Head



 

 

Su Thi Ve Hai Ba Trung (Vien Linh)
11-11-2012 | NHÂN VẬT

Sử Thi Về Hai Bà Trưng

 VIÊN LINH

Bà Trưng quê ở Châu Phong

Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên

Chị em nặng một lời nguyền

Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.



   Hai Bà Trưng khởi nghĩa. Nét vẽ Lê Bá Đảng, Paris, 1952.
(Tài liệu của tạp chí Khởi Hành)

Đó là một đoạn thơ thường thấy nhất viết về hai vị nữ anh thư năm 40 đã chiêu mộ binh mã nổi dậy đánh đuổi thái thú Tô Định về Tẩu, (Chấm dứt Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất), * xưng là Trưng Vương, giành quyền tự chủ cho đất nước, tri vì được ba năm, 40-43 sau Tây lịch. Từ đó cho đến ngày nay, gần hai ngàn năm sau, dân ta vẫn lấy ngày mồng 6 tháng 2 làm ngày giỗ Hai Bà.


Trong một lịch sử dài như thế, chính sử viết về Hai Bà được truyền lại gồm có những gì? Thơ văn dân gian thì nhiều, song chính sử, chính văn, e rằng chẳng được bao nhiêu. Còn đền thờ Hai Bà thì ở đâu cũng có; nhà văn Trần Đại Sỹ đi du lịch Quảng Đông có kể lại với người viết bài này, ông đã thấy Thành Phiên Ngung còn cả chữ ghi trên cổng, và ông được biết có rất nhiều đền miếu thờ Hai Bà Trưng ở vùng phía Nam Quảng Đông [khiến người ta nghĩ lãnh thổ Lĩnh Nam xưa kia ở rất sâu trong đất Tầu ngày nay].


Ở ngoài Bắc, - theo nhà văn sử gia Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1907-1977) -, hai nơi thờ chính một là Đền thờ Đồng Nhân ở Hà Nội (hồi 1952 đền được dùng làm trường học, nơi người viết bài này học lớp nhì tiểu học), và một là Miếu Hát, có tấm hoành phi với bốn chữ "Lạc Hùng Chính Thống" ở gian giữa nhà bái đường.


Hoa Bằng viết: "khác với Đồng Nhân thờ thần tượng, Miếu Hát này thờ Long bài." Ông còn chê sách "Khâm định Việt Sử thông giám cương mục" đã không coi là có một Triều đại Trưng Vương, trong khi Trưng Trắc là con gái Lạc hầu, đuổi giặc đô hộ Bắc phương, đã làm lễ tế cáo Trời đất, xưng Vương, là một nước độc lập, thủ đô ở Mê Linh. Ở Đền Đồng Nhân còn cặp ngà voi của Trưng Trắc, còn Miếu Hát ở làng Hát Môn được xây từ "sau thời Mã Viện về Tầu." Lễ giỗ Hai Bà ở Hát Môn tỉnh Sơn Tây ngày nay diễn ra trong nhiều ngày: 4 tháng 9 là húy nhật, 24 tháng chạp là lễ mộc-dục (tắm gội) ở sông Hát, ngày 5 và 6 tháng 2 là tiệc thánh (Tạp chí Tri Tân, 1941).


Nếu kể theo biên niên, ta có văn tự về Hai Bà ở các sách như sau:


- Thế kỷ XIV, trong Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp, một tác giả thời Trần.

- Thế kỷ XV, qua Đại Việt Sử Ký toàn thư do Ngô Sỹ Liên soạn dưới triều Lê Thánh tông, soạn xong năm 1479. Sau đó là những bổ sung, những thơ văn cảm vịnh của danh sĩ từ đời này qua đời khác.


