1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Tự Điển:

      Việt-Anh-Pháp
      Hán Nôm

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      NAM PHONG - TRI TÂN
      THANH NGHỊ - NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21 - BÁCH KHOA
       

       

    2. Đời Có NHiều Chuyện Đáng Buồn (Lê Nam Phương)

      09-5-2014 | TRUYỆN

      Đời Có NHiều Chuyện Đáng Buồn

       LÊ NAM PHƯƠNG

      1.


      Người đàn ông loay hoay mãi với chiếc xe đạp cà tàng của mình. Gọi là xe đạp cho có vẻ như thế. Thật ra đó chỉ là một mớ sắt hoen rỉ được nối kết lại với nhau. Một cái khung vá chằng vá đụp bằng những mũi hàn lỡm chỡm. Hai vành xe được chế tạo bởi những vòng cắt ra từ cover, một loại ống cống bằng kim loại từ thời quân Mỹ mang sang. Bọc ngoài lớp vành ấy là một lớp cao su được cắt ra từ những ruột xe phế thải. Những nan xe được hàn bằng những thanh sắt phi 10 chen lẫn với nhũng que gỗ. Không có bàn đạp. Không có xích. Không có tay lái. Để điều khiển chiếc xe, người đàn ông phải buộc vào một que gỗ nơi đáng lý phải là cái ghi đông. Ấy thế mà chiếc xe đã cùng ông lang thang trên khắp nẻo đường xuôi ngược. Len lỏi vào các làng mạc hẻo lánh, những vùng nông thôn heo hút. Ăn bờ ngủ bụi là chuyện thường. Có khi ông leo lên tận đỉnh núi, hay vào sâu trong rừng. Lạc mấy ngày, ăn đọt cây đoát, môn rừng, uống nước bùn, ngủ với sên vắt muỗi rừng.


      Người đàn ông ấy là ai? Chẳng ai biết.

      Nhưng ông biết ông là ai.

      Ông đang làm cái việc mà hình như nhiều người cùng thời đang làm để kiếm cái ăn, cho ông và cho người vợ đang ngày đêm trông ông về với món tiền nho nhỏ sống qua ngày: Ông đi thu nhặt phế liệu về bán lại cho các vựa thu mua. Vài ba tuần ông mới về nhà một lần. Bởi vì với chiếc xe như thế ông không thể đi, về dễ dàng được.


      Trong nhũng chuyến lang thang vì cơm áo, ông đã gặp được nhiều người, nghe được nhiều chuyện. Những lúc ấy ông lại nghĩ về đời mình, nghĩ về bao nhiêu người, bạn bè người thân. Kè còn, kẻ mất. Người nằm dưới mộ sâu, người lênh đênh phiêu bạt ở xứ người. Kẻ bỏ xác trên rừng, người gởi thân nơi đại dương thăm thẳm. Và cũng còn bao người như ông đang lang thang lếch thếch khắp cùng trời cuối đất. Tất cả đã mất hết. Chỉ còn lại những thây người biết cử động, đang đi tìm miếng ăn. Bởi vì phải sống. Phải sống.

      Không ai có thể tự chọn lựa cho mình. Làm sao chọn cho mình cái chết?


      2.


      Cho chiếc xe lăn xuống triền dốc. Ông chạy theo với một tốc độ vượt sức chịu đựng. Con đường mòn nho nhỏ, hai bên hình như không có nhà. Trời nắng gắt. Mồ hôi dường như không còn. Người ông khô kiệt. Không chịu nổi. Ông thả tay để chiếc xe tự do lao xuống con đường với một vận tốc không có gì kiềm lại. Ông ngã nhoài bên đường. Hai mắt nhắm lại. Ông thấy người nhẹ tênh. Giá mà chết được lúc này.


      Ông mở mắt. Bầu trời trên cao mây trắng trôi bập bềnh. Ông cũng thấy mình trôi bập bềnh. Giờ này chắc vợ ông đang ngồi ngoài hiên mái chòi lợp lá cọ. Nàng chải tóc và nói chuyện với con mèo lông vàng ngồi dưới chân nàng mong tìm chút hơi ấm của con người vốn từ lâu không còn đủ thời giờ để âu yếm vuốt ve nó. Cái chòi dựng tạm bợ bên bìa rừng hoang vắng quạnh hiu. Ông thấy thương nàng vô hạn. Và ông mơ màng thấy nàng từ xa xa đi gần về phía ông. Ông nhắm mắt để cho ảo giác chập chờn hi vọng đó chính là nàng. Nhưng hình như ông nghe tiếng ai đó đang gọi:

      - Ông gì đó ơi!


