gia đình tôi dọn lên Hà Nội. Ba tôi trở về ngành học chính, làm Trưởng Ty Tiểu Học Hà Nội, rồi sau lên Thanh Tra Trung Tiểu Học Bắc Việt, hàng năm làm Chánh Chủ Khảo kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp, cùng với ông thầy cũ, cụ Nguyễn Hữu Tài, Thanh Tra chuyên về Khoa Học. Giám đốc Học Chính Bắc Việt mới đầu là cụ Đỗ Trí Lễ, sau là Phạm Văn Nam (anh Phạm văn Bính, dòng dõi Hoàng Giáp Phạm Văn Nghị?), cuối cùng, gần 1954 là cụ Phạm Xuân Độ. Ở chức vụ này, ba tôi được dịp đi thăm trường lớp khắp các tỉnh miền Bắc; thường thường đi xuống Nam Định, ở nhà bạn học là giáo sư Vũ Tam Tập, hiệu trưởng Nguyễn Khuyến, sang Bùi Chu Phát Diệm gặp các giáo chức vùng giáo khu. Đức Cha Lê Hữu Từ, người Hà Tĩnh, nhỏ bé, dòng tu áo trắng, từng cãi nhau với Đại tướng De Lattre. Sau khi nghe De Lattre nói người Pháp muốn lập chế độ Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương vì thế giới bây giờ là liên lập (interdépendant) chứ không phải độc lập (indépendant), Cha nhỏ nhẹ hỏi “Đại tướng đã nói xong chưa?” De Lattre trả lời “xong rồi” thì Cha cầm cây gậy đập lên bàn mà mắng De Lattre. Lúc này hiệu trường trường Hồ Ngọc Cẩn là Linh mục Trần Đức Huynh, sau di cư vào Nam vẫn tiếp tục xây dựng trường sở. Trong những năm không an ninh, Đại Chủng Viện Bùi Chu dọn lên Hà Nội, cuốn sách Danh Từ Thần Học và Triết Học soạn năm 1953, là một công trình dịch thuật quan trọng. Lúc ấy có một sĩ quan Pháp từng quen biết ba tôi ở Quảng Yên, đang đóng ở trường Bưởi cũ, mang cả trăm cuốn sách lấy ở thư viện Bưởi và Albert Sarraut thời 47-48, mang trao lại tận nhà, để chật cả gian gác, đa số là tiểu thuyết văn học Pháp. Người Pháp tính tình vui vẻ và giữ tình bạn, khác hẳn dân Anh, Mỹ... lạnh và không dây dưa tình nghĩa.
Tôi vào lớp Tư giữa niên học 1949-50 ở trường Tiểu học Nguyễn Du, tục danh là trường Hàng Vôi, ngay gần Hồ Gươm. Hiệu trưởng là Thầy Mai Đình Niên cùng lứa tuổi ba tôi, thỉnh thoảng buổi tối thầy ghé lại nhà ở Hàng Tre thăm hỏi và mỗi lần bác tôi ở Quảng Yên lên các cụ lại gặp nhau trong tình đồng chí thời Xứ Nhu nói chuyện to nhỏ cả buổi. Căn nhà thuê trước cửa Tòa Án Hàng Tre chủ nhà là họ Trịnh ở Cự Đà, sát vách là vợ chồng ông Nguyễn Đình Thuần, sau vào Nam làm tới Tổng Trưởng. Lúc này các ông Thuần, cùng nhóm của Trần Trung Dung, Nghiêm Xuân Thiện... đang làm báo và còn ở lứa tuổi đầy nhiệt huyết. Chung quanh khu phố bắt đầu xuất hiện chọn kẽ các nhà lao động dân nghèo từ các tỉnh, các làng, ra Hà Nội buôn thúng bán mẹt... họ là mồi ngon của tổ chức Việt Minh Cộng Sản. Chính trị cách mạng như cán cân xã hội nặng về bên nào thì bên ấy thắng! Ở Âu Mỹ tiền bạc nặng quá nên nghiêng về tư hữu, các nước Trung Đông, Hồi giáo, Ấn Độ Giáo, Phật Nguyên thủy, tôn giáo bao trùm nên Cộng Sản vào không lọt, ở Nhật Bản tinh thần dân tộc quá vững nên Nga Tàu không mang ý thức hệ hời hợt viển vông ra mà lòe được! Ở những nước nhược tiểu Á Phi, trí thức sĩ phu chỉ là thiểu số, lại không tiền, không quân, nên khó mà đứng giữa hai thế lực quốc tế Tư Bản-Cộng Sản, một thế lực khác là tôn giáo ta cũng không có nốt vì thế đại cuộc nhân nghĩa chỉ là giấc mơ!
