1. Head_
    Võ Đình
    (.0.1933-31.5.2009)
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Những Người Nữ Trong Thơ Trần Yên Hòa (Phan Ni Tấn)

      1-4-2020 | VĂN HỌC

      Những Người Nữ Trong Thơ Trần Yên Hòa

        PHAN NI TẤN
      Share File.php Share File
          

       


            Nhà thơ Trần Yên Hòa

      TRẦN YÊN HÒA hơn năm mươi lăm năm THƠ là tập thơ phản ánh tâm trạng của nhà thơ qua nhiều thể loại thơ khác nhau.


      Từ một cậu học trò xuất thân trong một gia đình văn hóa xứ Quảng, Trần Yên Hòa bắt đầu làm thơ lúc mười hai tuổi. Từ những bước đầu chập chững đến nay, sau hơn năm mươi lăm năm làm thơ, nhà thơ nhìn lại chặng đường dài đã đi: "Cha tôi cũng mê thơ. Ông có làm thơ đường, thơ thất ngôn bát cú và họa thơ (…). Hay mẹ tôi, thường hát ru tôi bằng những câu ca dao thắm đượm mùi vị quê hương, tình yêu trai gái, nên tôi thấm sâu vào lòng những âm thanh ấy, để rồi sau này tôi yêu thơ và làm thơ…".


      Phần tự sự trên đăng trong tập thơ TRẦN YÊN HÒA hơn năm mươi lăm năm THƠ là một phần đời của Trần Yên Hòa được tác giả kể lại bằng thi ca.



          Kệ sách Học Xá, ebook

      Sáng tạo nghệ thuật trong suốt tập thơ dầy 338 trang gồm 123 bài, Trần Yên Hòa đã hình dung được hình tượng, phác họa ra chữ nghĩa vọng âm như một tiếng thở dài. Bài thơ Khúc Tôi mở đầu trang thơ cho tới bài Tạ ở cuối tập, đã là một tiếng thở dài. Nỗi hoài vọng trong suốt Khúc Tôi là hình ảnh quá khứ những người thân từ hồi nào đã không ở cùng tác giả mà… ở đâu đó. Ngữ pháp u trầm nhưng rất sắc qua quan hệ tình cảm ruột rà của tác giả là một thí dụ:

      … Mẹ yêu dấu cũng trở về với đất

      đất thì im lặng tiếng, mịt tăm

      nên lời mẹ đã ngút ngàn phơ phất

      bỏ mình tôi cùng đá cuội, lăn tăn


      Cha thương nhớ cách xa như cổ tích

      mệt nhoài tôi đứng lặng, thư phòng

      nhìn quanh quất đâu dấu hài, tịch mịch?

      dấu hài em lặn mất giữa dòng


      Còn lại chị, còn lại anh, đâu đó

      không thấy ai, hú gọi tôi về

      còn lại con… con còn đang cất vó…

      hồng ân chưa cập bãi sông mê…

      Nhưng thiết nghĩ hình ảnh cố nhân, là đối tượng Em của tác giả mới là tâm ý của bài thơ, có điều cuối cùng cũng xa lắc từ bao giờ:


      Tôi còn lại em, mà em xa lắc

      nên còn lại tôi, chỉ một tôi thôi

      vì em, biển, còn tôi, là cát biển

      lũ dã tràng kia, se, cũng, lở, bồi

      Khúc Tôi, tr. 16


      Đọc trang tự sự của Trần Yên Hòa cho thấy người thơ cô đơn cả ngoài đời lẫn trong thơ, vì chiến tranh, Trần Yên Hòa đã nhận rõ vị trí lính chiến của mình, xông pha ngoài mặt trận. Do dó, bài thơ viết trên ba-lô, trên mặt đá hay bên bờ sông, dốc núi, bìa rừng khẽ bật lên một lời xin nhỏ, dù chỉ một lần thôi:

