1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      Thư viện Người Việt:
      NAM PHONG
      TRI TÂN
      THANH NGHỊ
      NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
       

       

    2. Mẹ Và Con (Ngọc Linh)

      12-5-2017 | TRUYỆN

      Mẹ Và Con

       NGỌC LINH (*)

      Ví dầu cầu ván, đóng đinh
      Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi
      Khó đi mẹ dắt con đi
      Con thi trường học mẹ thi trường đời.
      (ca dao)


      1.


      Buổi học vừa chấm dứt tiếng ồn ào của bầy trẻ lan dần trên Quốc lộ, tản mát qua cánh đồng hiu quạnh, dẫn vào các xóm xa...

      Ngân dắt xe đạp ra khỏi cổng trường, đứng lặng nhìn tàn cây xoài rộng lớn, mỗi mùa qua, như già cỗi thêm.

      Năm nào cũng vậy, hễ đến tháng hè là Ngân buồn; nỗi buồn xa vắng những mái đầu tóc rối bềnh bồng, nhũng khuôn mặt ngây thơ rám nắng, xa mái trường rêu mốc, tường vôi loang lổ vết đạn chiến tranh và nhất là cây xoài già trước sân trường. Ngân đã học vỡ lòng dưới mái trường này ngày còn thơ ấu, bây giờ lớn lên lại đi dạy nơi đậy.


      Biết bao kỷ niệm đau buồn! Những thầy học cũ, những người bạn thân yêu bấy lâu, xa vắng hết... Thỉnh thoảng nghe tin một chị đi lấy chồng, một người chết, một người mất tích ở vùng xa.


      Buổi học chiều nay càng khiến Ngân buồn thấm thía hơn, có lẽ tại bức thơ của mẹ gởi cho nàng, đã gợi lại bao hình ảnh đau thương ngày cũ.


      Những giờ cuối cùng trong lớp học, nàng kể lể chuyện mình ngày nhỏ cho các em nghe. Nhà nàng ở tận cầu Bến Cúi, mỗi sáng đi học phải quảy thêm một gói cơm vắt, trong mo cau, để buổi trưa ở lại trường... Chiều tối, cha nàng từ chợ Bến Cát đạp xe lên chở về.


      Nàng say mê với những kỷ niệm thiếu thời và không biết đã khóc từ bao giờ? Khi thấy nước mắt lăn tròn xuống má, nàng mới lấy khăn lau, giữa sự ngơ ngác của đám học trò.

      Ngân leo lên xe đạp, phóng đi. Bạn đồng nghiệp của nàng cũng đã về hết... Con đường từ trường Quán Cây Xoài về chợ Bến Cát đã quá quen thuộc với nàng, từ bụi cây, đám cỏ.


      Nàng chợt nghĩ đến chú Huấn, ở Thủ Dầu Một chắc cũng đã về bằng chuyến xe trưa. Ngân muốn gặp chú ngay, phần lớn về bức thơ của mẹ.


      2.


      Giáo Huấn, chú ruột Ngân, trước kia dạy ở trường Quán Cây Xoài, nhưng bây giờ đã lên tỉnh. Ngân thay chân ông ở đây cho được gần nhà.


      Nàng rất hãnh diện theo đuổi nghề nghiệp của chú. Sự làm việc siêng năng, hạnh kiểm tốt của Ngân thật không phụ lòng trông cậy của giáo Huấn.


      Ngân đạp xe vào cổng rào, đã thấy giáo Huấn mặc bà ba, ngồi xem báo trên ghế bố.

      Nàng dựng xe ở góc nhà, chấp tay:

      - Thưa chú mới về.


      Ông Huấn để ý thấy nàng từ lúc nãy, nhưng bây giờ mới ngẩng lên:

      - À con, bãi học rồi hả?

      - Dạ, còn trường của chú?

      - Tối nay ở Thủ họ còn tiệc tùng nữa, nhưng tao sợ mệt, trốn về.


      Ngân cười vì biết rõ ý chú:

      - Con mới nói với thím hồi sáng, thế nào chú cũng về sớm mà.


      Ờ... bây giờ có tuổi rồi, nhậu nhẹt rà rê tao sợ lắm! về chơi với thằng Tính, còn thích hơn.


      Ngân nói nhanh:

      - Tuần trước chú đi, Tính khóc cả đêm...