Trong một nghiên cứu đã được công bố trước đại chúng cách đây vài năm, giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát viết rõ trước các cuốn kia, Việt Nam còn một cuốn sử mà ngay cả sử gia Ngô Sĩ Liên cũng không biết, đó là cuốn Đại Việt Sử Lược. Ông giải thích khi giặc Minh vơ vét mọi sách vở, bia đá, bản gỗ có chữ mang về Tầu, đã mang theo cuốn này, cuối cùng năm 1776 nó lọt vào tay vua Càn Long nhà Thanh, và được chép ra, nhưng bỏ đi một chữ trong nhan đề, chỉ còn là "Việt sử lược." Đó là một bộ Sử Việt viết vào đời Trần mà người Việt đương thời không biết, mãi vài thế kỷ sau mới nghe đến tên nó. Tác giả là người có văn phong linh hoạt, và tinh thần rộng mở. Song song với nó là cuốn Thiền Uyển Tập Anh, cả hai viết tương đồng về nhiều sự kiện, và Lê Mạnh Thát cho biết: Lĩnh Nam Chích Quái đã viết dựa rất nhiều vào Thiền Uyển Tập Anh, cũng là một cuốn sách của người đời Trần, không những thế, nó được soạn vào năm 1337.


Vậy văn tự chữ nghĩa viết vế Hai Bà còn ghi lại được, có thể nói tóm tắt là có từ thế kỷ XIV đến nay. (Trước đó hẳn cũng đã có nhiều, chẳng lẽ một triều đại nhà Lý với một nên văn hóa văn chương rực rỡ hơn 200 năm, từ thế kỷ thứ XI, không có lấy dăm bài thơ về Hai Bà?) Sau đây là những trích dẫn đáng tin để chúng ta có một "chân dung và tiểu sử so lược" gần với sự thật nhất về hai vị nữ anh hùng dân tộc.


I. Lĩnh Nam Chích Quái - tác phẩm thời Trần, trước 1407. Xét quốc sử thì Hai Bà Trưng họ Lạc, người chị tên Trắc, người em tên Nhị, người làng Mê Linh châu Phong, con gái Lạc tướng châu Giao, là vợ Thi Sách ở châu Diên. Bà người hùng dũng, quả quyết. Khi thứ sử châu Giao là Tô Định tham tàn, lại giết chồng bà, bà cùng với em gái cử binh nổi dậy đánh đuổi quân Tầu. Được dân quân các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố nổi lên hưởng ứng, Hai Bà bình định được 65 thành ở Lĩnh Nam. Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là Trưng Vương, đóng đô ở châu Diên. Tô Định chạy ra Nam Hải, vua Vũ Đế nhà Hán được tin, cách chức y, rồi sai hai tướng là Mã Viện, Lưu Long đem đại quân sang đánh Lĩnh Nam. Chiến trận diễn ra ở Lạng Sơn, kéo dài hơn một năm.


Thấy yếu thế, Hai Bà lui quân về bảo vệ Cấm Khê, cuối cùng bại trận, quân binh tan tác, Hai Bà nhảy xuống Lãng Bạc tự trầm, thân xác trôi về sông Hát. Dân trong vùng thương tiếc lập miếu thờ. Hai Bà rất hiển linh, dân chúng nguyện cầu đều được phù trợ. Thời vua Anh tông nhà Lý trong nước đại hạn, vua truyền Uy Tịnh thiền sư cầu đảo, chỉ trong một ngày mưa xuống chan hòa. Vua nằm ngủ mơ thấy hai người đàn bà đội mũ lá, áo xanh, đai đỏ, cưỡi ngựa sắt bay trong mưa. Vua hỏi thì hai thần nhân trả lời: "Chúng ta là chị em họ Trưng, phụng mệnh Trời làm mưa đây." Vua nài xin mưa tiếp thêm thì thần nhân dơ tay bảo thôi. Tỉnh dậy nhà vua ra lệnh lập đền thờ, sắc phong hai bà làm Trinh Linh Nhị Trưng phu nhân. (Truyện 30, Trinh Linh Nhị Trưng Phu Nhân, dựa theo bản dịch của Lê Hữu Mục).