      Cho tôi được ngủ nhà đêm nay

      cho tôi ngủ nhà đêm nay rồi mai đưa tôi đi đâu cũng được

      bao nhiêu tháng bao nhiêu năm

      tôi sẽ xa thành phố xa mái tóc em xa những đứa con yêu dấu

      hãy cho tôi ngủ nhà đêm nay

      không còn gì để van xin

      sao đẩy tôi đi quá xa như vậy quá xa như vậy

      hở chiến tranh loài người…

      Lời Xin, tr. 20

      Ngoài tình thương gia đình, có thể nói tình yêu đôi lứa trong thơ Trần Yên Hòa là một loạt tình yêu không có màu xanh của bầu trời và biển cả. Đồng ý sức mạnh tinh thần của người thơ tạo ra thơ, nhưng hình ảnh những người tình trong thơ đều như gió bay đi xa lăng lắc, không để lại một vạt áo nào để người thơ rưng rưng đề thơ. Cho nên Em có bàng bạc bay đi, bay về, qua lại từng trang thơ trữ tình, rốt cuộc vẫn là Em… lê thê bào ảnh:

      Em đến thăm anh trong chốc lát

      trời bên ngoài đổ cơn mưa

      mưa rất dầy, mù mịt

      làm sao anh giữ được em


      Chốc lát em trở thành thánh nữ

      ở đâu cũng thấy em ngời sáng

      cả vườn đời anh nở rộ

      những đóa hoa hồng thắm


      Rồi em ra về như gió bay

      Bỗng dưng em xa lắc

      Bỗng dưng em mịt mù như cơn mưa…

      Em Xa Lắc, tr.31

      Ngay cuộc tình thứ nhất vì cơn mưa đã làm cho ủ dột:

      Có lẽ rất xưa - ngày em vào xuân

      đôi má em hồng như trái bồ quân

      đôi mắt em đen như nhung, ướt rượt

      đốt cháy hồn anh cùng nắng sân trường


      Rồi thế rồi thôi lạc mất nhau

      lạc nhau đành đoạn suốt nửa đời

      lạc nhau trong giấc chiêm bao cũ

      biển loạn đời ta, thân nổi trôi…

      Bài Trăm Năm, tr.39

      Mưa miền Trung thường dầm dề. Mưa của nhà thơ Trần Yên Hòa cũng không khác. Từ cuộc tình thứ nhất mưa đành đoạn, mưa dầm dề, lê thê cho tới cuộc tình cuối vẫn mưa không ngớt hột:


      Em về đâu từ bao lâu nay

      Anh xa em như chim xa bầy

      Mưa bay ướt áo em đang mặc

      Đành đoạn rời đi như đám mây

      Mưa Em, tr. 326


      Rón rén lần theo những cuộc tình thơ đẹp mà buồn được miêu tả qua từng trang Rượu Tình Say, Gởi Khổ Lụy Một Đời, Tạ Tình, Xa Người, Phượng Hề, Cô Gái Tam Kỳ Đất Khổ, Nhớ Em Khi Qua Cầu Cỏ May, Tôi Và Em, Tình Quay Lưng, Tình Em Xa Ngái, Bài Tình Cho Diên Khánh, Thà Người Phụ Ta v.v…, người ta cảm thương cho người thơ tội nghiệp ra sức bơi trên sóng tình yêu hầu mong tìm nguồn hạnh phúc khổ đau. Từ bơi ngửa với cuộc tình dịu ngọt vội xấp mặt trên dòng nước lạnh tê. Từ vòng ôm rưng rưng xiết chặt chợt hụt hẫng giữa khung trời hiu hắt. Từ những lời thỏ thẻ của em Hiền, em Thu, qua những tiếng cười rơi xuống của em Hoa, em Phụng, hơn nửa đời nhen nhúm mê vọng bỗng nhiên quay ngoắt đến nỗi người lầm lỡ phải ta thán "hất anh ra phân nửa cuộc đời, mùi tình xưa trở nên đắng nghét".