      Tiếng gọi yếu ớt, giọng khàn khàn, buồn đục như tiếng gọi từ trong sâu thẳm của rừng già. Ông đã từng nghe tiếng gọi này trong những giấc mơ của mình.

      - Ông ơi? Ông đang làm sao thế?


      Ông mở mắt. Một bà già tóc đã bạc, lưng còng, tay chống một cái gậy tre, người gầy và run run, duy chỉ có đôi mắt là còn linh hoạt. Bà tiến gần về phía người đàn ông và cúi xuống như để kiểm tra xem người nằm đó còn sống hay đã chết.


      - Dạ chào bà, người đàn ông mỏi mệt nói, bà có thể cho tôi xin miếng nước không ạ?


      - Lạy trời! Ông còn sống. Lão cứ tưởng ông đã chết. Thôi hãy ráng đứng dậy, cố đi với lão về nhà. Bà đưa tay chỉ về cuối chân đồi.


      Người đàn ông đứng lên dùng tay phủi bùn đất bám dính vào áo quần và mệt mỏi theo sau bà lão. Con đường mòn chỉ vừa một người đi đổ xuống chân đồi. Hai bên cỏ dại mọc tràn lan, những dây cỏ gai nở bông màu tím nhẹ, những cây cúc dại lác đác những nụ vàng, vài con bướm đủ màu sắc bay chập chờn từ hoa này sang hoa khác. Đồi dốc đổ thoai thoải xa dần xuống tận bờ một con suối mùa này hình như cũng cạn khô nên nom rõ những tảng đá hai bên, những gốc cây đã bị đốn nhô lên như những hình nhân quái dị.


      Bà lão bước đi nặng nề phía trước, lưng còng quá nên có cảm giác mặt bà luôn luôn nhìn xuống đất. Có cái gì đó nơi bà lão này khiến người đàn ông nhớ đến mẹ mình, và ông cảm thấy gần gũi như được chở che. Ông cảm thấy một nguồn thương cảm vô hạn dâng lên trong lòng. Bất chợt ông gọi nhỏ "Mẹ". Bà lão không nghe gì, cứ lầm lủi bước đi.


      3.


      Từ dưới triền đồi chiếc xe đạp của ông nằm chỏng chơ, hai bánh xe với những cái nan xe bằng gỗ vẫn còn quay quay theo mỗi đợt gió thốc tới. Đống sắt vụn đổ tung toé nằm rải rác giống những mãnh bom bên một cái hố con.

      Người đàn ông nhìn chiếc xe buột miệng:

      - Thấy mẹ. Không biết có gãy xe không.


      Bà lão mơ hồ như nghe người đàn ông gọi;

      - Ông nói sao? Ờ, nhà lão ở tận dưới kia gần con suối cạn ấy. Cơ khổ! Làm sao mà ông nằm ở đây vậy?


      Không đợi người đàn ông trả lời, bà lão kể lể;


      - Năm ngoái cũng có một người ngang qua đây, cũng trạc tuổi ông. Mà sao ông lại đến đây? À mà thôi, tôi tò mò chuyện các người làm gì. Hãy vào uống nước nghỉ ngơi, rồi muốn đi thì đi. Mà có ở lại cũng không sao. Lão sống cô độc, buồn lắm, muốn có người trò chuyện cho đỡ buồn.


      Bà lão đưa tay kéo liếp cửa lợp bằng lá cọ, quay về phía người đàn ông:

      - Ông vào trong đi, tôi đi lấy ít nước nấu nắm lá vối. Đây là loại nước giải khát duy nhất và cũng ngon lắm, hơn hẳn các loại danh trà mà ông thường uống đấy.