Hà Nội năm 1950 còn đầy tàn tích của những ngày kháng chiến đánh Tây, vách tường đục lỗ xuyên ốc chiến, nhà cửa đổ nát chưa xây cất lại... nhưng chỉ mấy năm sau, 1952-53, lại nhộn nhịp buôn bán tấp nập Hàng Ngang Hàng Đào..., đèn néon thay đèn bóng, Chợ Phiên ngày Tết hoa đào rực rỡ quanh Hồ Gươm, trai gái thanh lịch vui Xuân tưởng như thời thịnh trị đang trở lại trên quê hương... Một người học trò cũ của Ba tôi dựng vở kịch Mưu Cụ Chủ Nhà ở Nhà Hát Lớn tới tặng vé cho cả nhà đi xem, trong buổi trình diễn này lần đầu tiên bài Sơn Nữ Ca được ra hát lên ở Hà Nội. Phim Kiếp Hoa của Kim Chung mở đầu một giai đoạn điện ảnh mới, vở kịch Lôi Vũ sôi nổi khắp Hà Thành... Tạp chí Thế Kỷ của Triều Đẩu, Phổ Thông của giới Luật... trong nhà đầy sách báo biểu mà tác giả đa số thuộc nhà giáo. Hầu hết sách giáo khoa dùng trong lớp học đều do các giáo sư Sư phạm viết, từ Sử Địa của Tăng Xuân An đến Điện học của Phan Thế Roanh, từ Văn Học Sử của Dương Quảng Hàm tới Tâm Lý Học Giản Yếu của Phạm Xuân Độ... Có thể nói các giáo sư Sư Phạm Đông Dương là lớp người xây dựng nên nền giáo dục Việt sau thời Pháp thuộc. Dường như thời ấy giữa vùng Kháng Chiến và vùng nội thành thơ ca vẫn qua lại không ai cấm cản, năm học lớp Nhất học sinh vẫn hát nhạc Phạm Đình Chương, Phạm Duy, Văn Cao... từ vùng kháng chiến lan ra như bài Hò Leo Rừng, Nhạc Tuổi Xanh, Bao Chiến sĩ Anh hùng, Nhớ Người Thương binh... Những ngày Đông gió bấc, mấy bố con dẫn nhau lên Hàng Buồm, ngõ Phúc Châu ăn mì, ra Cầu Gỗ ăn phở Đông Mỹ, lên Chả Cá Lã Vọng quây quần bên bếp than hồng xèo xèo hành mỡ, mà ngày nay có trở về cũng không thể nào tìm lại được không khí cũ.
Dù tạo loạn khoa cử vẫn được xã hội coi trọng, mỗi kỳ thi dù Tiểu học hay Trung học đều diễn ra nghiêm chỉnh. Học sinh thi đỗ Trung học Đệ Nhất Cấp được đăng tên trên báo Tia Sáng, có kỳ thi Tú Tài Tây ban Toán chỉ có 9 người đậu. Cụ Hoàng Cơ Nghị chuyên làm Chánh Chủ Khảo kỳ thi Tú Tài Việt là vị giáo sư rất nghiêm khắc, cụ thường không chịu hạ điểm thi trung bình vì như cụ nói, “Mình vớt thí sinh đời bố, đời sau bố lại vớt con... Mấy đời bố con đỗ vớt thì bằng cấp còn giá trị gì nữa!” Mùa hè nào khoảng tháng 6 khi ve sầu bắt đầu kêu trong hàng cây phượng đỏ cũng thấy các cụ ngồi rọc phách (giấy thi phần trên thí sinh ghi tên tuổi, phần dưới viết bài, khi chấm bài giáo sư giữ phần dưới có ghi số cùng với phần trên, hai phần tách riêng, khi chấm xong mới theo số ráp lại), đánh số, cộng điểm cả tuần lễ, cả tháng sau mới yết bảng kết quả. Kỳ thi Tiểu học năm 1952 đề luận Việt văn cho học sinh 11, 12 tuổi làm cả Hà Nội bàn tán: “Bình giải câu Ăn Vóc Học Hay”, học sinh hiểu sai đã đành mà người lớn cũng chẳng mấy ai hiểu câu tục ngữ bí hiểm ấy, đa số cho là ăn gấm vóc giàu có... mà ít người biết vóc đấy là sức vóc! Năm sau tôi thi đề luận dễ hơn: “Bàn về việc nên dùng hàng nội hóa”. Giáo dục nước ta xưa nay vẫn chịu ảnh hưởng của Tàu và Tây, cả hai nền văn hóa đều cao và trừu