      Trần Yên Hòa với hơn năm mươi lăm năm ăn nằm cùng thơ đã trở thành một mối lợi cho sự hình thành tập thơ gối đầu. Thế nhưng trong khi mượn thơ để thổ lộ tâm tình, lịch sử tình yêu lại làm chứng cho cơn thất tình rực rỡ của người thơ. Nhưng không phải lần duy nhất người tình bỏ đi mà về sau những Em Uyên, Em Phượng, Em Tam Kỳ, Đà Lạt, Sài Gòn, Tân Định, Mỹ Tho… lần lượt trở thành Em xa lắc như tranh cổ tích, em thiên thu đâu tận cõi ngoài, như Trần Yên Hòa thở than. Rồi em trích tiên, em điệu, em phù thủy cũng là một cái "khổ ách" xô người thơ ra khỏi "mái hiên đời":


      Em, tình ta, mái hiên đời nắng dịu

      sao bỏ đi xa ngút tận trời nào

      Khan Cổ Gọi Tình Về (1), tr. 68


      Em ơi, đã quá xa tay với

      mù mịt người từ độ chiến chinh

      mù mịt nhau nên đành lạc mất

      Khan Cổ Gọi Tình Về (2), tr. 70


      Từ em, bỏ cội bỏ nguồn

      bỏ con sông nước đứng buồn nhìn theo

      nhánh sông chảy miết qua đèo

      anh heo hút đợi, chèo queo một mình

      Khan Cổ Gọi Tình Về (3), tr. 75


      Bị tước mất tình yêu, không thể níu lại chút mảnh vụn của thế thái nhân tình, người thơ cay đắng mà thiệt thà biến những Em xinh tươi, lộng lẫy thành giấy bút trắng tinh khôi, một trang vở mới (Thuở Em Là Nữ Sinh), Thiên nga bé nhỏ (Bài Tình Năm 2000), Mùa vàng rưng hoa cúc (Lãng Mạn Thu), Con chim nhỏ (Thảng thốt tôi)… Thậm chí, biến Sài Gòn thành em; cả con mắt cũng hóa trăng rằm "Mắt em một thuở trời trăng rằm" (Chung Một Nhánh Sông). Lãng mạn thật nhưng cũng thật cảm động với lời Tự Tình Cùng Đất Nước: "Vì Em cùng nghĩa với Mẹ. Cùng nghĩa với Quê Hương, Đất Nước" (tr.63).


      Mà cũng lạ. Giữa nỗi buồn chênh vênh tưởng người thơ không toét nổi miệng cười, người đọc bất ngờ nhận ra câu ví von khá ngộ nghĩnh về mưa. Nhà thơ xứ Quảng ra Huế đụng phải cây mưa mà ngẫu hứng nảy sinh một ý tưởng đầy thi vị, cái thi vị không giống với bất cứ nhà thơ nào. Nhờ sự thành tâm của tác giả khiến đặc tính của câu thơ trong bài Huế Mưa được miêu tả theo kiểu "kích thích tính dục" bỗng trở nên hào hứng, vuốt ve tình tứ mà trong trẻo khác thường:


      tôi nghĩ mùa mưa ở Huế nồng nàn như đêm hợp cẩn

      bởi vì cái lạnh tê da ngoài Huế cho ta cảm giác ái ân.

      Huế Mưa, tr. 23


      Cái cảm giác ái ân của người thơ Quảng Nam đâu có khác chi cái ái ân tái tê cuồng dại:

      Xin ca tụng em bài thơ mới viết

      Giữa ta và say, như một tình cờ

      Ta chếnh choáng em, mùi hương mới

      Là chanh và sả buổi mai tươi


      Em đã xông em. Trong ngày thứ bảy

      Nên em thơm lừng, hương gió bay

      Nên em thơm lừng, mùi da thịt

      Anh cúi xuống vùng em, mùi thơm ngát


      Vùng em thơm rất đượm. Tình Ơi.

      Ru Tình Tôi, tr.188

      Đặc tính trong thi pháp Trần Yên Hòa là ngữ vựng. Bài thơ dài hơi "Nhặt Khoan Cho Ngày Sinh Nhật" gồm 64 câu, đã có 5 lần kêu Huớ, nghe ra thật ồn ào:


      Huớ em tôi, những ngày tình với Nẫu

      Huớ em tôi, hãy bỏ xa tiền kiếp

      Huớ em tôi, mùa xuân xanh lại đến

      Huớ em tôi, ngày mai anh sinh ra

      Huớ em tôi, không quay lui lại nữa


      Tiếng Huớ diễn tả niềm vui trong ngày sinh nhật của tác giả, với tôi là lạ tai. Dù vậy, tiếng Huớ dễ thương của "dân nẫu" có phải là tiếng Bớ của người miền Nam: Bớ người ta! Bớ làng nước ơi! Bớ em!?


