|
|
|
|
|
VĂN HỌC |
GIAI THOẠI | TIỂU LUÂN | THƠ | TRUYỆN | THỜI LUẬN | NHÂN VẬT | ÂM NHẠC | HỘI HỌA | KHOA HỌC | GIẢI TRÍ | TIỂU SỬ |
Thơ Văn Trần Y. Hoa & Bằng hữu
Thơ Văn Trần Yên Hoà & Bằng hữu

Hoài Cảm khi hát lên ca khúc này, khi hát lên “Lòng cuồng điên vì nhớ …”, “Cố nhân xa rồi, có ai về lối xưa …” người hát tài tử, cũng như chuyên nghiệp, tôi chắc rằng cảm xúc của họ tràn qua hơi thở. Không chỉ hai câu này đến từ kinh nghiệm chung, hầu như ai cũng trải qua; đến từ cảm động chung, hầu như ai cũng nao nao, mà toàn bộ bài hát tạo ra một không khí chơi vơi, thương thương trong lồng ngực, nhớ nhớ khi nhắm mắt cho lời ca thoát vào hồn người không chỉ qua đôi tai mà thấm vào chân lông. Mơ màng.
Đây là cảm xúc, tác dụng do ca từ tạo ra.
Nhưng còn tác giả thì sao? Thông thường, ca từ, thơ, văn, người ta thỏa thuận với nhau, cảm xúc từ tác giả ghi lên văn bản, chuyển qua người thưởng ngoạn.
Hoài Cảm ra đời năm 1953 bởi một cậu trẻ 14 tuổi. Thời 50, tuổi trẻ còn đằm thắm khi trai gái ngồi bên nhau, còn lãng mạn hứa hẹn mà hầu hết không được thực hiện. Không trải nghiệm ái tình vật lý, chúng ta nghe: “Mơ hồ như lá thu mưa … Sương buồn lắng qua hoàng hôn …” Còn cậu trẻ 15, có thể yêu sớm, hầu hết là yêu thầm, yêu một chiều. Mà yêu một chiều thì không có vết tích gì. “Như mơ hồ về trong đêm tối …” Bạn nên hát thử đi, hát lại, tôi biết bạn đã từng hát và từng hụt hẫng khi trào ra, cố nhân, có còn về đây chăng?
Bạn hát hết bài, bạn thấy gì không?
Tôi thấy, một người yêu vô hình. Toàn thể ca từ không có một mô tả nào về người yêu như “Thân em mong manh như một cành Lan …” (Gọi người yêu dấu, Vũ Đức Nghiêm), “Nhớ dáng em thon dài khuất chìm sau ngàn lá ...” (Thu Ca, Phạm Mạnh Cương) , “Nắng có hồng bằng đôi môi em. Mưa có buồn bằng đôi mắt em …” (Như Cánh Vạc Bay, Trịnh Công Sơn) … Không, hoàn toàn không có. Cố nhân mà cậu trẻ gọi, hoặc là khái niệm trữ tình của thời Xuân Diệu Huy Cận ám ảnh, hoặc là một nhân vật tưởng tượng mà ca từ chưa dám bước qua cánh của trưởng thành. Đây có thể là nỗi nhớ say mê chính sự khao khát hơn là đối tượng được nhớ. (Reflective nostalgia của Svetlana Boym, The Furure of Nostagia, 2001.)
Bạn còn thấy gì nữa?
Tôi thấy cả bài hát không có “anh”, “em” , chỉ có “người”, “ai”, “cố nhân”. Sự vắng mặt của những đại danh từ trong cõi tình khiến ca khúc trở thành một chuyện tình không có ai sở hữu, bất kỳ ai cũng có thể tự đặt mình vào đây để say mê. Đó cũng là một lý do bài hát này mang cảm xúc cao đến cho những người hát.
Bạn đã hát hết bài, bạn còn thấy thêm gì?
Đừng hát. Hãy đọc lại. Đọc chậm. Bạn sẽ thấy: lén lén, thấm, lấn, che kín, … cách nhạc sĩ sử dụng động từ làm cho cảnh tượng sống động: Chiều buồn len lén; Lá thu ngân lên; Quạnh hiu thấm không gian, lấn vào hồn; Sương buồn lắng qua; không phải người là cảnh vật có tâm tư có hành động. Ông tạo ra cái lơ mơ của buồn pha nhớ mà mông lung, để làm gì?