      Giáo Huấn cười hớn hở:

      - Vậy à! Đồ thằng chó, triếu cha quá.


      Ngân nghĩ đến cái tuổi bốn mươi lăm của chú, mới có một mụn con trai không cưng làm sao được. Về tới nhà, ngoài lúc Tính ngủ, luôn luôn ông bồng nó trên tay.


      Vợ chồng giáo Huấn hiểm con, chỉ có mỗi một gái bằng tuổi Ngân, nhưng đã chết, lúc chưa đầy năm tháng. Họ tưởng đâu không con nối giòng, nào ngờ bà giáo gần bốn mươi lại sinh thằng bé Tính. Ông Huấn mừng như bắt được vàng.



          

      Ngân cũng vậy, một mình thui thủi trong nhà, bây giờ thêm đứa em, nàng thấy vui vui, nên hết sức chịu cực, chiu khổ với nó.


      Giáo Huấn chợt hỏi:

      - Nghỉ hè cháu định làm gì?

      Ngân nhớ đến bức thư của mẹ ngập ngừng đáp:

      - Dạ... con... định thưa với chú...


      Có tiếng bà giáo từ nhà sau vọng lên:

      - Ngân về đó hả con?

      - Dạ...

      - Xuống thiếm nhờ chút coi.


      Ngân quay lại bảo giáo Huấn:

      - Lát nữa con thưa chú rõ.


      Rồi nâng bước mau xuống nhà sau. Giáo Huấn cau mày nhìn theo cháu, vẫn chưa đoán được câu chuyện nó sắp nói.


      Trong buổi cơm, giáo Huấn nói liên miên về những truyện ở tỉnh, nhưng ông để ý thấy Ngân lơ là.

      Tâm trí của nàng như đang bận nghĩ một chuyện gì. Điều đó khiến giáo Huấn lo ngại. Chờ lúc vợ dỗ con ngủ, ông mới hỏi Ngân:


      - Nhiều lúc, con muốn thưa chuyện gì?

      Ngân ngập ngừng đáp:

      - Dạ... Con vừa nhận được thơ của má con.

      Giáo Huấn ngó sững nàng:

      - Từ bao giờ?

      - Dạ sáng hôm qua!

      -Còn mặt mũi nào gởi thơ nữa? Tao không dè "mặt chay mày đá" đến vậy.


      Ngân lặng thinh. Nàng không dám bênh vực mẹ. Đã hơn mười năm không gặp, tình mẫu tử cũng lạt phai. Mẹ không về Bến Cát thăm nàng, không hiểu vì mặc cảm tội lỗi hay vì không biết thương nàng.


      Ngân chỉ nhớ mường tượng hình ảnh ốm yếu của mẹ, thường mặc áo lạnh màu xám tro, trong những ngày trở gió.


      Bà hay ngồi ở bàn viết ngó mông ra ngoài trời. Người ta kể lại thuở còn con gái, mẹ nàng rất sính làm thơ. Những bài thơ của bà hay được đăng ở Phụ Nữ Thời Đàm hay Tiểu Thuyết Thứ Bảy.


      Giáo Huấn vụt hỏi Ngân:

      - Chị ấy gởi thơ nói gì?

      Ngân ngó chú ngập ngừng:

      - Dạ... Má con đau nặng. Muốn được gặp con. Nhưng không dám hỏi chú. Dạ chú xem thơ?


      Nàng lấy trong túi áo bức thơ đưa cho giáo Huấn. Ông nhìn bức thơ trong tay Ngân lắc đầu:

      - Đọc làm gì? Tao biết thế nào cũng có ngày này mà... Ân hận rồi kêu gọi tình thương của con chứ gì? Chuyện đó dễ quá, ai làm lại không được!


      Ngân vẫn lặng thinh, nắm chặt bức thơ của mẹ trong bàn tay. Chính nàng, sáng hôm qua khi nhận được thơ của mẹ, cũng có ý nghĩ đó.


      Nỗi oán hận nhiều năm, đã khiến Ngân tưởng chừng như tình cảm của mình chai cứng... Đôi khi nàng quên là mình còn một người mẹ trên đời.


