Head

 

 

Dang The Phong (Pham Duy)

ĐẶNG THẾ PHONG


... Nam Đinh là nơi xuất thân của các nhân tài thời trước khi các ngài phải thi lọt qua Trường Thi Hương được thành lập ở đây từ 1845. Trong quá khứ, Nam Định nổi danh là đất văn học. Những người đỗ đạt tới bực đại khoa thường xuất xứ từ làng Hành Thiện. Đại văn hào như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương đều là những người sinh trưởng ở Nam Định.

Tỉnh lỵ Nam Định là thành phố lớn thứ ba tại Bắc Việt, sau Hà Nội và Hải Phòng nhưng cũng không thua Hải Phòng về mặt kỹ nghệ. Ở đây có nhiều xưởng sản xuất lớn như Nhà Máy Rượu, Nhà Máy Sợi, Nhà Máy Tơ... Việc thương mại cũng phát đạt nhờ sự giao thông rất tiện lợi giữa Nam Định và các tỉnh khác bằng đường bộ hay đường thủy. Đường xe lửa xuyên Việt phải đi qua Nam Định. Đây còn là nơi có rất đông người theo đạo Công Giáo. Nhà thờ mọc lên tại khắp các thị trấn lớn nhỏ và tại các làng xã. Trong tỉnh lỵ có trên 150 cái chợ, chợ lớn nhất là chợ Rồng. Rạp hát cũng ở gần chợ. Tôi lại được hòa mình trong đám đông dù là ban ngày đi dạo phố hay là ban đêm khi tiếng nhạc, tiếng hát nổi lên trong rạp hát chật cứng người coi.

Trong làng Tân Nhạc Việt Nam, một số các nhạc sĩ tiền phong là người Nam Định. Đó là Đặng Thế Phong, Bùi Công Kỳ, Đan Thọ, Hoàng Trọng. Khi tôi tới Nam Định cùng gánh Đức Huy, các thanh niên này tìm đến tôi ngay.


Vào thời đại đa số các nhạc sĩ amateur đều là những thanh niên thất nghiệp bởi vì, nói theo người Pháp, la musique ne nourrit pas son homme = âm nhạc không nuôi được người đánh nhạc, hơn nữa ai cũng sợ bị mang tiếng xướng ca vô loài nên khi thấy tôi sống được với nghề hát nhạc cải cách ở trên sân khấu thì các nhạc sĩ tài tử đến nghe tôi hát.

Bùi Công Kỳ đã có vẻ rất đãng tử. Đan Thọ kéo violon rất mùi. Hoàng Trọng đã soạn ra những bài tango rất hay ... Đây cũng là lúc Đặng Thế Phong đã qua đời. Ít người biết tới tiểu sử của anh. Ngay tôi, lúc tới Nam Định, cũng không tò mò hỏi những bạn tôi mới làm quen về tác giả của những bản Đêm Thu, Con Thuyền Không BếnGiọt Mưa Thu. Mãi tới năm 1962 mới thấy in ra tiểu sử của Đặng Thế Phong, ở mặt sau của bài Con Thuyền Không Bến do nhà xuất bản TINH HOA ấn hành. Thấy thời thơ ấu của anh cũng na ná như của Văn Cao và của tôi:


Đặng Thế Phong sinh năm 1918, thứ nam của cụ Đặng Hiển Thể, thông phán Sở Trước Bạ thành phố Nam Định, là con thứ hai của một gia đình có sáu anh em, hai trai bốn gái. Thân phụ mất sớm, gia đình thiếu thốn, ông phải bỏ dở học vấn khi đang học lớp 2ème année P. S. (bây giờ là lớp Đệ Lục bực Trung Học Phổ Thông). Ông có lên Hà Nội theo học trường Cao Đẳng Mỹ Thuật với tư cách bàng thính viên. Trong một kỳ thi, ông vẽ tranh cho báo Học Sinh (chủ bút là Phạm Cao Củng) như tranh các truyện Hoàng Tử Sọ Dừa, Giặc Cờ Đen để lấy tiền ăn học. Mùa Xuân năm 1941 ông có đi Sài Gòn rồi Nam Vang. Ở Nam Vang ông có mở một lớp dạy nhạc. Đến mùa thu 1941 ông lại trở về Hà Nội.