II. Hồng Đức Quốc Âm thi tập.


Hồng Đức Quốc Âm thi tập do vua Lê Thánh tông sai soạn vào thế kỷ XV. Niên hiệu Hồng Đức của Thánh tông bao gồm khoảng thời gian 1470-1497, thơ trong tập này do nhiều người làm, không ghi tên dưới bài, nên không phân biệt được bài nào là của ai. Có nhiều bài xướng họa chung một chủ đề, chia làm 5 môn loại, gồm 283 bài cả thảy: Thiên địa môn, Nhân đạo môn, Phong cảnh môn, Phẩm vật môn và Nhàn ngâm. Các tác giả phần lớn là hội viên Tao Đàn của nhà vua, và thêm nhiều người khác, do đó nghệ thuật chênh lệch, thi ngữ khác biệt, tuy nhiên giá tri của Hồng Đúc Quốc Âm (Thơ Nôm) là ở chỗ lòng yêu nước, lòng tự hào của kẻ sĩ đang sống trong một thời đại tự chủ (vừa đuổi được quân đô hộ nhà Minh ra khỏi giang sơn), rõ ràng hơn cả là tập thơ làm bằng tiếng mẹ đẻ.


Bài thơ VINH HAI BÀ TRƯNG như sau:


Giúp dân dẹp loạn trả thù mình,

Chị rủ cùng em kết nghĩa binh.

Tô Định bay hồn vang một trận,

Lĩnh Nam mở cõi vững trăm thành.

Mới dày bảo vị gia ơn trọng,

Đã đội hoa quan xuống phúc lành.

Còn nước còn non còn miếu mạo,

Nữ trung đệ nhất đấng tài danh.


II. Đại Nam Quốc Sử diễn ca.


Truyện lịch sử nước Đại Nam viết bằng văn vần. Sách do nhiều người soạn kể lại lịch sử từ Họ Hồng Bàng tới Mạc Đăng Dung, sau Lê Ngô Cát người Hà Đông sửa lại và viết thêm đến Lê Chiêu Thống, dài 3774 câu lục bát. Sau Phạm Đình Toái sửa lại nữa, rút xuống còn 2054 câu, và in ra năm 1871. Bốn câu đầu của đoạn nói về Hai Bà đã được in ở đầu bài.

Đoạn tiếp theo như sau:


Ngàn Tây nổi áng phong trần,

Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên.

Hồng quần nhẹ bước chinh yên,

Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thành.

Đô kỳ đóng cõi Mê Linh,

Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.

Ba thu gánh vác sơn hà,

Một là báo phục, hai là bá vương.

Uy danh động đến Bắc phương,

Hán sai Mã Viện lên đường tiến công.

Hồ Tây đua sức vẫy vùng,

Nữ nhi chống với anh hùng được nao?

Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo,

Chị em thất thế cũng liều với sông.

Phục Ba mới dựng cột đồng,

Ải quan truyền dấu biên công cõi ngoài.

Trưng Vương vắng mặt còn ai?

Đi về thay đổi mặc người Hán quan.


Trong thế kỷ XX có nhiều tác giả làm thơ về Hai Bà, như Dương Bá Trạc, Hoàng Cao Khải, Ngân Giang, ... Kể ra như thế là quá ít; quí bạn đọc nào biết thêm, xin chỉ giáo cho. Đa tạ.

Viên Linh (15.2.2012)


* Cho tới nay nước ta đã trải qua ba thời kỳ bị Tầu đô hộ, mà ông cha chúng ta thường nói một cách vắn tắt: "một ngàn năm đô hộ giặc Tầu." Theo Truyền thuyết và sử sách, Họ Hồng Bàng (các Vua Hùng) trị vì đất nước - thời ấy có quốc hiệu là Văn Lang - từ năm 2879 tới 258 trước Tây lịch, thì mất ngôi về tay Thục Phán. Phán lên làm vua, đặt tên nước là Âu Lạc, trị vì từ 258 tới 207 thì tướng của Tần Thủy Hoàng là Triệu Đà tới đánh chiếm. Đà "mượn gió bẻ măng," xưng Vương, lập ra Nhà Triệu, đặt quốc hiệu là Nam Việt, trị vì từ 207 tới 111. Năm này bên Tầu đã thuộc Hán, Hán qua dẹp Đà, thế là nước ta lọt vào vòng nô lệ giặc Hán từ đó, kéo dài tới năm 39 sau Tây lịch, may mà có Hai Bà nổi lên chấm dứt cuộc đô hộ này (đài lll+39 =150 năm).


- Bắc thuộc lần thứ 2 kéo dài từ 43-544, Lý Bôn chấm dứt (dài 544-43 = 501 năm).