      Nhưng khi đọc xong bức thơ, tình cảm nàng đổi khác. Những ngày nhỏ dại, những đêm sợ tiếng chó tru, rúc đầu vào ngực mẹ, những ngày Tết đến, chính mẹ đã may áo mới cho nàng rồi dẫn nàng đi lễ ở kiểng chùa bên kia Bến Củi


      Bao kỷ niệm thân yêu trong lúc thiếu thời, đột nhiên hiện ra rồi tự dung nàng thấy mình bớt oán trách mẹ. Bây giờ trước mặt chú, nàng muốn nói vài lời "đỡ đần" cho mẹ, nhưng không hiểu sao Ngân mất hết can đảm. Có lẽ thái độ dứt khoát của giáo Huấn, vẻ mặt lạnh lùng sắt đá của ông khiến Ngân hiểu rằng, mình có nói cũng vô ích.


      - Ngân...

      - Dạ!

      - Con có cho là chú quá khắc khe với chị ấy không?

      Ngân lắc đầu:

      - Thưa chú, con đâu dám có ý đó...


      Giáo Huấn ngã lung trên ghế xích đu, thở khói lên trần nhà, đôi mắt lờ đờ như nhớ lại chuyện xa xưa.


      3.


      Từ những ngày đầu, Tây chiếm Bến Cát, người ta bảo Phán Lương ra đầu thú để làm làng, tổ chức lấy tài liệu cho kháng chiến, giáo Huấn đã can gián anh:


      - "Không nên anh Hai à! Đem thân hy sinh làm trái độn như thế bầm dập lắm... Dân lành đâu hiểu uẩn khúc bên trong cứ nghe nói mình đầu Tây là đã oán ghét, gia đình vợ con sẽ khổ trăm chiều. Còn nếu Tây biết được dụng tâm của mình thì chết ngay".


      Nhung Phán Lương có đời nào chịu nghe ai! Một khi đã quyết tâm làm gì thì làm cho được mới thôi. Nhờ giỏi tiếng Pháp, Phán Lương ra đầu thú là được đắc dụng ngay. Nhà cửa dọn về Bến Cát, Ngân bắt đầu đi học trở lại. Cuộc sống coi nhủ bình thường nhưng sự thật tràn đầy sóng gió. Giáo Huấn lúc ấy còn dạy Ở trường Quán Cây Xoài, hiểu rõ việc làm "gián điệp" của anh nên vẫn âu lo. Riêng Kim, vợ của Lương lại rất vô tư, chỉ đọc sách báo, tiểu thuyết và làm thơ, gởi bài lai cảo.


      Phán Lương hiểu tâm hồn vợ như vậy, nên ít khi dám bàn chuyện gì hệ trọng. Kim rất lãng mạn và xa rời thực tế. Nàng chỉ thích sống riêng rẽ một mình trong thế giới "mộng". Giữa mùa đất nước chuyển mình, chiến tranh tràn lan khắp cùng làng mạc, núi non, mà nàng cứ mơ với nỗi niềm sầu cảm "thương cho chiếc lá rụng cuối thềm, giữa đêm gió đổi mùa".



          

      Ngân ra đời ít được sự âu yếm của mẹ mà chỉ gần với cha. Ông tuỵ làm việc nhiều nhưng vẫn để ý săn sóc con. Còn mẹ nàng vẫn còn bận bịu với văn thơ, hay cắt dán những bài thơ được đăng báo.


      Giáo Huấn có lần đã trách Lương:


      - Anh không rày chị, để rồi sau ân hận. Giữa cuộc đời xáo trộn, không sống thực tế, không để tâm đến việc gia đình, con cái rủi có chuyện gì không may, xảy tới cho anh, thì khổ lắm đó. Phán Lương buồn bã nói với em:


      - Tôi cũng hiểu thế. Nhưng tâm hồn Kim đã như vậy, làm sao cải sửa... Thực tế của những ngày chạy loạn vẫn chưa làm cho nàng thức tỉnh, thì chú hiểu tôi phải làm gì? Tôi bỏ anh em lãnh cái phận sự bé nhỏ này, để chống giặc ngoại xâm, cũng chỉ vì vợ con không thể chịu đựng nổi cực khổ. Chú không thấy sao?


      Giáo Huấn đã bảo anh:

      - Vậy là anh lầm... Rồi chỉ khổ cho con anh. Tôi xem chừng chị Kim chẳng hợp với anh đâu.