tượng, chẳng đếm xỉa gì đến thực tế tâm lý của niên thiếu nhi đồng, nên học sinh được rèn luyện để trở thành những ông cụ non mà óc trừu tượng thì chưa phát triển... Những bài toán đố về động tử, phân số, về hai vòi nước chảy, vận tốc hai tay đua xe đạp... làm vỡ đầu trẻ con trên dưới 10 tuổi! Đến như chương trình Trung học của Hoàng Xuân Hãn, Phan Huy Quát... đều dập khuôn chương trình Tây, nặng về Toán, ban Tú Tài học Triết Tây, Tâm Lý Học Tây phương mà không thấy học gì về tư tưởng văn hóa Đông phương như Phật, Khổng, Lão. Chương trình Trung học Hoa Kỳ không có môn Triết học là phải, Triết Tây phương dễ làm nặng đầu thanh niên, đưa tới tình trạng tẩu hỏa nhập ma hay đúng hơn là vướng vào nhị biên tranh cãi gây sự vô chừng mà nhà Phật gọi chung là "điên đảo tưởng”. Chưa biết rõ vật là gì mà đã đỏ mặt tía tai vì duy vật, chưa rõ tâm là gì mà đã thâm gan tím ruột vì duy tâm, thì thiết tưởng ta với Tàu, đều hết sức dại dột đi theo lối tư duy viển vông của Tây và Do Thái để rồi huynh đệ tương tàn hai ba thế hệ chỉ vì một chữ duy! Học sinh Trung học mài miệt giải Toán Điện “Ôm, Run, Phờ Ra Đấy” (lời nói đùa của thi sĩ Nguyên Sa khi dạy Triết, về ba định luật điện học Ohm, Joule, Faraday), nhưng nhìn cái bàn là không biết điện trở ở đâu, quạt máy quay ra sao, radio phát thế nào... cho đến cái cầu chì cũng không thấy ông thầy nào chỉ dạy, học như thế thì gọi là khoa học mà vẫn là trừu tượng, bỏ mất cả phần kỹ thuật thực hành. Ngay ban Văn Chương cũng phải học Lượng Giác Học mà cả đời, 40 năm sau, vẫn chưa bao giờ dùng tới sin, cos!
Văn minh loài người hơn kém nhau là do khả năng kỹ thuật, khi từ chương choán hết đầu óc kẻ sĩ thì lãnh vực kỹ thuật, chế tạo vật dụng... bị bỏ lửng khiến cả ngàn năm vẫn cứ con trâu kéo cày, tuy pháo thăng thiên là cha đẻ của hỏa tiễn, nhưng bây giờ thì pháo thăng thiên và trống đồng đã bị vượt qua rồi! Ngay ở Mỹ, thời thi đua võ khí 1950-60, tri hành đều cao mà cũng vẫn phải nhờ tới nhóm kỹ thuật gia Đức Von Braun mới chế được hỏa tiễn bay lên mặt trăng. Tàu và Tây lại mắc bệnh bằng cấp khoa danh, bên ta từ đời Lê (thế kỷ 15) tạo bia đá bảng vàng vinh quy nên kẻ sĩ dùng hết sức lực chất xám vào thi cử, tới lúc đạt được bằng và danh rồi thì hết cả nhuệ khí, sức sáng tạo bị giảm đi rất nhiều. Ảnh hưởng Tây lại quá mạnh nên học giới tôn sùng bằng cấp Thạc sĩ, Tiến sĩ, và các trường Pháp như Sư Phạm, Cầu Cống... Mãi tới thập niên 60-70 mới bắt đầu ảnh hưởng học trình Mỹ, nhờ số sinh viên gửi đi huấn luyện qua chương trình Colombo, Usaid, Unesco trở về nước... Khoảng 1970, Hoa Kỳ xây dựng hẳn một trường Y Nha khoa tân tiến ở Sài Gòn và phải có một cuộc “đảo chính” mới hạ được các cụ bình vôi đeo nặng ảnh hưởng Pháp. Từ năm 1959, LM Trần Văn Hiến Minh dạy Triết ở Chu Văn An đã tâm sự với học sinh: “nhà Đạo chúng tôi biết chứ, cả thế giới, chung quanh Việt Nam như Tân Gia Ba, Hương Cảng, Phi..., nước nào cũng dùng Anh ngữ chứ có ai dùng Pháp ngữ đâu!”