      Bài "Bắt Đầu" có hai câu: Mới rợi này em, ngày mới rợi. Bỏ đàng sau, năm tháng, cô đơn. "Mới rợi" nghĩa là gì? Có phải là "Mới tới"?


      Bài "Bờ Em": Khi tình cuốn ta trôi chấp chới. Giữa cuồng lưu biết bíu vào dâu. "Bíu" có phải lài Níu? Chao ôi! Ngôn ngữ của Nẫu quả là… nẫu nẹt, là lạ tai tôi.


      Trần Yên Hòa sống trọn đời, tận tụy cho nghiệp thơ. Làm thơ vì đời, vì người (nghệ thuật vị nhân sinh). Hơn năm mươi lăm năm hướng về thế giới thơ, nghệ thuật Trần Yên Hòa nặng nợ với những đối tượng rực rỡ, thủy chung với những hình thể chói lòa để rồi chất chứa nỗi u sầu rã mục, dẫn lối vào không gian đơn chiếc độc thoại với âm u. Nghĩ lại mà tội người thơ đã lầm yêu phải thứ tình yêu chớp mắt, thứ tình yêu con bướm (đậu rồi bay đi), nó ray rứt não nề, nó ruồng rẫy biệt ly ngay từ cuộc tình đầu tay. Ta đọc lại đoạn cuối "Bài Trăm Năm" (tr.37):


      Nửa đời ta như mưa phơ phất

      Bỗng nhặt được lòng nhân ái từ tâm

      của em, đánh rơi vào tình thứ nhất

      để ta ôm hoài đi giữa nhân gian


      Nhân gian ở đây rõ ràng không bình thường như người bình thường sống giữa đời thường mà nhân gian của người thơ là lai láng "sông mê" không bờ bến. Con sông mê muội chảy ngược xuôi giữa hồn đời sắc sắc, không không rồi thấm vào Bát Nhã. Người thơ thất tình lục dục lúc bấy giờ hốt nhiên đốn ngộ, dứt bỏ hết khổ ách (năng trừ nhất thiết khổ), biến thành "sa di" gánh cái chân tình tự ngã lững thững đi vào trang Tự kinh:

      Thầm thì, thầm thì, rậm rịt

      Tiếng cầu kinh trong đêm thâu

      Ba la mật đa yết đế

      Hãy quên cuộc sống nát nhầu


      Đã qua bên bờ bỉ ngạn

      Lời kinh chảy suốt qua tâm

      Gió ngoài hiên tuôn thốc tháo

      Dội qua tiếng kệ âm thầm


      Ba la mật đa thời

      Quên giọt máu bầm năm tháng

      Quên hết những trò gian lận

      Trở về gốc cội nghỉ ngơi


      Thầm thì, thầm thì, tiếng mõ

      Ngũ uẩn phút giây cuồng nộ

      Hãy quên, hãy quên, hãy quên

      Nằm kề trang kinh bát nhã.

      Mang âm hưởng Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh của Phật Giáo Đại Thừa trải qua từ bảy thế kỷ đến nay, bài "Tự Kinh" (tr. 229) của Trần Yên Hòa với thi phong an nhiên tự tại thấm thía một đạo lý thâm hậu.