      - Tôi biết vậy, nhưng đã lỡ có con Ngân rồi. Chú biểu tôi làm sao? Tôi thương con tôi quá.


      Thế rồi một buổi sáng lính Tây bao vây bắt Phán Lương và toàn ban hội tề vào trong đồn, giữa sự xôn xao của dân chúng. Tối đến chúng đem bốn người ra cầu Bến Củi bắn chết, đạp thây xuống sông.


      Phán Lương là một trong số bốn người bị bắn đó. Giáo Huấn mướn dân chài trong xóm, lặn lội giữa đêm khuya, mò tìm xác anh, lòng đau như xé ruột, nhưng ông không khóc. Ông đoán trước thế nào gia đình cũng gặp phải chuyện không may này.


      Gần sáng hôm sau. mới vớt được thây Lương và đưa đi chôn ngay trong rừng vì sợ quân Pháp cản trở.


      Riêng Kim, nàng chết giấc không biết bao nhiêu lần khi được tin chồng bị bắn. Dù Giáo Huấn cản ngăn, nàng cũng chạy tuông vào rừng ôm mộ chồng khóc thảm thiết.


      Bốn năm tháng sau, Kim cho giáo Huấn biết một nhà báo ở Sài Gòn mời nàng xuống cộng tác. Kim đưa thư cho em chồng xem rồi ngập ngừng nói:

      - Chú cho tôi gởi cháu Ngân một thời gian. Bao giờ có cơ sở vững vàng, tôi đem cháu theo.


      Giáo Huấn hỏi nàng:

      - Chị định bỏ quê hương mình luôn sao?

      Kim đau đớn nói:

      - Xứ này đã cướp mất của tôi một người thân yêu nhất, chú bảo tôi còn thiết gì mà ở lại...


      Rồi thì Kim ra đi, đi mãi mãi... Ngân lớn lên trong sự đùm bọc chở che của chú thím nàng. Từ lúc 9 tuổi cho đến bây giờ, mười mấy năm qua nàng không một lần gặp mẹ.


      4.


      Giáo Huấn ngồi thẳng dậy, dụi điếu thuốc vào đồ gạt tàn, hỏi Ngân:

      - Con tính sao?

      Ngân vẫn im lặng từ nãy giờ. Ơn nghĩa của chú nặng như núi non, nàng đâu dám tự mình quyết định một chuyện hệ trọng như thế.


      Nàng khẽ cất tiếng:

      - Thưa chú... con để tùy chú.


      Giáo Huấn thở dài nói:

      - Con đã hỏi thì chú nói thật điều này: cho đến lúc chết, tao cũng không muốn thấy mặt chị ấy. Không phải tao trách chuyện chị ấy sớm lấy chồng khác, khi mộ chồng chưa xanh cỏ, nhưng tao không thể tha thứ một người mẹ sớm quên con.


      Ngân cúi đầu im lặng. Giáo Huấn tiếp:

      - Hồi năm đó, tao có đi Sài Gòn tìm kiếm chị ấy, nhưng về nhà tao dấu luôn đó thôi.


      Ngân ngẩng lên nhìn chú:

      - Nói vậy... chủ có tìm má cháu nữa?

      - Có chớ! Vì thế tao mới hiểu lý do nào chị ấy bỏ làng, bỏ xứ không về.


      Ngân nóng lòng hỏi:

      - Thưa chú... Tại sao?

      - Chị ấy bị thằng cha ký giả nào đó gạt gẫm đến mang thai.

      - Trời ơi!


      Giáo Huấn buồn bã đáp:

      - Tao nói với bây như vậy là vì không hiểu được tâm hồn mẹ bây. Lúc tao lên Sài Gòn, nghĩa là tám tháng sau ngày chị Kim bỏ Bến Cát nầy... thì chị đã mang thai với người khác. Chị ấy xấu hổ đến độ nhìn tao mà không thốt được một lời. Tao quá giận mà nói: "chị đừng bao giờ cho tôi thấy mặt nữa".


      Ngân không biết mình khóc tự bao giờ, đến khi những giọt nước mắt nong nóng rớt trên bàn tay, nàng mới giựt mình lấy khăn lau.