- Bắc thuộc lần thứ 3 kéo dài từ 603-939, Ngô Quyền chấm dứt (dài 939-603 = 336 năm).

- Bắc thuộc lần thứ 4 kéo dài từ 1407-1427. Lê Lợi chấm dứt (dài 1427-1407 = 20 năm).

Tổng cộng: 150+501+336+20 = 1007 năm.


Sách báo tham khảo để viết bài này:


1. Đại Nam Quốc Sử diễn ca, Hoàng Xuân Hãn tựa và bàn, trọn bộ, nxb Trường Thi, Sài gòn, 1956.

2. Dâng hương Miếu Hát, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm, Tạp chí Tri Tân 1941.

3. Thiền Uyển tập Anh, Lê Mạnh Thát, nxb Phật học Việt Nam, TP HCM, 1999.

4. Lĩnh Nam Chích Quái, Trần Thế Pháp, Lê Hữu Mục dịch, nxb Trăm Việt, Hoa Kỳ, 1982.

5. Từ điển Văn học bộ mới, Đỗ Đức Hiểu chủ biên, nxb Thế Giới, 2003.


Viên Linh

Tạp chí Khởi Hành số 185 tháng 3.2012, trang 30

Family In Front of A Pond (Oil on Canvas) (Họa sĩ Joseph Inguimberty):




Một vài "tự bạch" về nhân sinh quan của học giả Nguyễn Hiến Lê:


Đời tôi có thể tóm tắt trong hai chữ HỌC và VIẾT. Hai việc đó liên quan mật thiết
với nhau gần suốt đời, tôi VIẾT ĐỂ HỌC và HỌC ĐỂ VIẾT - “Lời mở đầu” của
tác phẩm “Đời viết văn của tôi”.

Trong hồi ký của mình Nguyễn Hiến Lê cũng đã viết lại nhân sinh quan như sau:


Đời sống tự nó vô ý nghĩa, trừ ý nghĩa truyền chủng, nhưng mình phải tạo cho nó một ý nghĩa. Từ hồi ăn lông ở lỗ đến nay, nhân loại đã tiến về nhiều phương diện. Chúng ta được hưởng công lao, di sản của biết bao thế hệ thì phải duy trì di sản đó và cải thiện nó tùy khả năng mỗi người.


Chúng ta làm điều phải vì tin nó là điều phải chứ không phải vì ý muốn của Thượng đế hay một vị thần linh nào, cũng không phải vì mong chết rồi được lên Niết bàn hay Thiên đàng.


Quan niệm thiện ác thay đổi tùy nơi, tùy thời. Cái gì ích lợi cho một xã hội vào một thời nào đó thì được xã hội đó cho là thiện, cũng cái đó qua thời khác không còn ích lợi nữa mà hóa ra có hại thì bị coi là ác. Ví dụ đạo tòng phu, tòng tử của phụ nữ có lợi cho gia đình, xã hội thời nông nghiệp; tới thời kỹ nghệ không còn lợi cho gia đình, xã hội nên mất giá trị. Khi sản xuất được ít, đức tiết kiệm được đề cao; ngày nay ở Âu Mỹ, sản xuất vật dụng thừa thãi quá, nên sự phung phí gần thành một bổn phận đối với xã hội. Tuy nhiên vẫn có một số giá trị vĩnh cửu, từ hồi loài người bắt đầu văn minh, dân tộc nào cũng trọng, như đức nhân, khoan hồng, công bằng, tự do, tự chủ,...


Đạo nào cũng phải hợp tình, hợp lý (bất viễn nhân) thì mới gọi là đạo được. Tôi không tin rằng hết thảy loài người chỉ thấy đời toàn là khổ thôi; cũng không tin rằng hết thảy loài người thích sống tập thể, không có của riêng.


Đạo Khổng thực tế nhất, hợp tình hợp lý nhất, đầy đủ nhất, xét cả về việc tu thân, tề gia, trị quốc. Vậy mà tới nay lý tưởng của ông, nhân loại vẫn chưa theo được. Về tu thân, ba đức nhân, trí, dũng, luyện được đủ tình cảm, trí tuệ và nghị lực của con người.