      Bà lão cười hóm hém sau câu nói đùa của mình và chống gậy đi về phía bờ suối. Người đàn ông bước vào trong. Một chiếc chỏng tre ọp ẹp kê sát vách lợp bằng lá rừng và được nẹp vào nhau bằng những cây sậy tròn cở ngón tay. Phía cuối giường là cái bếp được kê bởi ba hòn đá. Vài cái soong đã móp méo treo lủng lẳng trên vách. Hơi nóng hãy còn trong lớp tro ủ, thỉnh thoảng một cọng khói lẻ loi hiu hắt bay lên. Ông bước ra sân nhặt một ít cành khô đem vào nhuốm bếp. Bà lão vào mang theo một ấm nước với ít lá vối đã rửa sạch. Bà ngồi xuống cạnh người đàn ông, không nhìn ông, bà nói bâng quơ:


      - Đôi lúc lão cũng thấy buồn thật. Nhưng quen rồi.


      Thưa cụ, thế con cái cụ đâu? Cụ sống một mình thế này lỡ đêm hôm mưa gió...


      Bà lão vẫn chăm chú nhìn vào bếp lửa đang cháy, thở dài não nuột:

      - Con với chả cái. À mà tôi cũng có một đứa con đấy chứ. Tôi và ông lão nhà tôi hiếm muộn chỉ có một mặt con. Ôi mà thôi! Thà không có con còn thấy đở khổ hơn, đở đau lòng hơn...


      - Cháu xin lỗi đã gợi lại những chuyện không vui cho cụ. Nhưng mà...


      Người đàn ông bỏ lửng câu nói, nhìn bà lão, lòng ông thấy xót xa, ông linh cảm trong người đàn bà này đang chứa chất một nỗi đau đớn kinh khủng lắm.


      Ấm nước sôi sục sục, bọt tràn ra khỏi miệng, một mùi thơm ngai ngái xông lên khắp căn chòi, ông hít thật sâu, mùi thơm xông lên tận não. Ông cảm thấy dễ chịu vô cùng. Bà lão lấy hai cái bát sành đã sứt miệng thong thả rót nước ra, một lớp bọt trắng trắng vàng vàng sóng sánh trên miệng chén. Đẩy chén nước về phía người đàn ông, bà lão mời:


      - Ông uống đi, nóng thì thêm ít nước lạnh vào. Loại nước này lợi gan, mật, ăn dễ tiêu, đả khát. Này mà ông có con không? Hãy dạy cho con ông cái điều mà trước đây chúng ta không được phép dạy. Đó là lòng thương yêu, sự quí trọng mạng sống của con người. Trước đây chúng chỉ được dạy lòng căm thù, một viên đạn phải giết cho được hai mạng người. Và đau xót hơn nữa, chúng được dạy phải giết chính những người thân yêu của minh để chứng tỏ lập trường kiên định không khoan nhượng đối với những người được qui cho là giai cấp bóc lột, giai cấp tiểu tư sản...


      Hình như khi nói những điều này đôi mắt bà lão ánh lên một tia giận dữ nhưng rồi bà nén lại, đôi mắt chùng xuống. Bà hớp một ngụm nước, lấy tay cời thêm que củi cho lửa cháy bùng lên.

      - Thưa cụ thế ông cụ?


      - Ông nhà tôi mất cách đây hai mươi năm rồi. Chết vì buồn bã quá. Vì đau lòng quá. Vì tủi hổ với giòng giống tổ tiên


      Nhưng mà... Người đàn ông tò mò.


      4.


      - Từ cái đêm cách đây hai mươi năm ấy, ông biết không, từ cái đêm oan nghiệt đó, ông nhà tôi như người mất linh hồn, sống vất vưởng như cái bóng. Suốt ngày không nói. Đôi mắt sâu hun hút như một vực thẳm chứa nỗi buồn của kiếp người. Từ cái đêm ấy.


      Bà lão chợt im lặng. Ngoài kia mặt trời đang xuống thấp. Lác đác có vài cánh chim bay về phía đồi xa. Một luồng gió lành lạnh thổi nhẹ qua khung cửa mang theo mùi hương của chiều. Ông vấn một điếu thuốc rê và châm lửa.


      - Ông lão nhà tôi trước kia cũng hút thuốc. Nhưng từ cái đêm oan nghiệt đó... À, ông có biết uống rượu không? Trong cái chai dưới gầm giường kia còn một ít đấy.


      Người đàn ông lấy cái chai và rót rượu ra cái bát vừa uống nước xong.

      - Mời cụ.