      Giáo Huấn chợt ngó nàng:

      - Không phải chú khắc khe, nhưng chú không thể quên được cái cảnh nhục nhã ấy! Chồng chết mồ chưa khô, con gái bơ vơ gấp gì mà làm chuyện tồi bại đó! Ngày cha con bị bắn, ôi thôi, khóc thảm thương, tưởng chừng như sắp tự tử đến nơi vì thiếu anh ấy trong cuộc đời.


      Ngừng lại một chút giáo Huấn tiếp:

      - Ở phương diện của chú là như vậy! Chú không còn chấp nhận người đàn bà đó trong gia đình họ Nguyễn nữa. Nhưng cháu đã trên hai mươi tuổi rồi, cháu tự quyền định đoạt thái độ. Cháu có chấp nhận một người mẹ như thế hay không là tự ý!


      Ngân hoang mang nói:

      - Thưa chú, nêu chú không muốn thì... cháu đâu dám cãi. Cháu có ngày nay là nhờ ơn chú thím.

      Giáo Huấn chặn lời nàng:

      - Bỏ qua chuyện ân nghĩa đó đi. Nuôi bây nên người là bổn phận của tao mà. Đối với kẻ sanh thành bây còn một thứ tình thiêng liêng khác. Bây lớn khôn cứ trọn quyền định đoạt. Tao sẽ không trách cứ gì đâu!


      Nói xong ông đi xuống nhà sau. Ngân ngồi một mình nhìn ra ngoài trời. Bóng tối đã phủ trùm lên cảnh vật. Nàng uể oải đứng lên đi trở vào phòng riêng, đốt đèn để trên đầu giường rồi ngả mình xuống nệm. Ngọn đèn tỏa sáng khắp gian phòng.


      Chú Huấn không tỏ thái độ trong việc này mà buộc nàng phải chọn một quyết định. Ông không thể chấp nhận mẹ nàng trong gia đình, nhưng không cấm cản cháu đi thăm mẹ vì đó là bổn phận riêng tư của nàng. Ngân thở dài quay mặt vào vách. Nặng chưa biết mình phải hành động ra sao cho hợp lẽ.



          

      Mười mấy năm trời, không tin tức của mẹ, đột ngột bà gởi thơ tha thiết muốn gặp mình, trong cơn bịnh nặng.

      Nàng ra đi thì chú thím sẽ buồn mà ở lại nhà, sao an tâm được?


      Chắc mẹ đau nhiều lắm mới gọi tới mình! Ngân cầm bức thơ đưa lên trước ánh đèn.


      Những giòng chữ run run của mẹ, đủ chứng tỏ trong lúc viết thơ bà đã phải cố gắng hết sức mình. Bức thơ không dài lắm nhưng chứa đựng bao nỗi ân hận của một người đàn bà đau khổ đã lỡ sa ngã một lần rối suốt đời phải gánh chịu đau thương!

      Sài gòn, ngây... tháng... năm...

      "Ngân con,

      "Viết bức tho này gởi đến con, mẹ cảm thấy tủi nhục nhiều lắm! Tự mẹ đã không quên tội lỗi của mình thì còn mong gì được con tha thứ!


      "Mười mấy năm qua, con không một lần thấy mặt mẹ nhưng mẹ vẫn hằng gặp con... trong lén lút âm thầm.

      "Bao lần mẹ về Bến Cát, đứng nép mình bên góc chợ, nhìn con ôm cặp sách đi qua. Bao lần đến cạnh sân trường để nghe tiếng con đọc bài từ trong lớp vọng ra...

      "Ngân ơi! Mẹ vẫn ở bên con, nhung con nào hay biết! Mẹ lẩn tránh mọi người khi trở về chốn cũ, nơi mẹ đã sống trọn vẹn một thời hạnh phúc bên chồng, bên con... Mẹ có ra thăm mộ cha con nữa, nhưng không dám để lưu lại dấu vết gì.


      "Còn nhớ ngày rời bỏ Bến Cát ra đi, nẹ gởi con cho chú Huấn, với lời dặn dò: "chú cho tôi gởi cháu một thời gian, bao giờ có cơ sở vũng vàng tôi đem cháu theo...

      "Ngân ơi! Mẹ đã thục tâm thốt ra những lời đó, chớ không phải mẹ trốn lánh bổn phận đối với con đâu. Nhưng rồi, một thân lên đất Sàigòn đầy cạm bẫy lọc lừa, mẹ đã sa chân nên không dám quay về chốn cũ...

