1. Head_
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Anh Em (Trần Yên Hòa)

      6-11-2020 | TRUYỆN

      Anh Em

        TRẦN YÊN HÒA
      Share File.php Share File
          

       


      1.


      Ông Tư và ông Năm có những ngày tuổi thơ rất xanh màu da trời và rất hồng màu ráng chiều, nghĩa là ở một vùng quê có dòng suối Sầu Đâu và dòng sông Tam Mỹ. Dòng suối chảy vòng vòng qua những làng trên xóm dưới. Dòng suối cạn nên hai đứa bé cởi bò, bơi qua suối trong những ngày mùa gặt, cả khu Đồng Đất ồn ào rộn rịp, ca bài ca gánh gánh gánh gánh thóc về.


      Những ngày tuổi thơ vắt ngang lưng những sợi tơ vàng, khu Đồng Đất, xóm Gò, suối Sầu...Người mẹ tất tả sáng sớm thức dậy nấu cơm, nấu đồ ăn, cùng người cha ngồi trong căn nhà bếp. Hai ngưới nói chuyện râm rang, chuyện trời mưa trời nắng. Con Mơ con nhà bà Đương lấy chồng về xóm Đồng Rạ, sống không được thế nào ấy, mà bỏ về nhà khóc bù lu bà la. Thằng Quê bỏ quê mà đi vào Sái Gòn lập nghiệp rồi, nó than, quê hương chó ỉa. Thằng ba Đạt vào biệt kích đánh trận đâu trên Kỳ Sơn chết đem xác chở về chôn ở xóm Gò. Con tám Hường con ông Thông cũng bỏ chồng về sống với bà An, làm cái chòi ở xóm ông Đốc. Những chuyện trời mưa trời nắng đó, đã đưa cha mẹ trở về tháng ngày tuổi thơ đầy trăng sao hoa mộng của những mùa trăng thơ ấu cũ.


      Rồi những ngày ông Tư đi lính đóng tuốt xa đâu ở vùng hai chiến thuật, còn ông năm cày lội lên thác xuống ghềnh ở vùng một, đầy bom mìn, lựu đạn, AK.


      Cũng may, hai ông đã thoát qua khỏi cơn chiến tranh đau đớn, xao xác đó.


      Ông Tư đi tập trung ở Trảng Lớn. Rồi đi qua khắp cả những trại tập trung hung hản nhất, thì ông năm cũng vào lò cải tạo... Suốt trong gần mấy năm xa cách, hai anh em không gặp nhau. Những đêm thâu trằn trọc không ngủ được ở Trảng Lớn, ở Thành Ông Năm, ở Suối Máu, ở Long Giao, ở Long Khánh, hai ông chỉ mong ra hiện trường sản xuất để thấy nhau, ngó nhau chút thôi cũng được, nhưng vẫn không thấy, vì ở hiện trường lao động sản xuất, số tù đông như kiến. Chỉ biết nhau do người nhà thăm nuôi kể lại, thằng G đang cũng ở khu này, mi có gặp không? Đâu có gặp, trong hàng rào kẻm gai mà làm sao gặp được. Chị Ba nói như hai người đang sống ở ngoài đời vậy.


      Ông Tư về trước ông năm mấy năm, ông lại từ miền Nam về Trung, xuôi theo chuyến tàu chợ, chở đầy súc vật, mắm, muối, gạo, rượu, của đám người đi buôn hàng chuyến. Ông phải đi bộ thêm hai mươi cây số nữa mới tới chỗ ông Năm. Nhìn dáng thằng em gầy trơ xương ông thương quá là thương, nhưng rồi ông nhìn lại mình, cũng vậy chứ có khác chi mô, cũng trơ xương như người trong nạn đói năm Ất dậu.


      Hai anh em nghẹn ngào không nói được câu nào ra hồn, ông Tư, ừ thì ngoài mình cũng bình an, nhờ ơn cách mạng anh có công ăn việc làm, ở kinh tế mới anh vào rẫy cày sâu cuốc bẫm cũng đủ ăn... ông Năm, cảm ơn cách mạng, em an tâm học tập tốt lao động tốt, mong sớm về với gia đình.


      Thời gian trôi qua, đến sáu năm, ông Năm trở về. Ông đã lên cùng ông Tư cũng chun vào rẫy bái ở khu kình tế mới... cũng cày sâu cuốc bẩm mà kiếm không ra đủ hột gạo để nuôi thân...


      Rồi hai ông cũng lê thê lếch thếch kéo nhau về Sài Gòn, ông Năm chạy xích lô, ông Tư đi bỏ hàng lặc vặt kiếm ăn qua ngày. Buổi chiều khi mọi chuyện đã xong thì hai ông hẹn nhau xuống quán cơm bà cả đọi. Như vậy cũng suốt bốn, năm năm...