      - Không, tôi không biết uống rượu. Từ hôm giỗ ông nhà tôi vẫn còn đấy. Ông không có con à? Phải dạy chúng đấy ông ạ. Lòng thương yêu. Quí trọng mạng sống của con người. Đừng nuôi lòng thù hận, bất cứ ai.


      Người đàn ông vẫn chưa hiểu tận tường câu chuyện mà bà lão đang kể. Hình như bà thấy quá khó khăn nếu phải kể ra cái điều mà bà muốn quên đi, cái điều mà từ đó tai họa đổ ập lên gia đình bà, lên đời ông cụ, lên đời bà. Ông nhấp một tí rượu và chờ đợi.


      - Ông biết không, nó là một thằng bé rất kháu khỉnh, đôi mắt sáng, môi đỏ tươi, vầng trán thông minh. Nhưng ông biết sao không? Chúng tôi hình như càng ngày càng mất cái quyền được dạy dỗ nó. Không có quyền.


      Giọng bà trầm lại gần như bà đang nói với chính mình. Người đàn ông thấy một giọt nước mắt đặc quánh nặng nề lăn từ hốc mắt sâu hoắm của bà lão, dường như không đủ sức lăn xuống nữa, giọt lệ nằm lại nơi lưng chừng gò má nhăn nheo.


      - Năm mười lăm tuổi nó bỏ nhà đi không nói với chúng tôi lấy nửa lời. Hoảng. Chúng tôi đi tìm nó trong vô vọng. Mất ăn mất ngủ. Bệnh viện nào chúng tôi cũng đến, nhà giam nào chúng tôi cũng đến. Mấy thầy cô nơi trường cháu học cũng không thể trả lời chúng tôi. Chúng tôi chia nhau đi tìm. Ông về tận dưới quê nội, tôi ra tận quê ngoại. Không có. Chúng tôi tuyệt vọng ê chề.


      Người đàn ông nôn nao:

      - Nhưng cuối cùng có tìm ra anh ấy không? Thưa bà.


      Bà lão rót thêm cho mình một chén nước nữa, bà thổi nhẹ lớp váng và uống từ từ. Giọt nước mắt trên gò má nhăn nheo của bà cũng đã khô, chỉ còn để lại một chấm màu xam xám. Bên ngoài trời đã bắt đầu tối. Bà lão đưa tay dò tìm trong góc bếp lấy ra chiếc đèn dầu làm bằng một nửa cái chai nho nhỏ.


      - Ông thắp giùm đèn đi, tôi luộc mấy củ lang. Tôi đãi ông bữa tối bằng củ lang. Nhà chỉ còn có thế. Hôm nay tôi không xuống làng được, hết gạo từ mấy bữa nay.


      Người đàn ông đỡ cái soong từ tay bà lão và bắt lên bếp. Bài trường ca buồn vô hạn của đêm mùa hạ nơi đồi nương bắt đầu rả rích. Bóng của hai người rung rinh lay động trên vách lá rách nát. Hai mái của túp lều không đủ kín để che ánh sáng yếu ớt của những vì sao xa, và những con đom đóm chớp sáng khiến người đàn ông nhớ tới những đêm nằm rừng, ngửa mặt lên trời, nhớ đôi mắt của nàng, đôi mắt chứa đựng cả bầu trời xanh thăm thẳm.


      Mùi của khoai lang đang chín thơm lựng, ông nhớ đôi môi đỏ thắm của nàng. Đôi môi ấy đã mím chặt lại khi lần đầu tiên đưa một mẩu khoai mì lên miệng. Nhưng rồi gần chín năm trời, hai vợ chồng ông đã ăn khoai mì thay cơm.


      Bà lão cẩn thận vớt từng củ khoai để lên chiếc đĩa bằng sành cũng đã sứt mẻ. Từ cái bọc bằng nilon bà lấy ra một ít muối.


      Hai người ngồi ăn trong im lặng. Mỗi người đang thả dòng suy nghĩ của mình theo một hướng. Bà lão hình như chưa thể nói ra điều đau lòng. Người đàn ông lại nôn nao muốn biết tại sao người con bỏ đi, tại sao bà lão lại vừa đau xót vừa có vẻ như uất giận. Cuối cung bà lão lên tiếng:

      - Ừ này, ông ở đâu đi lạc về đây? Ông đang làm gì?