      "Đời mẹ trãi qua lắm não nề, không thể kể hết vào đây, nhưng đó là tại mẹ gây ra... mẹ đành phải chịu!


      "Bức thơ nầy gởi đến con, mẹ chỉ van xin một điều thôi: con hãy đến cho mẹ được gặp lần cuối cùng! Bệnh mẹ chắc không thể nào qua khỏi!

      "Mẹ muốn gởi thơ xin phép chú Huấn nhưng chắc chắn không bao giờ chú tha thứ cho mình nên mẹ đành kêu gọi tấm lòng rộng lưọng của con.


      "Ngân ơi! Tủi nhục lắm mẹ mới viết cho con những giòng nầy. Đáng lý ra, mẹ phải câm nín, cho đến 1úc chết. Mẹ tha thiết gặp mặt con lần cuối cùng, vì mẹ không còn đủ sức lên xe về Bến Cát nũa.


      "Nếu con còn nghĩ chút tình thì lên Sàigòn ngay, kẻo mẹ chẳng còn chờ con thêm được nữa...


      Địa chỉ của mẹ

      số 73 đường Nguyễn Trãi

      Mẹ của con

      Kim.

      5.


      Ngân áp thơ mẹ vào ngực mình, nước mắt tuôn dài xuống má. Mẹ van cầu như thế nầy, nàng làm ngơ sao được. Đường phố Sàigòn nàng không rành 1ắm vì chỉ 1ên đó có mấy mùa thi!


      Nhưng đã có sẳn địa chỉ của mẹ, nàng chẳng lo gì bị lạc. Ngân chợt nghĩ đến chú Huấn. Ông bảo không cấm cản nàng đi thăm mẹ, nhưng nếu Ngân ra đi, chắc chắn ông buồn nhiều.


      Ngân thở dài trong đêm. Nàng lim dim đôi mắt, nghĩ ngợi xa vời, rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết.

      Gần sáng, thằng Tính đột nhiên thức giấc khóc ré lên. Giáo Huấn tuột xuống giường lấy bình thủy nước nóng giùm vợ, rồi không ngủ được ông ra ngồi ở bàn viết xem báo.


      Ông chợt nghe có tiếng lục đục bên phòng Ngân, tiếng mở chốt cửa rồi tiếng dép xa dần ngoài sân.

      Giáo Huấn thở dài lẩm bẩm: "chắc con bé định đi thăm mẹ!" Ông không trách cháu, nhưng mà buồn, buồn vì nó phải giữ tròn chữ hiếu với người đàn bà không ra gì.

      Giáo Huấn xếp tờ báo lại, ra nhà ngoài gài chốt cửa. Trời còn tối mù, gió lộng thổi trên các tàng cây. "Có lẽ Ngân ra tới gần bến xe".

      Giáo Huấn nhủ thầm như vậy là hơi ân hận, lúc tối mình không xem bức thơ, coi Kim đã nói gì và địa chỉ hiện tại ở đâu?


      Ông thẩn thờ trở vào buồng và chợt nghe tiếng vợ:

      - Gần sáng chưa mình?

      Giáo Huấn đáp:

      - Chắc cũng sắp hừng đông...


      Bà giáo nói:

      - Mình coi con Ngân thức chưa, bảo nó đi chợ sóm, để không có thịt đó...


      Giáo Huấn lặng thinh một lúc mới bảo vợ:

      - Con Ngân xin phép tôi đi Sàigòn rồi!

      Bà giáo ngạc nhiên, tốc mùng dậy hỏi:

      - Chi vậy mình?


      Giáo Huấn không muốn vợ hỏi lôi thôi:

      - Ơ! bãi trường, nó muốn đi thăm một vài người bạn! Cho nó đi chơi với chớ, bắt ở nhà hoài sao.

      Thằng bé Tính nghe tiếng nói lớn, giựt minh khóc. Bà Giáo trở vào mùng, nhưng trong lòng vẫn chưa hết ngạc nhiên.


      Ngân đi đâu bất thình lình như vậy? Sao nó không nói với mình một lời nào cả? Bà thương Ngân như con ruột, nên cử chỉ bất thường của nàng khiến bà âu lo...


      Ngân rất hiếu thuận, muốn đi đâu mà bà ngỏ ý không bằng lòng là ở nhà ngay, có đâu đi Sàigòn mà chẳng bảo qua cho bà một tiếng!