Nhớ lại năm học chót ở Hà Nội, 1953-54 lớp Đệ Thất Nguyễn Trãi, giờ Hán Văn còn có cụ Tú Kế vào dạy nhưng học trò chẳng ai học, lớp học ồn ào như cái chợ, giờ Anh Văn có thầy Sửu luôn luôn ăn mặc sang trọng như một người thượng lưu Anh Cát Lợi, phát âm theo giọng đĩa Assimil... Thỉnh thoảng nhà trường lại cho đi giao đấu bóng bàn với các trường bạn, có lần cả trường cầm cờ xếp hàng lên mãi Cột Cờ đón Quốc Trưởng Bảo Đại: ông đeo kính đen, người cao lớn, mặc quần áo trắng, dầu sao ông cũng là vị Chúa Nguyễn cuối cùng của lịch sử Việt Nam! Hồi 1948-49 sau khi ký hiệp định với Pháp ở Vịnh Hạ Long, ông đi kinh lý vùng duyên hải, ghé lại tỉnh Hải Phòng và đòi ăn mắm tôm chua! Giá ông được như cỡ Norodom Sihanouk thì lịch sử Việt Nam có thể sẽ khác hẳn!
Thế rồi năm 1954 đất nước chia đôi giống số phận Hàn quốc, Đức quốc... Số người trí thức kéo nhau vào Nam rất đông, trong 800.000 người phải tới vài chục vạn là trí thức, ở thời 1950 đi như vậy là trí thức vắng quang cả Hà Nội và các tỉnh. Số giáo sư bạn học của ba tôi ở lại như cụ Trinh, cụ Khánh (trường Nguyễn Trãi), cụ Bảng, cụ Phượng... đều là những người vì gia cảnh và vì quyến luyến nơi chôn nhau cắt rốn nên tự dối lòng “kháng chiến thành công thì sao lại đi”, mặc dầu lúc ấy, khoảng 1951-53, bạn cùng lớp của ba tôi ở vùng kháng chiến trở về Hà Nội như giáo sư Cư, giáo sư Bảng... đã biết rõ những chuyện đấu tố và trả thù giai cấp, kỵ trí thức... của làn sóng đỏ..., thời 1953-54 tôi còn nhớ các cụ hay rủ nhau lên chợ Đồng Xuân ăn bún chả, chẳng được bao lâu bạn bè cố tri lại phải chia tay kẻ Nam người Bắc. Sau này mới vỡ lẽ là nhóm khuấy động lịch sử Việt Nam khá xa lạ với đẳng cấp sĩ phu chân chính, lòng nhiều sân hận túa ra hai vựa lúa Hồng Hà và Cửu Long để gieo căm phẫn! Nhìn kỹ chính trị là kinh tế, bụng chỉ huy đầu, ý hệ lý tưởng chỉ là cái cớ để ăn người mà thôi. Ngày xưa những Nguyễn Hữu Chỉnh, Lê Hoan, Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải... ngày nay Xô Viết Nga Hoa tuy khác thời gian mà vẫn cùng một sức đẩy “không công danh thì nát với cỏ cây”, danh thơm hay không cũng đoạt lấy vì cái danh mang tới lợi lộc! Đó là thực tế cách mạng lồng trong bộ áo yêu tinh yêu nước.