      Phan Ni Tấn

      Nguồn: banvannghe.com




      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Nhà Sư Và Linh Mục Phan Ni Tấn Truyện ngắn

      - Những Người Nữ Trong Thơ Trần Yên Hòa Phan Ni Tấn Nhận định

      - Ăn Tết ở Mỹ Phan Ni Tấn Tạp ghi

      - Sách vở ích gì… Phan Ni Tấn Tạp ghi

      - Bạn tôi, điêu khắc gia – họa sĩ Trương Đình Quế Phan Ni Tấn Tạp luận

      - Hoàng Xuân Sơn, Cũng Cần Có Nhau Phan Ni Tấn Giới thiệu

      - Bản Du Ca Cuối Cùng Phan Ni Tấn Thơ

    3. Bài viết về Trần Yên Hòa

       

      Bài viết về Trần Yên Hòa

       

      Những Người Nữ Trong Thơ Trần Yên Hòa (Phan Ni Tấn)

      Giới Thiệu Sách Mới: Bi Kịch Bản, Truyện dài (Trần Yên Hòa)

      Trần Yên Hòa hơn 55 năm làm thơ (Thanh Phong)

      Đọc Thơ Trần Yên Hòa: Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ (Phan Tấn Hải)

      Trần Yên Hòa và tác phẩm mới: “Sấp Ngửa” (Du Tử Lê)

      Đọc “Sấp Ngửa” của Trần Yên Hòa (Đỗ Xuân Tê)

      Thơ Tình Huyền Diệu Pha Lẫn Phàm Tục... (Qua Thơ Trần Yên Hòa) (Trần Văn Nam)

      Thơ Trần Yên Hòa, nặng tình với quê hương (Bích Huyền)

      Nhà thơ Trần Yên Hòa và thi tuyển “Uyên Ương, Phượng Hề, và Khát Vọng” (Mặc Lâm, RFA)

      Nói Chuyện Với Trần yên Hòa (Phạm Phú Minh)

      Trao Đổi Ngắn Với Nhà Văn Trần Yên Hòa

       (Lương Thư Trung)

      Những cảnh đời quen thuộc (T.Vấn)

      Đọc lại “Mẫu Hệ” – Nỗi đau còn đó

       (Nguyễn Lương Vỵ)

      Nhà văn Trần Yên Hòa và 'Rớt xuống tuổi thơ, tôi' (Nguyên Huy, NV)

      Nhà Văn Trần Yên Hòa Ra Mắt Truyện Dài ‘Đi Mỹ’ (Việt Báo)

      Đọc Rớt xuống tuổi thơ, tôi của Trần Yên Hòa

       (Đỗ Xuân Tê)

      Nhật ký đời sống trong thơ, văn Trần Yên Hòa”! (Du Tử Lê)

      Khi nhà văn Trần Yên Hòa nhất định không “yên”, cũng chẳng “hòa”! (Du Tử Lê)

      Trần Yên Hòa (Luân Hoán)

      Tiếng Thơ Gọi Tình Của Trần Yên Hòa

       (Hà Khánh Quân)

      Trần Yên Hòa (Vĩnh Hảo)

       

      Tác phẩm

       

      Giới Thiệu Sách Mới: Bi Kịch Bản, Truyện dài (Trần Yên Hòa)

      Thông Báo về việc Thành Lập Nhà Xuất Bản Bạn Văn Nghệ - 2020 (Trần Yên Hòa)

      Người trở về (Trần Yên Hòa)

      Lên "Phây" (Trần Yên Hòa)

      Những lần gặp (ít ỏi) Du Tử Lê (Trần Yên Hòa)

      Đi Mỹ (vietmessenger.com)

      Sấp Ngửa (banvannghe.com)

      Các bài viết khác (sangtao.org)

      Website (banvannghe.com)

      Trang Thơ (hocxa.com)

       

      Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Giải Văn Học Nghệ Thuật Phan Thanh Giản

      (Phan Thanh Tâm)

      - Tản văn, Tùy bút và Ký giống, khác nhau chỗ nào? (Trịnh Y Thư)

      - Thầy Nguyễn Khắc Kham - Võ Trường Toản Miền Nam (Nguyễn Văn Sâm)

      - Hoàng Hương Trang (Võ Phiến)

      - Nhà Thơ Thái Tú Hạp (Nguyễn Vy Khanh)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Tạp Văn (Nguyễn Kim Phượng)

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại (Viên Linh)

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975: Nhận Định, Biên Khảo, Thư Tịch (Nguyễn Vy Khanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)