      - Cháu ở cách đây cũng xa, người đàn ông trả lời ậm ừ. Nói chung có nói cụ cũng không biết. Nhưng cụ yên tâm. Cháu là người đang cố sống lương thiện. Bây giờ cháu đi đâu, bất cứ nơi nào cũng chỉ để kiếm cái ăn, kiếm cái ăn bằng mồ hôi của mình.


      - Mà thôi. Trước đây cũng có một người lạc tới chỗ này. Người ấy cũng trạc tuổi ông. Cũng ít nói. Cũng cho mình đang cố sống lương thiện.


      5.


      Bà lão hình như quên mất câu chuyện mình kể dở dang, loay hoay dọn chiếc chõng tre.

      - Tối nay ông trải mấy cai bao kia gần bếp ngủ cho ấm. Đêm ở đây lạnh lắm.


      - Nhưng thưa cụ, người con của cụ sau có trở về không ạ?


      Bà lão leo lên chõng tre, chưa muốn nằm, ngồi thu gối lại, mắt lim dim xa vắng:

      - Thật ra tôi không muốn nhớ tới chuyện này ông ạ. Lại càng không muốn nhớ tới đứa con mà mình đã bứt ruột sinh ra. Nhưng biết làm sao, thưa ông. Giọt máu của chúng tôi mà!


      Người đàn ông đứng dậy kéo liếp cửa lại, trời bắt đầu trở lạnh. Gió thổi qua những khe cửa rách làm những mãnh lá kè rung lên tạo nên một thứ âm thanh rin rít. Xa xa về phía tận ngôi làng vọng đến tiếng chó sủa bâng quơ.


      - Nếu còn sống năm nay nó cũng gần bằng tuổi ông, à, mà tôi có biết tuổi ông là bao nhiêu đâu.


      Bà lão thở dài. Một lần nữa giọt nước mắt khô đặc lại rỉ ra nơi khoé mắt sâu hun hút của bà lão, rồi cũng như lần trước, nó không đủ sức lăn xuống mà đọng lại cam đành, chịu đựng.


      Nó bỏ đi thật ông à, bà lão lại xoay về chuyện cũ, không tin tức, không để lại chút dấu vết gì, như thể nó chưa hề hiện diện trên đời này. Còn chăng là nỗi đau trong lòng chúng tôi.


      Bà lão hít một hơi dài như để lấy can đảm để tiếp câu chuyện:


      - Hai năm sau từ ngày nó bỏ đi, một người trong làng đến nhà tôi với vẻ mặt hớt hải và bí mật, kéo tôi ra một góc sân, kề sát miệng vào tai tôi: "Đêm qua, nó về làng bà ạ." "Ai?". "Thì thằng con bà chứ ai". Giọng người đó nhỏ lại hơn "Nó mang súng có cả hai người lạ nữa cùng đi với nó" Lúc đó tôi nghe hai tai mình ù ù, đôi mắt hoa và không còn đứng vững nữa. Sau khi người khách ra về, tôi vào báo lại với nhà tôi. Ông im lặng. Tôi cũng im lặng. Nhưng trong lòng không khỏi khấp khởi mừng. Ít ra nó cũng còn sống ông ạ.


      Bà lão lại lau giọt nước mắt đã khô và cũng đọng lại một vệt xam xám trên gò má nhăn nheo.

      - Làm sao mà nó không ghé về nhà nhỉ? Ít ra cũng để thăm chúng tôi một lát chứ. Bà lão như nói chuyện với chính mình.


      - Có lẽ anh ấy bận công chuyên quá, người đàn ông an ủi. Ông hiểu ra chuyện gì rồi. Anh con trai đó đi đâu, làm gì, với ai, và trở lại làm gì, ông mơ hồ thấy được. Hình như trong thời kỳ ông sống trước đây, ông đã nghe nhiều chuyện như thế. Dĩ nhiên mỗi chuyện có khác nhau, nhưng cơ bản là giống nhau cái chung nhất


      Hồi còn học trung học, trong lớp ông cũng có vài người tự dưng biến mất, về sau thì nghe nói người này chết chỗ này, người kia đang xuất hiện đâu đó, bí mật, hư hư thật thật. Học xong trung học, cố gắng ngồi ở giảng đường đại học vài năm cuối cùng rồi cũng phải đi đánh nhau, tham dự vào cái trò chơi chém giết chẳng để làm gì, chỉ tìm cách trốn chạy những vây bắt của số phận con người trong cái thời buổi mà con người bị điều khiển bởi một hệ thống đủ màu sắc của cái gọi là văn minh vật chất, trong cái thời buổi mà ngôn ngữ của nhân gian cần phải được định nghĩa lại.