Gia đình tôi vào Sài Gòn tháng 8 năm 1954. Lúc qua cầu Long Biên sang phi trường Gia Lâm, tôi thấy mọi người trên xe bus mắt đều ứa lệ, xúc cảm tự nhiên của con người khi xa quê hương cũng như con nghé lìa đàn mà cảnh xẻ nghé tan đàn này còn xảy ra nhiều lần suốt cả thế kỷ XX! Mới đầu gia đình tôi ở nhờ nhà ông bác tài tử Đàm Quang Thiện đã vào Nam từ năm 51-52. Khi ấy, ông bác tôi có liên hệ với Bảy Viễn, căn nhà rộng lại ngăn ra một góc cho gia đình nhà văn Tchya Đái Đức Tuấn cũng vào Nam trước 1954, và có lẽ các cụ liên hệ với Bảy Viễn cũng vì nhóm Lương Sơn Bạc này cung cấp thỏa thuê ả phù dung từ Lào đem về.
Ba tôi đại diện Sở Học Chính Bắc Việt phụ trách trường sở giáo chức di cư, đặt trụ sở tạm ở trường Gia Long mà bà Hiệu Trưởng vốn cũng là bạn đồng môn Sư phạm. Tôi nhớ mãi cái Tết đầu tiên nóng nực ở miền đất mới, quạt máy vù vù, ăn dưa đỏ, các giáo chức di cư đến chúc Tết, ngồi chật căn phòng bé nhỏ, các cụ ngồi nói chuyện với nhau gần cả buổi, thì ra nơi đất khách quê người thế hệ các cụ cũng cần tìm tới nhau cho vơi sầu xa xứ chẳng khác gì thế hệ con cháu ra hải ngoại mấy chục năm sau! Ba tôi gặp lại người học trò tiểu học thân tình cũ là Trần Thúc Linh, nay là quan tòa. Ông Linh đến nhà thăm viếng luôn luôn, lại còn kéo theo ông bạn Nguyễn Hiến Lê tới, giúp thầy học mua được căn nhà nhỏ ở khu Vườn Chuối. Khoảng 1950, khi ba tôi làm Tỉnh trưởng Quảng Yên, thì gia đình ông Linh có lẽ từ vùng kháng chiến dinh về Nha Trang, thầy trò liên lạc thư từ và ba tôi có gửi gắm giúp đỡ..., chuyện này ông Linh cứ nhắc mãi. Suốt từ 1954 tới 1975 và sau này, Tết nào ba tôi cũng có hai người học trò cũ, từ tiểu học Quảng Yên, là Trần Thúc Linh và Lê văn Trọng (em bác sĩ Lê Văn Khải) tới chúc Tết sáng ngày mùng Một, thêm một ông nữa là Giáo sư Nguyễn Ngọc Quỳnh, tuy không phải là học trò cũ, nhưng vì ba tôi là bạn thân của thân phụ đã khuất của ông, cũng như thân phụ ông Linh là một nhà Nho, khi mất lại gửi gắm ông Linh, mới mươi tuổi, cho thầy học trông nom giúp đỡ, ân nghĩa thầy trò sâu đậm từ đó. Mà chính Ba tôi, đậu đầu Tiểu học Phú thọ 1914-15, cũng nhờ Thầy học cho tiền đi lên Hà Nội thi vào trường Bưởi. Sau này đi dạy học, ba tôi theo gương thầy học, trích lương tháng ra giúp học trò nghèo. Văn hóa cổ truyền thời xưa, tình nghĩa thầy trò, tình bạn, tình đồng môn... đẹp đẽ như thế, bây giờ không còn nữa, thật đáng tiếc.
Sau một năm, 1955, ổn định xong trường sở, tái lập Chu Văn An (vẫn cụ Vũ Ngô Xán, cụ Vũ Đức Thận), Trưng Vương (vẫn bà Tăng Xuân An), Nguyễn Trãi (chỉ có Đệ Nhất Cấp 4 năm, thầy Trần Văn Việt nguyên Hiệu trưởng Ngô Quyền, Hải Phòng), các giáo sư cũ tiếp tục giảng dạy, nhiều sinh viên Đại học Hà Nội vào Nam đa số dạy giờ cho các lớp... Ba tôi cùng cụ Đỗ Trí Lễ, nguyên Giám Đốc Học Chính Bắc Việt thời 49-50, ra Huế đảm nhiệm Học Chính miền Trung. Cụ Lễ, có danh là Lễ Bò vì cụ đậu Cử Nhân Khoa Học bên Pháp từ xa xưa nên quên hết cả chữ nghĩa, cụ gốc Công giáo, nên có thế lực vào thời chính phủ họ Ngô. Ra Huế vài tuần Ba tôi bỏ về, phần vì xa gia đình, phần vì các ông Ngô Đình Cẩn và giáo chức ở Huế cũng không ưa những người mới đến! Từ đấy ba tôi vào làm Giám học trường Kỹ Thuật Cao Thắng, vài năm sau hồi hưu và đi dạy giờ cho các trường Sư Phạm, Chu Văn An...