Nên trọng dư luận nhưng cũng không nên nhắm mắt theo dư luận. Biết đắc nhân tâm, nhưng cũng có lúc phải tỏ nỗi bất bình của mình mà không sợ thất nhân tâm.


Mỗi người đã phải đóng một vai trò trong xã hội thì tôi lựa vai trò thư sinh. Sống trong một gia đình êm ấm giữa sách và hoa, được lòng quý mến, tin cậy của một số bạn và độc giả, tôi cho là sướng hơn làm một chính khách mà được hàng vạn người hoan hô, mà còn có phần giúp ích cho xã hội được nhiều hơn bạn chính khách nữa. Nhưng làm nhà văn thì phải độc lập, không nhận một chức tước gì của chính quyền.


Ghi được một vẻ đẹp của thiên nhiên, của tâm hồn, tả được một nỗi khổ của con người khiến cho đời sau cảm động, bấy nhiêu cũng đủ mang danh nghệ sĩ rồi.


Văn thơ phải tự nhiên, cảm động, có tư tưởng thì mới hay. Ở Trung Hoa, thơ Lý Bạch, văn Tô Đông Pha hay nhất. Ở nước ta, thơ Nguyễn Du tự nhiên, bình dị mà bài nào cũng có giọng buồn man mác.


Tôi khuyên con cháu đừng làm chính trị , nhưng nếu làm thì luôn luôn phải đứng về phía nhân dân.


Một xã hội văn minh thì nhà cầm quyền không đàn áp đối lập, cùng lắm chỉ có thể ngăn cản họ để họ đừng gây rối thôi; tuyệt nhiên không được tra tấn họ. Phải tuyệt đối tôn trọng chính kiến của một người.


Một xã hội mà nghề cầm bút, nghề luật sư không phải là nghề tự do thì không gọi là xã hội tự do được.


Khi nghèo thì phải tận lực chiến đấu với cảnh nghèo vì phải đủ ăn mới giữ được sự độc lập và tư cách của mình. Nhưng khi đã đủ ăn rồi thì đừng nên làm giàu, phải để thì giờ làm những việc hữu ích mà không vì danh và lợi. Giá trị của ta ở chỗ làm được nhiều việc như vậy hay không.


Chỉ nên hưởng cái phần xứng đáng với tài đức của mình thôi. Nếu tài đức tầm thường mà được phú quý hoặc được nhiều người ngưỡng mộ thì sẽ mang họa vào thân.


Hôn nhân bao giờ cũng là một sự may rủi. Dù sáng suốt và chịu tốn công thì cũng không chắc gì kiếm được người hợp ý mình; phải chung sống năm ba năm mới rõ được tính tình của nhau. Từ xưa tới nay tôi thấy cuộc hôn nhân của ông bà Curie là đẹp nhất, thành công nhất cho cả cá nhân ông bà lẫn xã hội. Hiện nay ở Mỹ có phong trào kết hôn thử, tôi cho rằng chưa chắc đã có lợi cho cá nhân mà có thể gây nhiều xáo trộn cho xã hội.


Có những hoa hữu sắc vô hương mà ai cũng quý như hoa hải đường, hoa đào; nhưng đàn bà nếu chỉ có sắc đẹp thôi, mà không được một nét gì thì là hạng rất tầm thường. Chơi hoa tôi thích nhất loại cây cao; có bóng mát, dễ trồng và có hương quanh năm như ngọc lan, hoàng lan. Ở đâu tôi cũng trồng hai loại đó.


Rất ít khi con người rút được kinh nghiệm của người trước. Ai cũng phải tự rút kinh nghiệm của mình rồi mới khôn, vì vậy mà thường vấp té. Nhưng phải như vậy thì loài người mới tiến được.


Cơ hồ không thay đổi được bản tính con người: người nóng nảy thì tới già vẫn nóng nảy, người nhu nhược thì tới già vẫn nhu nhược. Nhưng giáo dục vẫn có ích. Không nên cho trẻ sung sướng quá. Phải tập cho chúng có qui củ, kỉ luật, biết tự chủ và hiểu rằng ở đời có những việc mình không thích làm nhưng vẫn phải làm; và làm thì phải làm ngay, làm đàng hoàng, làm cho xong.