      Im lặng một lát bà lão lại lên tiếng:

      - Ông có mệt lắm thì đi ngủ trước đi, à, mà để lão kể tiếp chuyện này cho ông nghe.


      Bả lão thở ra một cái dài, nằm xuống, nghiêng người về phía người đàn ông, đôi mắt nhắm lại như cố ngăn một giọt nước mắt cũng gần như khô đặc chực len qua hai mí mắt.


      - Hai tháng sau kể từ lần trở về thứ nhất, cũng người hàng xóm ấy, vào buổi sáng sớm hớt hải chạy tới đập cửa nhà tôi, hổn hển "Khi đêm hắn về cũng với hai người lần trước, tập hợp dăm ba người gì đó, bắt chú nó trói lại quì xuống, nó đọc cái gì đó, xong hai người kia đè chú nó xuống và cắt đầu, không một tiếng kêu, chỉ thấy một vòi máu đỏ tươi phun ra. Xong họ lẳng lặng bỏ đi".


      Người hàng xóm nói một thôi dài, tôi chưa kịp nhận ra việc gì cả. Người hàng xóm vụt chạy đi. Tôi thẩn thờ bước vào nhà, không đủ sức gọi ông nhà tôi dậy. Tôi ngồi không biết bao lâu, chìm trong cơn mê và hình như tôi lịm đi cho đến khi tiếng kêu khóc vang lên chung quanh, tôi ngồi bật dậy. Tôi bắt đầu tỉnh lại và hiểu ra mọi chuyện.


      - Xác của chú nó được phủ một tấm vải trắng để nằm trên chiếc giường tre kê trước sân. Tôi thẩn thờ bước ra ngồi xuống bên cái xác đã gần như lạnh ngắt và cứng đờ.


      Tôi hiểu ra mọi chuyện rồi. Nó bỏ đi đâu suốt mấy năm trời, làm gì, theo ai, rồi tại sao chú nó bị chính nó giết. Chú nó làm hội đồng gì đó ông à. Mà tại sao lại giết chú của mình cơ chứ. Đau xót quá ông ơi. Mà ai bảo nó làm việc đó cơ chứ?


      Bà lão nấc lên nhưng tiếng nấc đọng lại trong cổ họng, trong đêm tối người đàn ông mơ hồ thấy một dòng máu lệ đang nghẹn ngào trào ra tận con tim già cỗi của bà lão.


      6.


      Sáng hôm sau, thu gom xong mớ sắt thép phế liệu và chất lên chiếc xe đạp đẩy của mình, người đàn ông sửa soạn lên đường, bà lão ra tận bờ suối. Ban mai trời lành lạnh, sương còn đọng trên lớp cỏ khô. Nhưng giọt sương không giống những giọt lệ khô của bà lão, chúng lóng lánh như những hạt thuỷ tinh đủ màu sắc. Một vài con chim sẻ ríu ra ríu rít bay tới bay lui như muốn hỏi tại sao con người lại có mặt tại đây và lấy cái gì để ăn khi chính chúng ngay hạt cỏ cũng khó mà tìm.


      - Ông sửa soạn đi đó à? Bà lão lên tiếng.

      - Cháu sẽ vào uống nước với cụ rồi xin phép đi.


      Khi đã vào trong nhà, ấm lá vối đã sôi sùng sục, ông rót ra hai chén, không mời bà lão, ông bưng chén và từ từ nhắp từng ngụm nhỏ.

      - Thưa cụ, ông nói, cháu không có gì nhiều, xin cụ nhận cho.


      Ông lấy cái bọc nilon nhét cẩn thận trong túi áo, lấy ra mấy đồng bạc đặt trước mặt bà lão.


      - Cám ơn ông, tôi không nhận đâu, tôi không cần tiền, tôi chẳng có việc gì phải tiêu tiền. Nếu cần gì tôi chỉ mang những thứ tôi có được xuống làng đổi, không cần tiền. Ông cất đi.