Thế hệ giáo chức bạn bè của ba tôi dần dần như lá rụng, thầy Cầu, thầy Hoàng Khôi, thầy Trần Văn Việt, cụ Nguyễn Danh Sành lần lượt ra đi... từ những năm 60-70, nhưng bậc thầy già như cụ Nguyễn Hữu Tài thọ cả trăm tuổi mất bên Gia Nã Đại, cụ Nguyễn Gia Tường (Sư Phạm khóa I, Hiệu trưởng Chu Văn An năm 1945) mất ở California, thọ 96 tuổi... Lớp giáo sư trẻ ở Hà Nội cũ như thầy Nguyễn Đức Hiếu năm nay cũng đã 86 tuổi.
Ba tôi hút thuốc lá từ hồi đi học mãi tới 1975 nhân Việt Cộng vào Sài Gòn mới bỏ vì khan hiếm đắt đỏ. Mẹ tôi phần thương con nhớ cháu, phần đau yếu mà bác sĩ thì phải vào tù cả, nên khuất bóng từ năm 1977. Trong những ngày hỗn loạn ở Sài Gòn trước tháng 4 1975, mẹ tôi than thở một câu tuy bình dị nhưng rất đúng: Sao ông Mỹ lại mang con bỏ chợ! Lúc này một số học trò cũ và họ hàng ở miền Bắc vào thăm, nhà giáo thời nào và ở đâu cũng vậy, tuy chẳng làm được việc lương sư hưng quốc như kỳ vọng của cổ nhân, nhưng cũng giữ được chút nền nếp văn hóa, tương tự như bờ đê ngăn ngừa nước lụt. Đời sống thanh bạch chẳng có gì để cho người nhưng vẫn là cây tre đứng thẳng cùng lũy tre làng nên ít có ân oán phe phái. Một xã hội có thể vỡ đổ hết nhưng hai cái cột, nhà tu và nhà giáo, mà còn vững thì dân tộc vẫn chưa mất nền tảng. Chế độ mới muốn “thằng Trời ta đặt một bên”, muốn già trẻ lớn bé trên dưới gọi nhau “bình đẳng” là anh là chị, khiến bà bác tôi trong một buổi học tập chính trị ở khu Bàn Cờ tức quá đứng lên giới thiệu “Thưa các đồng chỉ, đây là chị Cụ (chỉ bà ngoại tôi), đây là chị Bà (bà bác tôi), đây là chị Cháu (con gái bác tôi) và đây là chị Chắt (cháu nội)! Nhưng sở dĩ bác tôi dám bạo miệng hơn người vì bà có liên hệ họ hàng với những lãnh tụ cao cấp bên kia! Có người giải thích vụ tắm máu không xảy ra ở miền Nam sau 1975 chính nhờ ở gốc rễ gia tộc, đa số gia đình nào cũng có người bên này bên kia, vả lại mấy ai là thực sự “đỏ”? Nghe nói nhà văn Nguyễn Tuân một lần vào Nam uống ruợu mặt mũi đỏ gay đã dí dỏm “mặt tôi đỏ nhưng bụng tôi không đỏ đâu nhá!”.
Lịch sử nước ta kể cũng lạ lùng, tưởng bức màn sắt đã buông thì khó mà thoát, nào ngờ cả triệu thuyền nhân vượt biên làm chấn động thế giới, trung ương Sô Viết bỗng nhiên có ông Bồ Tát Gorbachev chuyển nghiệp cho mấy trăm triệu người, ông Mao mắc bệnh hoa liễu không chịu thay quần áo lót lăn ra chết... nước Mỹ mắc nợ dân Việt từ mấy đời lại phải mở cửa đón người di tản. Ba tôi năm 1989 gần 90 tuổi thêm một lần ra đi để đoàn tụ với con cháu, tuổi già bệnh tật, tới trại Thái Lan chỉ nằm chứ không ngồi được. Trong trại, một người học trò thuộc thế hệ đầu tiên ở Quảng Yên, gần 80 tuổi, ông giáo Lê Văn Trọng (nguyên Tổng Giám Thị Nguyễn Trãi, Hà Nội) tìm tới thăm, ông ngồi xuống chiếu vấn an thầy, khi đứng lên ông cũng yếu quá không đứng dậy được! Cả hai thầy trò 80, 90 tuổi đều nằm lăn ra chiếu! Cảnh tượng bi hài này nếu kể lại thế hệ mai sau chắc gì đã tin!