Để “Lòng cuồng điên vì nhớ …”
Để “Cố nhân … có ai về lối xưa?”
Điểm hay mê mệt này nối vào những cái hay của thời Thơ Mới, của tùy bút Nguyễn Tuân, của một thời Lãng mạn và trữ tình trong văn thơ Việt.
Bạn đang chơi đàn, bạn đàn xong, bạn nghe được gì?
Bài hát bắt đầu từ A thứ, nỗi buồn chung chung. Đoạn giữa chuyển sang Do trưởng, nỗi nhớ nổ bùng, chữ “nhớ” nằm đúng nốt cao nhất (mi) tạo ra vang vọng, thoát lớn, gây căng thẳng rồi hạ xuống. cao trào lại dâng lên “Một mùa thu xa vắng …” Vắng rơi vào nốt cao (mi) bằng nốt nhớ. Nhấn mạnh chiều buồn này là trong mùa thu, có mưa thu, làm nhớ mùa thu cũ. Về ý nghĩa của gia điệu và ý nghĩa của ca từ thì khớp đúng theo bài bản, nhưng về tứ ca từ: Đây thực sự là kỹ niệm nào đó hay chỉ là những ca từ tồn kho được sắp theo cung cách nghệ thuật để tạo ra tình cảm?
Đây có phải là chỗ đáng trừ điểm? Chúng ta sẽ trở lại.
Rồi đoạn kết, trở về A thứ, để tỏ lộ sự cam chịu như rất nhiều mối tình tan vỡ. Có thể thấy ông sử dụng những dảy chữ cho tứ ca từ có sẳn, như “Hẹn nhau một kiếp xa xôi / nhớ nhau muôn đời mà thôi / Nhớ thương biết bao giờ nguôi?”
Khó mà viết một ca từ cho toàn ca khúc từ đầu đến cuối đều khác lạ hoặc gây cảm xúc và điều này sẽ không bao giờ xảy ra, nếu có, những mới lạ liên tục sẽ làm người nghe khó chịu. Thực tế, ca khúc nói lên tài năng sáng tác ở chỗ quan yếu là tạo không khí chung cho cả bài. Không khí nào sẽ tạo ra tâm trạng nấy. Nếu không khí bài hát ảm đạm, nhớ nhung thành công sẽ tạo ra trạng tháo ảm đạm, nhớ nhung trong lòng người nghe. Tác giả tạo không không khí. Người thưởng ngoạn mở tâm trạng.
Trong bài phỏng vấn với Ngọc Lan, báo Người Việt, Cung Tiến nói: “Hoài Cảm là bài hát mà tôi viết ra trong tưởng tượng.” Câu này, nói ra một cách nhẹ nhàng, làm lung lay một niềm tin rất lâu đời của nghệ thuật: phải có vết thương, phải có đau nhức, rồi mới viết được nỗi đau. Tolstoy, trong Nghệ thuật là gì?, định nghĩa nghệ thuật là việc một người truyền cho người khác những cảm xúc chính mình đã sống qua. Theo định nghĩa ấy, Hoài Cảm không đúng trong tồn tại. Một cậu bé 14 tuổi không có cố nhân, không có ân tình cũ, cũng có thể không có nỗi nhớ nào đến mức cuồng điên. Vậy mà suốt bao nhiêu năm, bao nhiêu người đã khóc khi nghe “nhớ thương biết bao giờ nguôi?”
Nếu cảm xúc không chảy từ tác giả sang người nghe, thì nó đến từ đâu? Như chúng ta đã phân tích, Hoài Cảm là một khung tâm lý không ai sở hữu, ai vào muợn tạm năm phút rồi ra. Nghĩa là, cảm xúc trong ca từ không truyền đi mà khơi dậy cảm xúc của người nghe, người hát. Mỗi người bước vào cái khung Hoài Cảm rồi tự mình dựng lên một chuyện tình, một cố nhân, một xa cách, một nỗi buồn dính líu đến mùa thu và có lẽ hầu hết chúng ta đều có một cố nhân nào đó, để lại thỉnh thoảng một nỗi nhớ len lén, một chút hư cấu cho đời đẹp nhẹ, buổi chiều chợt nhớ cố nhân …
Nhìn cái khung khơi dậy cảm xúc này mới nhận ra tài của Cung Tiến, dù ông không biết, nên ông đã nói trong bài phỏng vấn trên, ca khúc này đối với ông là kỷ niệm nhưng không quan trọng. Không, nó quan trọng vì nó đưa ra một phong cách sáng tác mà nhiều nhạc sĩ mong ước, làm sao để tạo cảm xúc cho người nghe? Và người hát?