      Người đàn ông không dám nài nỉ. Sau khi uống hết bát nước lá vối, ông từ giả bà lão và lên đường. Chiếc xe đạp không đạp được lại cùng ông lang thang qua muôn dặm đường để tìm cái ăn. Chuyến này ông hi vọng có chút tiền khá khá với đống sắt chất thải chiến tranh này. Vợ ông hẳn đang mong ông về lắm. Chuyến này ông đi hơi lâu, không biết vợ ông ở nhà ra sao, có còn đủ gạo tiền cho nàng không.


      Người đàn ông trong một lúc quên mất bà lão và câu chuyện đau lòng của bà. Ông đang nghĩ đến vợ mình và tưởng tượng cái giây phút hạnh phúc ôm nàng trong tay. Đôi mắt xanh thăm thẳm hun hút một nỗi thèm khát cháy bỏng, cặp môi của nàng lúc nào cũng mọng lên như chờ đợi nguồn ái ân cuồng nhiệt. Thế nào cũng phải có với nàng một đứa con, anh nghĩ thầm và mỉm cười một mình. Không! Phải hai đứa con mới được. Một trai, một gái. Rồi ông lại tưởng tượng ra khuôn mặt của hai đứa con. Thằng cu sẽ giống ông. Bé gái sẽ giống nàng. Bấy giờ ông sẽ không đi làm cái việc này nữa. Sẽ dành dụm tiền mua vài công đất, làm một cái nhà lá, nuôi vài ba con heo, dăm bảy con gà. Hàng ngày ông sẽ làm vườn, nàng chăm các con và lo việc vặt trong nhà. Gia đình ông sẽ sống một cuộc sống bình dị, đầm ấm và hạnh phúc. Ông sẽ trở lại vùng này để đón bà lão về chăm sóc. Ông sẽ gọi bà là mẹ. Các con ông sẽ có bà nội.


      Mãi nghĩ mông lung, ông ra đến đường cái lúc nào không hay. Lòng đang phấn chấn ông đẩy xe chạy bon bon, quên cả mệt nhọc.


      7.


      Với đống chất thải chiến tranh đó ông kiếm được cũng khá. Gởi chiếc xe-đạp-không-đạp-được tại nơi thu mua phế liệu, ông vừa đi vừa chạy mong sao khoảng bốn năm giờ sáng hôm sau là ông về đến nhà. Có lúc khát quá ông ghé vào bất kỳ một nhà dân nào đó xin gáo nước lạnh rồi bối hả đi tiếp. ông đang vui với cái tương lai tưởng tượng của mình, lòng ông tràn ngập về một cái-hạnh-phúc-chưa-có-thật.


      Bóng tối đổ xuống bao giờ ông cũng không hay. Ông vẫn lầm lũi trong bóng tối. Say cái hơi men của một hạnh- phúc-chưa-có-thật trong bóng tối. Bóng tối của đất trời. Bóng tối của thế gian. Bóng tối đã chụp xuống đời ông, đời bao nhiêu người khác trong từng giờ, từng ngày, từng tháng năm. Và bây giờ thì ông đang chạy trong bóng tối mà lòng thì mơ về một thứ ánh sáng của hạnh phúc.


      Ông mệt lã ngồi xuống bên bờ một cái mương trước lối vào cái chòi của minh. Hình như có một tia sáng yếu ót rựng lên ở phía xa bầu trời, lác đác vài tiếng gà eo óc gáy nặng nề đâu đó không đủ sức xua đuổi khí lạnh u uất đang trùm lên mọi vật.


      Ông gắng đứng dậy đi về phía chòi của mình cũng vừa lúc liếp cửa chòi hé mở. Một người đàn ông hơi khom lưng xuống để bước ra, chợt nhìn thấy có người đến, ông ta quay ngay vào. ông bỡ ngỡ đứng lại. Và chỉ một thoáng sau, vợ ông bước ra đi vội về phía ông. Khuôn mặt nàng lạnh lùng dù đôi mắt hãy còn ngái ngủ. Nàng không nhìn ông, đưa tay chỉ về hướng mà ông vừa từ đó đi tới:


      - Có lẽ ông nên đi khỏi đây thì hơn, nàng nói, tôi đã tự lo cho tôi được rồi, và ông, ông cũng hãy biết tự lo cho ông đi. Mong rằng ông không bao giờ trở lại đây nữa.