Ba tôi sinh năm 1901 tại phố Trường Tiền, Hà Nội, nguyên gốc họ Hoàng ở Phú Thọ, mất năm 1996 trên đất khách quê người. Cuộc đời một nhà giáo bình dị chẳng có gì để viết thành hồi ký như bao nhân vật từng đóng trò trên sân khấu lịch sử. Có chăng là ghi lại vài nét sinh hoạt của một người sống gần trọn thế kỷ 20 trong môi trường sách vở bảng đen phấn trắng. Bình dị tầm thường như vậy mà vẫn không yên thân, mấy lần chạy loạn, mấy phen kinh hoàng, họ hàng bè bạn tứ tán, gần hết đời còn phải bỏ xứ xa quê... Ước mơ nhỏ bé của một người Việt Nam bình thường như ba tôi là sống thanh đạm ngày hai bữa quây quần vợ con cháu chắt, ước mơ tầm thường ấy ở nước ta sao lại khó đạt đến thế?
- Nhà Giáo Xưa Lưu Văn Vịnh Nhận định
- Việt Nam 200 Năm Chuyển Hóa Đất Nước Và Phân Hóa Dân Tộc Lưu Văn Vịnh Biên khảo
- Từ Bãi Tắm Khỏa Thân Đến Chiêc Giường Của Chu Mạnh Trinh Lưu Văn Vịnh Tham luận
- Âm Thanh Từ Một Bọc Trứng Lưu Văn Vịnh Nhận định
- Nhất Linh người định nghĩa sống và định nghĩa chết Lưu Văn Vịnh Khảo luận
• Đọc Hiền Như Bụt của Hạ Long Bụt Sĩ (Đào Văn Bình)
• Việt Sử Bình Nghị’ và thơ văn Lưu Văn Vịnh (Viên Linh)
- Đọc tập thơ “Oang Oang Lòng Chén Rỗng” của Bụt Sĩ Lưu Văn Vịnh (Đào Văn Bình)
• Nhà Giáo Xưa (Lưu Văn Vịnh)
• Việt Nam 200 Năm Chuyển Hóa Đất Nước Và Phân Hóa Dân Tộc (Lưu Văn Vịnh)
• Từ Bãi Tắm Khỏa Thân Đến Chiêc Giường Của Chu Mạnh Trinh (Lưu Văn Vịnh)
• Âm Thanh Từ Một Bọc Trứng (Lưu Văn Vịnh)
• Nhất Linh người định nghĩa sống và định nghĩa chết (Lưu Văn Vịnh)
- Hồ Hữu Tường trong Dòng Đạo Sĩ dân tộc.
• Đời Thủy Thủ 2: Chương 12: Hải Phận Bình Thuận (Vũ Thất)
• Nhà Giáo Xưa (Lưu Văn Vịnh)
• Phát biểu nhận Giải Văn – Giải Văn Việt lần thứ Mười Một (Ái Điểu)
• Vài cảm nghĩ về truyện ngắn của một cây bút mới: Ái Điểu (Trần Doãn Nho)
• Cung Giũ Nguyên, Một Học Giả Tài Hoa (Nguyễn Chính)![]()
Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)
Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng, Quyển Hạ
Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)
Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)
Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)
Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)
Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):
Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)
Sách Xưa (Quán Ven Đường)
Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)
(Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)
Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)
Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)
Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?
(Trùng Dương)
Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)
Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục
Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến
Đặng Tiến
20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975
Nguyễn Văn Lục
Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)
Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)
Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)
Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)
Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)
Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)
Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)
Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)
Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)
Dương Quảng Hàm (Viên Linh)
Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)
Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)
Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)
Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)
Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)
Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)
Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn
Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)
Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)
Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)
Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)
Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)
Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)
Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh
(Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)
Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)
Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn
Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)
Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An
Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)
|
© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com) |