      Chắc có chuyện hệ trọng gì khác, nhưng ông giáo giấu bà. Thằng Tính càng khóc lớn hơn, nên bà giáo không tiện nói gì thêm, bà định bụng sáng ngày thế nào cũng hỏi chồng cho ra lẽ.


      Ông giáo trở lại bàn viết ngồi, mở tờ báo lúc nãy ra xem, nhung ông không đọc dược một bài nào cả.

      Những giòng chữ như nhảy múa dưới mắt. Thằng Tính đã bớt khóc, tiếng bà giáo hát ru con nho nhỏ:

      "trời mưa bong bóng phập phòng... ./.


      (Thời Tập, phát hành ngày 20-8-1974)

      Ngọc Linh

      Thư Quán Bản Thảo sồ 42, tháng 5-2010

      (*) Tên thật Dương Đại Tâm, sinh 30-11-1935 tại Cà Mau tỉnh An Xuyên. Khởi viết từ năm 1953. Trước 1975, chuyên viết tiểu thuyết. Hiện ở Saigon.

      Tanh minh họa của nữ họa sĩ Bé Ký và Nguyễn Thị Hợp



      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Mẹ Và Con Ngọc Linh Truyện ngắn

    3. Truyen

       

      Truyện

       

      Mẹ Và Con (Ngọc Linh)

      Quán Cà Phê Ngoại Thành (Hoàng Ngọc Hiển)

      Ông già Noel và chú lùn Số Một (Lê Hữu)

      Những Điều Chúa Thương (Huy Trâm)

      Ông Già Noel Là Mẹ (Ngọc Ánh)

      Một Cái Chết (Vũ Trọng Phụng)

      Qua Cầu (Trần Yên Hòa)

      Cát Lệ Lan (Phạm Hảo)

      Đêm Vu Lan Trên Đảo Galang (Liên Hương)

      Người Lính Già Trên Chuyến Tàu Đêm (Nguyên Nhung)

      Người Quân Tử (Linh Bảo)

      Chuyện Cổ Tích Cuối Thế Kỷ 20 (Quan Dương)

      Mùa Cá Bẹ (Nguyễn Âu Hồng)

      Giấc Ngủ (Duy Thanh)

      Thương Đất, Nhớ Đất (Nguyễn Mạnh Côn)

      Câu Truyện Hay Nhất Thế Giới (Tâm Thanh)

      Con Đường Xưa Em Đi (Phạm Hoài Vũ)

      Xuân Muộn (Phạm Thành Châu)

      Tết Xưa (Phạm Hảo)

      Buổi Chiều Áp Lễ (Lệ Hằng)


      Truyện Đạo

       

      Im Lặng Của Thiền Sư (Phan Trang Hy)

      Kể Lại Vài Giai Thoại Trong Tập Vào Thiền

       (Doãn Quốc Sỹ)

      Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp (Hồ Hữu Tường)

      Sợi Tơ Nhện

         (Akutagawa Ryùnosuke, Nguyễn Văn Thực dịch)

      Những Hạt Ðậu Biết Nhảy

         (Lâm Thanh Huyền, Phạm Huệ dịch)

      Mẹ Quán Thế Âm

         (A. Ryùnosuke, Lâm T. Huyền, Phạm Huệ dịch)

      Maria Quán Thế Âm

         (Lâm Thanh Huyền, Phạm Huệ dịch)

       
         

      Phim VN trước 1975

       

      (Thẩm Thúy Hằng-Kiều Chinh-ThanhNga-BạchTuyết)

       

      - Chiếc Bóng Bên Đường   - Nàng (1970)

      - Người Cô Đơn (1972)    - Xa Lộ Không Đèn

      - Bão Tình (1972) - Sóng Tình (1972)

      - Chúng Tôi Muốn Sống (1956)

      - Trường Tôi (1973) - Nắng Chiều (1973)

      - Giỡn Mặt Tử Thần (1975)

      - Năm Vua Hề Về Làng (1974)

      - Tứ Quái Sài Gòn  - Những Giọt Sương Khuya

      - Như Hạt Mưa Sa 1 - Như Hạt Mưa Sa 2

      - Như Hạt Mưa Sa 3 - Như Hạt Mưa Sa 4

      - Vượt Sóng

       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)