      Tia sáng yếu ớt không đủ sức xuyên qua lớp mây mù đang ùn lên khắp nơi. Trời chưa kịp sáng hình như đã tối lại. Người đàn ông nghe tim mình nhói đau, dòng máu lạnh tanh đọng từng cục len đi lạo xạo trong người ông. Không một lời, ông quay lại lối cũ, con đường ông vừa mới đi qua trong đêm tối, giờ trở lại, ngày vẫn chưa lên.


      (Ghi chú của tác giả: Hình như người đàn ông sau đó có tìm lại căn chòi của bà lão nhưng không gặp, bà đã bỏ đi đâu hay đã chết, không ai biết. Người đàn ông thì nghe đâu sau đó mấy năm đã định cư ở nước ngoài. Và cho đến bây giờ chưa bao giờ tác giả gặp lại hay biết tin tức gì.)


      Lê Nam Phương (vantrungle.blog)

      Thư Quán Bản Thảo tập 31, Tháng 4-2008



      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Đời Có Nhiều Chuyện Đáng Buồn Lê Nam Phương Truyện ngắn

    3. Truyen

       

      Truyện

       

      Mượn Hồn (Lệ Hằng)

      Rất Gần Mà Cũng Rất Xa (Hoài Ziang Duy)

      Yêu Người Độ Lượng (Trần Yên Hòa)

      Lời Sám Hối Của Cha (Võ Hồng)

      Ký ức Mẹ - Đi về phía hoàng hôn (Trần Yên Hòa)

      Ngày về (Vương Mộng Long)

      Quán Biên Thùy (Trần Hoài Thư)

      Trả Ơn (Minh Tâm)

      Bệnh Viện và Nghĩa Trang (Trần Mộng Tú)

      Ðêm Giao Thừa Của Những Người Lính Mất Nước (Phạm Thành Châu)

      Bên Kia Núi (Võ Kỳ Điền)

      Thư Giáng Sinh, viết từ Thiên Đường (Lê Hữu)

      Người về (Trần Yên Hòa)

      Las Vegas, Đêm Dài Nhất (Lê Hữu)

      Quán Trà Thinh Lặng (Trần Mộng Tú)

      Hà Nội uống như thế ấy (Thế Giang)

      Không phải tại em (Trần Yên Hòa)

      Hồi Sinh (Viên Linh)

      Thầm Lặng (Doãn Kim Khánh)

      Người Tù Thiền (Trà Đoá)


      Truyện Đạo

       

      Im Lặng Của Thiền Sư (Phan Trang Hy)

      Kể Lại Vài Giai Thoại Trong Tập Vào Thiền

       (Doãn Quốc Sỹ)

      Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp (Hồ Hữu Tường)

      Sợi Tơ Nhện

         (Akutagawa Ryùnosuke, Nguyễn Văn Thực dịch)

      Những Hạt Ðậu Biết Nhảy

         (Lâm Thanh Huyền, Phạm Huệ dịch)

      Mẹ Quán Thế Âm

         (A. Ryùnosuke, Lâm T. Huyền, Phạm Huệ dịch)

      Maria Quán Thế Âm

         (Lâm Thanh Huyền, Phạm Huệ dịch)

       
         

      Phim VN trước 1975

       

      (Thẩm Thúy Hằng-Kiều Chinh-ThanhNga-BạchTuyết)

       

      - Chiếc Bóng Bên Đường   - Nàng (1970)

      - Người Cô Đơn (1972)    - Xa Lộ Không Đèn

      - Bão Tình (1972) - Sóng Tình (1972)

      - Chúng Tôi Muốn Sống (1956)

      - Trường Tôi (1973) - Nắng Chiều (1973)

      - Giỡn Mặt Tử Thần (1975)

      - Năm Vua Hề Về Làng (1974)

      - Tứ Quái Sài Gòn  - Những Giọt Sương Khuya

      - Như Hạt Mưa Sa 1 - Như Hạt Mưa Sa 2

      - Như Hạt Mưa Sa 3 - Như Hạt Mưa Sa 4

      - Vượt Sóng

       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)