      2.


      Rồi cũng hai mươi năm sau, gió hải ngoại rít lên qua những tầng mây xám.


      Ông Tư về vùng đất lạnh bên trời tây bắc. Ông Năm về vùng nắng ấm. Những hai mươi năm sau hai ông mới gặp lại (dù hằng năm ông Tư cũng về thăm thằng Năm mấy lần).

      Tương phùng. Đúng là tương phùng.


      Tóc hai ông già đều bạc. Nhưng xí xọn chút cho coi được, cho như còn thời trai trẻ, cố lấy lại tuổi thanh xuân. Tóc hai người đều nhuộm. Trông trẻ hơn, nhưng sức nặng của thời gian đã đè xuống, khiến hai ông nhin đời bằng con mắt ngơ ngơ. Tóc ông Năm nhuộm đen tuyền còn ông Tư màu nâu sẩm. Họ cố kiếm nhà ở gần nhau. Hai ông lại vẫn sáng, trưa, chiều, tối, bên chung trà, bên chén rượu.


      Một buổi sáng bà Tư gọi ông Tư, ông ơi, ông ơi. Tai ông Tư bây giờ điếc đặc. Cái điếc của ông cũng mấy năm rồi, nhưng nó từ từ đến. Đến bây giờ ai nói, phải kê sát miệng vào tai ông nói lớn. Người ngoài nghe tưởng là có chuyện gì họ cự nự nhau.


      Bà Tư nói với ông Năm, ổng điếc lắm, tui cũng mệt cho ổng. Nói chuyện với ổng phải múa chân múa tay. Nói vậy nhưng bà thương ông, thường pha cho ông bình trà ngon, nấu cho ông tô ốc miu loãng để ông ăn sáng. Ông thích nhâm nhi ốc miu bên li trà và ngồi lướt net.


      Ông Năm là người sa đà những chuyện vớ vẩn trên đường tình. Qua bà thứ nhất vì tù tội, nên ông trở về mỗi người mỗi ngã. Ông kết bà hai, cũng gãy đổ. Rồi đến bà ba cũng bỏ đi, ông nghĩ đàn bà sao dữ như con chằn lửa. Ông săm soi đời mình từ ngày ông còn cởi truồng, leo lên lưng bò tắm suối.


      Đến bây giờ ông lại trở về nỗi cô đơn thui thủi một mình.


      Ông Tư thấy đứa em lận đận như vậy quá thương. Dù biết rằng mỗi người có một số trời định, nhưng thằng em của ông là một đời nghiệt ngã. Ông Năm có số đào hoa, nhưng thật ra, ông không lang bang, bạ ai yêu đó. Ông yêu ai, lấy ai, là yêu chết bỏ và trung thành chết bỏ. Ông không có cuộc ngoại tình nào.


      Nhưng dù có trung thành bao nhiêu đi nữa, thì (các) bà Năm cũng ghen nhau. Bà Năm ba tìm đâu một tấm hình cũ của bà Năm hai chụp với người chị, một thời xa lắc, liền tru tréo lên những lời phỉ báng độc địa rồi khăn gói... ra đi. Ông Năm có giải thích thế nào thì cũng là những lời vô vọng. Ông đành im lặng nhìn trời hiu quạnh.


      Đàn bà là con ma. Ông Năm thường tự nhủ mình vậy, nhưng thiếu vắng con ma lòng ông tự dưng ông thấy nhớ. Trở về mái nhà xưa với các bà Năm: một, hai, ba, không được, ông phải đi tìm một người khác thế thân.


      Đó là cái số, ông Tư thương thằng em lao đao vì chuyện đàn bà. Nhưng biết làm sao? Thôi thì nó đi đâu cố đi theo nó.


      Ông già bảy bảy lẽo đẽo bên ông già bảy ba. Cà phê ngồi quán ông bảy ba phải nói thật to lên, chứ không thì ông bảy bảy cứ ngửa cổ lên ngóng. Cái gì, mi nói gì tau không nghe rõ. Điếc mà, mi không biết sao?


      Cuộc nói chuyện có lúc sôi nổi như cải cọ chuyện gì.


      Ông Năm nói nhỏ vào tai ông Tư. Tui phải kiếm một bà nữa anh Tư ơi. Một mình vò vỏ quá.


      Ông Tư gục gặc cái đầu.

      Ừm. ườm.