T.S. Eliot đã thấy điều này từ năm 1919: “Thơ không phải là sự buông thả cảm xúc, mà là một lối thoát khỏi cảm xúc.” Ông gọi kỹ thuật ấy là tương quan khách quan: muốn gây một cảm xúc, nhà thơ phải tìm ra một chuỗi vật thể, tình huống và sự kiện để khi đặt lên trang giấy sẽ tự động làm cảm xúc đó trỗi dậy. Fernando Pessoa còn nói thẳng hơn: “Nhà thơ là kẻ giả vờ / giả vờ trọn vẹn đến mức / giả vờ luôn cả nỗi đau / mà anh ta đau thật sự.” Hoài Cảm là bằng chứng trong âm nhạc Việt cho luận điểm này.
Không ai ngờ, mấy chục năm sau, khung khơi dậy cảm xúc của Hoài cảm lại giải thích một phần nào cách AI viết mô tả cảm xúc để tạo cảm xúc cho người nghe, người đọc.
Đặt cậu trẻ Cung Tiến cạnh một mô hình AI, ta thấy hai bên giống nhau nhiều hơn ta tưởng, và khác nhau ở một chỗ sâu hơn ta nghĩ.
Chỗ giống nhau. Chính ông thừa nhận lời ca được nhào nặn từ những bài thơ học ở trường: Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư. Nói theo ngôn ngữ thời nay, cậu trẻ đã được “huấn luyện trên dữ liệu” Thơ Mới. Nỗi nhớ trong Hoài Cảm là nỗi nhớ học được từ nỗi nhớ của người khác, chẳng khác gì cách một mô hình ngôn ngữ học được nỗi buồn từ hàng triệu trang người ta đã viết về nỗi buồn. Không ai sáng tác từ hư không, kể cả thiên tài.
Chỗ khác nhau. Hoài Cảm là “hoài niệm không có quá khứ”. Có lẽ cần nói chính xác hơn: Cung Tiến giả đối tượng, nhưng không giả cảm xúc. Cố nhân là tưởng tượng. Nhưng buổi chiều Hà Nội là thật, tiếng lá là thật, sương mù có thật, ít nhất là dữ liệu trong kho nhớ, trong vô thức. Cái cảm giác man man, buồn buồn, trong lồng ngực một cậu thiếu niên năm 1953 cũng là thật. Ông cần một cái cớ để nhạc vang lên, và “cố nhân” là cái cớ đó. Đúng như chính ông nói, người yêu là hư cấu. Còn những động từ len lén, thấm, lấn thì có thể đến từ một cảm giác có thật trong thân thể. Còn một khác biệt nữa, ít ai nói đến. Viết “lá thu mưa” là một lựa chọn kỳ quặc, có thể bị chấm là sai ngữ pháp. Ông chọn nó vì với ông nó đúng, dù không chắc người khác thấy vậy.
AI không có một buổi chiều riêng, lá thu riêng, không lối về riêng. Không có thân thể để cảm nhận. Nhưng nó có dày đặc triệu triệu những dữ kiện theo cách con người viết về nỗi nhớ man man. Và nó mô phỏng chỉn chu về tâm trạng thương nhớ đó để tạo cảm xúc.
Nếu AI viết hay và làm người ta xúc động, sáng tác sẽ ra sao?
Thứ nhất. Nếu người nghe xúc động, cảm xúc này là thật, bất kể ai viết ra bài hát. Hoài Cảm đã chứng minh cảm xúc của người nghe không cần cảm xúc tương ứng của tác giả. Phủ nhận điều này với AI mà vẫn chấp nhận nó với Cung Tiến 14 tuổi là thiếu nhất quán.
Thứ hai. Cơ nguy thật không phải AI viết dở, mà là AI viết “đúng” quá. Bản chất của mô hình ngôn ngữ là ưu tiên những chữ có xác suất cao, tức những gì nhiều người đã viết. Nhưng thi ca sống động, có hồn ở những từ, cụm từ ít xuất hiện. “Lá thu mưa” là một cụm chữ xác suất thấp, gần như sai, nhưng vừa nghe đã thấy đúng. Nếu AI cứ chọn chữ an toàn, ta sẽ có những bài hát buồn đẹp, trơn tru, đúng chỗ. Đó sẽ là trung bình cộng của mọi nỗi nhớ, nghe một lần thấy hay và không ai nhớ nổi. Lạm phát cảm xúc là nguy cơ, cũng như thiếu cảm xúc. AI thường lạm dụng, nhạc sĩ thường thiếu.