Thay đổi bản tính con người như Mặc Tử, như Karl Marx muốn là chuyện không dễ một sớm một chiều. Thế giới còn những nước nhược tiểu nhiều tài nguyên thì còn bọn thực dân, họ chỉ thay đổi chính sách thôi. Thực dân nào cũng vậy. Khi họ khai thác hết trên mặt đất, trong lòng đất thì họ sẽ khai thác biển, đáy biển, Họ còn sống lâu. Tuy nhiên cũng phải nhận rằng sự bóc lột trong một nước tân tiến thời nay đã giảm nhiều, thì sau này sự bóc lột các dân tộc nhược tiểu cũng sẽ giảm đi lần lần.


Xã hội bao giờ cũng có người tốt và kẻ xấu. Như Kinh Dịch nói, lúc thì âm (xấu) thắng, lúc thì dương (tốt) thắng; mà việc đời sau khi giải quyết xong việc này thì lại sinh ra việc khác liền; sau quẻ Ký tế (đã xong) tiếp ngay quẻ Vị tế (chưa xong). Mình cứ làm hết sức mình thôi, còn thì để lại cho các thế hệ sau.


Hồi trẻ, quan niệm của tôi về hạnh phúc là được tự do, độc lập, làm một công việc hữu ích mà mình thích, gia đình êm ấm, con cái học được, phong lưu một chút chứ đừng giàu quá. Nhưng hồi năm mươi tuổi tôi thấy bấy nhiêu chưa đủ, cần thêm điều kiện này nữa: sống trong một xã hội lành mạnh, ổn định và tương đối thịnh vượng. (nguồn: wikipedia.org)




Cung Tac Gia

Cùng Tác Giả:

 

- Dòng Thơ Chính Khí thời tiền chiến: Nhà thơ Thâm Tâm (1917-1950) Viên Linh Nhận định

- Tâm sự năm thứ 21 ‘Khởi Hành’ Viên Linh Hồi ức

- Ý kiến về một bài trên Học Xá Viên Linh Ý kiến

- Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam Viên Linh Lời Tựa

- Nguyễn Thị Hoàng, tuyển truyện 12 tác giả Viên Linh Giới thiệu

- Mấy Chân Dung Văn Nghệ Hiện Đại Của Huỳnh Hữu Ủy Viên Linh Nhận định

- Vài tác giả của tạp chí Tư Tưởng Viên Linh Giới thiệu

- Nhà thơ, nhà báo Nguyễn Vỹ Viên Linh Nhận định

- Mục Tạp Ghi và ký giả Lô Răng Viên Linh Nhận định

- Anh lùn cạnh nhà thờ Đức Bà Viên Linh Nhận định

 

 

Nhan Vat

 

 

Nhân Vật

 

- Người Chàm Trong Mắt Tôi (Nguyễn Ngọc Chính)

- Công lao Tổng thống Ngô Đình Diệm cần được tôn vinh (Lê Công Định)

- Alexander Solzhenitsyn: Văn Tài và Đạo Đức của Sự Thật (Bùi Tiên Khôi)

- Bùi Thị Minh Hằng (Vũ Đông Hà)

- "Lạc Lõng" Cậu Nho Sinh Người Mỹ Gốc Việt

(Thiên An)

- Thủ Bút Của Trần Trọng Kim - Thư Gửi Hoàng Xuân Hãn (Nguyễn Đức Toàn)

- Chú Hề Buồn Bã (Lê Hữu)

- Giải mã lãnh tụ: Một đóng góp quan trọng của Trần Đức Thảo (Đoàn Thanh Liêm)

- Vịn Câu Thơ Mà Đứng Dậy (Trần Trung Đạo)

- Bài Thơ Cho Đỗ Thị Minh Hạnh (Trần Trung Đạo)

- Ngõ Phất Lộc: Từ Nguyễn Hiến Lê đến Người Buôn Gió (Đoàn Thanh Liêm)

- Gió Bão Ngoại Giao Thời Thịnh Trần và Vị Sứ Thần Lỗi Lạc Đinh Củng Viên (Phạm Khắc Hàm)