      Ông Tư im lặng, ông muốn nói một điều gì đó cho ông Năm biết, theo sách giáo khoa thư, như nhân nghĩa lễ trí tín, hay với người đàn bà phải tam tòng tứ đức, công dung ngôn hạnh... Ông gục gặc cái đầu chưa kịp nói ra thì ông năm nói trước:


      Thôi, nghĩ cũng mệt quá anh Tư à, tui đã từng tuổi này mà phải bắt đầu từ con số không thì mệt quá. Tui xin nghỉ xả hơi cho khỏe. Mình một mình ngủ nghỉ ung dung, không có ai quấy rầy thì tốt nhất. Thỉnh thoảng xuống thăm con, bồng cháu, giỡn hớt với tụi nó cũng vui. Rồi chiều chiều qua anh cùng anh chè chén... lai rai ba sợi, thế là vui rồi, phải không anh Tư?


      Ông Tư e hèm.

      Ườm, ườm...


      Trần Yên Hòa

      Tác giả gởi



      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Anh Em Trần Yên Hòa Truyện ngắn

      - Tiếng Gọi Trần Yên Hòa Thơ

      - Tưởng, Vọng Trần Yên Hòa Thơ

      - Trang Thơ Trần Yên Hòa (2) Trần Yên Hòa Thơ

      - Giới Thiệu Sách Mới: Bi Kịch Bản, Truyện dài Trần Yên Hòa Giới thiệu

      - Thông Báo về việc Thành Lập Nhà Xuất Bản Bạn Văn Nghệ - 2020 Trần Yên Hòa Thông báo

      - Người trở về Trần Yên Hòa Truyện ngắn

      - Lên "Phây" Trần Yên Hòa Truyện ngắn

      - Những lần gặp (ít ỏi) Du Tử Lê Trần Yên Hòa Hồi ức

      - Sa Giang Trần Tuấn Kiệt, người làm thơ lãng tử Trần Yên Hòa Hồi ức

    3. Truyen

       

      Truyện

       

      Đường Vẫn Ngược Chiều (Nguyễn Thị Thanh Dương)

      Anh Em (Trần Yên Hòa)

      Cặp Song Sinh Ái Nhĩ Lan (Đào Anh Dũng)

      Con Sáo Của Em Tôi (Duyên Anh)

      Hãy xét đoán cho công minh (Đào Anh Dũng)

      Đêm Tân Hôn (Nhật Tiến)

      Hoa daffodils vàng, bán một nửa giá (Lê Hữu)

      Người Khách Lạ (Trần Văn Tuyên)

      Vác chõng mà đi (Đào Anh Dũng)

      Người Chết Hai Lần (Nguyễn Lệ Uyên)

      Me Tôi (Duy Lam)

      Chiếc Rolex Ân Nghĩa (Quốc Bảo)

      Trên Đường (Hoàng Yên Trang)

      Bức Tranh (Song Linh)

      Người Con Gái Duy Xuyên (Hương Thủy)

      Theo Đạo Vợ (Đào Anh Dũng )

      Nhà Sư Và Linh Mục (Phan Ni Tấn)

      Bên Sông Thạch Hãn (Điệp Mỹ Linh)

      Vé số cuộc đời (Đào Anh Dũng)

      Hoa anh đào nở rộ (Lê Hữu)


      Truyện Đạo

       

      Im Lặng Của Thiền Sư (Phan Trang Hy)

      Kể Lại Vài Giai Thoại Trong Tập Vào Thiền

       (Doãn Quốc Sỹ)

      Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp (Hồ Hữu Tường)

      Sợi Tơ Nhện

         (Akutagawa Ryùnosuke, Nguyễn Văn Thực dịch)

      Những Hạt Ðậu Biết Nhảy

         (Lâm Thanh Huyền, Phạm Huệ dịch)

      Mẹ Quán Thế Âm

         (A. Ryùnosuke, Lâm T. Huyền, Phạm Huệ dịch)

      Maria Quán Thế Âm

         (Lâm Thanh Huyền, Phạm Huệ dịch)

       
         

      Phim VN trước 1975

       

      (Thẩm Thúy Hằng-Kiều Chinh-ThanhNga-BạchTuyết)

       

      - Chiếc Bóng Bên Đường   - Nàng (1970)

      - Người Cô Đơn (1972)    - Xa Lộ Không Đèn

      - Bão Tình (1972) - Sóng Tình (1972)

      - Chúng Tôi Muốn Sống (1956)

      - Trường Tôi (1973) - Nắng Chiều (1973)

      - Giỡn Mặt Tử Thần (1975)

      - Năm Vua Hề Về Làng (1974)

      - Tứ Quái Sài Gòn  - Những Giọt Sương Khuya

      - Như Hạt Mưa Sa 1 - Như Hạt Mưa Sa 2

      - Như Hạt Mưa Sa 3 - Như Hạt Mưa Sa 4

      - Vượt Sóng

       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)