Thứ ba. Nhiếp ảnh đã từng đặt câu hỏi này cho hội họa. Khi máy ảnh ra đời, người ta tưởng hội họa sẽ chết. Hội họa không chết, nhưng bị buộc phải trả lời câu hỏi: tại sao phải vẽ khi máy đã chụp được? Từ câu trả lời ấy sinh ra Ấn tượng, Lập thể, Trừu tượng. AI đặt cho người viết ca khúc một câu hỏi tương tự: tại sao tôi phải viết bài này, mà không ai khác, và không máy nào, viết được? Những ai trả lời được câu đó sẽ viết hay hơn, giá trị hơn theo cách AI không thể bắt chước.
Có thể đưa đến một kết luận, một ca khúc ra đời nếu nó hay, nó hợp nhĩ, thì nghe. Nếu nó rẻ tiền, chói tai, dỏm, thì tắt. Về mặt nghệ thuật thì sẽ có những nhà phê bình phân tích soi cho chúng ta biết. Có lẽ mỗi thời đại sẽ có quan điểm khác nhau và xin nhắc AI sẽ còn tiến bộ cấp tính trong tương lai, những gì bàn về AI hôm nay sẽ lỗi thời trong mai hậu. Còn Hoài Cảm đã sống được 73 năm tính đến 2026, thì không chắc gì nhạc AI có thể sống lâu như vậy?
Ghi nguồn dẫn.
• RFA – Nhạc sĩ Cung Tiến và những sáng tác (phỏng vấn Mặc Lâm, 2007)
• Dòng Nhạc Xưa – Hoài Cảm (Cung Tiến), đăng lại bài phỏng vấn của Ngọc Lan (báo Người Việt, khoảng 2010–2011).
• VnExpress – Nhạc sĩ Cung Tiến qua đời
• Du Tử Lê – Việt Hải: “Cung Tiến: Những tình khúc lãng mạn về cố nhân”,
• Báo Pháp luật – “Cố nhân xa rồi có ai về lối xưa?” là nguồn của nhận xét “nhạc xưa nhưng không cũ bao giờ” của Phan Lạc Phúc. (Không có văn bản chính.)
• Tuổi Trẻ – “Nhạc sĩ Cung Tiến: Dạt dào gọi những âm xưa”
• Tuấn Khanh – Nhạc sĩ Cung Tiến: Cây đại thụ trút lá lặng lẽ

- Cảm Xúc "Hoài Cảm" So Với Cảm Xúc AI Ngu Yên Nhận định
- Thật Hay Khéo? Chuyện Cảm Xúc Trong Thơ Ngu Yên Nhận định
- Nghệ Thuật Xem Tranh Ngu Yên Nhận định
- Gánh dầu ra biển, gánh cả nước non Ngu Yên Nhận định
- Hiện Sinh trong nhạc lính Ngu Yên Tiểu luận
- AI Và Văn Chương: Tranh Luận Hay Tự Vấn? Ngu Yên Nhận định
- Người Việt Nghĩ Gì Về Văn Chương-Văn Học Thế Giới? Ngu Yên Tạp luận
- Dịch Thơ: Tái Sáng Tạo. Ngoạn Mục và Thú Vị. Ngu Yên Nhận định
- Xác Và Hồn Lá Đổ Muôn Chiều Ngu Yên Tạp luận
- Nhạc Cảm và Nhạc Nghĩ Ngu Yên Tạp luận
Các nhóm nhạc (Wikipedia):
Myosotis, Tricéa, Tổng Hội Sinh Viên, Đồng Vọng
Nhạc sĩ:
Trang nhà:
Nhạc tuyển::
Dòng nhạc gợi nhớ Taberd75.com
Sài Gòn ơi! Vĩnh biệt Ngọc Lan
Mùa thu Paris Thái Thanh
Lòng Mẹ (Y Vân) Lê Tấn Quốc, Saxo
Hận Đồ Bàn (Xuân Tiên) Chế Linh
- Hình Ảnh Ca Nhạc Sĩ Sài Gòn trước 1975
|
© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com) |