- Sứ Thần Giang Văn Minh Không Làm Nhục Quốc Thể (Tạ Quốc Tuấn)

- Việt Dzũng, nghệ sĩ đấu tranh không tàn tật tâm hồn (Võ Đại Tôn)

- Để So Sánh Các Anh Hùng Trước Nguyễn Huệ với Nguyễn Huệ (Phạm Văn Sơn)

- Nelson Mandela, Quyền lực của sự tha thứ

(Nguyễn Hưng Quốc)

- Bình Luận và Vịnh Nhị Trưng (Dương Bá Trạc)

- Gia Đình Trưng Vương (Hoa Bằng)

- Trần Danh San, Tiếng hò khoan đã tắt

(Phan Nhật nam)

- Danh Tướng Thi Nhân Phạm Ngũ Lão (Tạ Quốc Tuấn)

- Cuộc Khởi Nghĩa của Hai Bà Trưng (Hà Mai Phương)

- Chiến Thắng Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền Năm 939 (Hà Mai Phương)

- Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà và Anh Hùng Đánh Tống-Bình Chiêm Lý Thường Kiệt (Lý Tế Xuyên)

- Lê Lợi, Nguyễn Trãi và Cuộc Cách Mệnh Lam Sơn

(Trần Ngọc Ninh)

- Phạm Ngũ Lão (Phan Kế Bính)

- Đặng Dung, Bậc Anh Hùng Lỡ Vận và bài thơ "Cảm Hoài" (Phạm Khắc Hàm)

- Sử Thi Về Hai Bà Trưng (Viên Linh)

- Ô cửa nhỏ của Thục Vy (Lê Hữu)

- Bà Lương Giết Giặc Minh Hạ Thành Cổ Lộng

(Chu Thiên)

- Hiểm họa từ Trung Quốc (T. V. Phê)

- Feb 1, 2003: Phi thuyền con thoi Columbia bị nổ tung (T. V. Phê)

- Chuyện trùng hợp lạ kỳ (T. V. Phê)

- Đạt Phan, người giễu hay nhất nước Mỹ năm 2003 (T. V. Phê)

- Dương Nguyệt Ánh góp phần chiến thắng tại A Phú Hãn (T. V. Phê)

- Người làm rạng danh tổ quốc: Mai Văn Hòa

(T. V. Phê)

- Ngôn ngữ thời Internet (T. V. Phê)

- Tiếng Việt lý thú (T. V. Phê)

- Tiệc đầu khỉ, cỗ đầu người (T. V. Phê)

- Nhạc võ Tây Sơn (T. V. Phê)

- Vua Quang Trung (T. V. Phê)

- Cảnh nghèo khó và bệnh tật của thi hào Nguyễn Du (T. V. Phê)

- Cỏ cây trong Truyện Kiều (T. V. Phê)

- Ngày giờ nàng Kiều bị bắt (T. V. Phê)

- Cái ghen của Hoạn Thư (T. V. Phê)

- Cù lao chín chữ (T. V. Phê)

- Mối tình của nữ sĩ Hồ Xuân Hương với Nguyễn Du (T. V. Phê)

- Áo dài Lemur: "thủy tổ" những chiếc áo dài ngày nay (T. V. Phê)

- Ca trù hồi sinh (T. V. Phê)

- Câu đối (T. V. Phê)

- Sáu luật về dấu hỏi ngã (T. V. Phê)

- Nước ta có Sử từ đời nào? (T. V. Phê)

- Dòng giống Tiên Rồng (T. V. Phê)

- Người Việt xấu xí?! (T. V. Phê)

- Người Chăm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam

(T. V. Phê)

- Không mới nhưng ... lạ (Minh Nguyệt)

- Ông tổ triết thuyết hiện sinh sống ra sao?

(T. V. Phê)

- Dũng khí của nhà văn (T. V. Phê)

- Nằm gai nếm mật (T. V. Phê)

- Chết vì một bài thơ (T. V. Phê)

- Ai công hầu, ai khanh tướng (T. V. Phê)

 

Phim Tài Liệu

 

L'exode du Nord Viet Nam

 

 

 
© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@hotmail.com)