Lúc sinh thời, Đặng Thế Phong là một nhạc sĩ rất nghèo nên cuộc sống của ông thật là khổ cực, chật vật. Ngoài tài sáng tác, ông còn là một ca sĩ, tuy chưa hẳn được là ténor nhưng giọng hát khá cao, đã nhiều lần ra sân khấu mà lần đầu tiên ông hát bài Con Thuyền Không Bến tại rạp chiếu bóng Olympia (phố Hàng Da) Hà Nội năm 1940. Đến đầu 1942 thì ông từ giã cõi đời tại nhà, trên một căn gác hẹp ở phố Hàng Đồng vì bệnh lao (tuberculose péritonique). Ông hưởng thọ được 24 tuổi.


Tôi vẫn cho rằng Đặng Thế Phong là người đầu tiên đưa ra những bài hát lãng mạn và Văn Cao là người phát triển đến tột độ loại nhạc lãng mạn đó. Ngay từ lúc đầu mùa của Tân Nhạc, ba hay bốn năm trước Văn Cao, trong khi các nhạc sĩ khác như Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Văn Chung, Lê Yên ... chỉ làm ta rung động vì những bài hát về thiên nhiên thì Đặng Thế Phong dắt ta đi thẳng vào lòng người.

Thời đại của những năm cuối thập niên '30 là thời đại của bà Tương Phố trong phạm vi thơ (Giọt Mưa Thu) và của Hoàng Ngọc Phách trong phạm vi tiểu thuyết (Tố Tâm) còn rớt lại, đồng thời cũng là thời đại của các thi nhân, văn nhân lãng mạn đang nổi tiếng như Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Nhất Linh, Khái Hưng, Lê Văn Trương.

Nếu đã có người nói rằng bất cứ một người Việt Nam nào cũng là một thi sĩ thì tôi cũng có thể nói rằng bất cứ một nhạc sĩ nào, vào lúc Tân Nhạc mới thành hình, cũng là nhạc sĩ soạn nhạc lãng mạn cả. Miền Bắc Việt là nơi có đầy đủ bốn mùa và mùa Thu ở đây thì nên thơ không thua gì mùa Thu ở Paris hay ở Đông Kinh, Nam Kinh, Bắc Kinh gì đó ...


Trong ba nhạc phẩm của Đặng Thế Phong và cũng là ba bài trong số những bản nhạc tình đầu tiên của Tân Nhạc Việt Nam, ta đều thấy mùa Thu hiển hiện một cách bàng bạc, lung linh, quyến rũ. Bài Đêm Thu được soạn với nhạc thuật Tây Phương dùng nhịp valse chậm để diễn tả lòng người trước cảnh đêm Thu vắng vẻ:

Vườn khuya trăng rãi hoa đứng im như mắt buồn

Lòng ta xao xuyến lắng nghe lời hoa.

Cánh hoa vương buồn trong gió

Ánh hương yêu nhẹ nhàng say, gió lay ...


Với giọng mineure rất đẹp Đặng Thế Phong dẫn ta vào một vườn trăng để, cũng như Lê Thương trong Bản Đàn Xuân, tình tự với hoa. Nhưng có lẽ Đặng Thế Phong thấy trước được mệnh yểu của mình nên muốn mở lòng ra thật rộng để thâu tóm vào tất cả cảnh vật chung quanh, từ tiếng côn trùng trong gió tới ánh sao trong vũ trụ. Ca khúc có hai phần, một phần theo âm hưởng mineure của Tây Phương, một phần nghiêng hẳn về nhạc ngũ cung Việt Nam:

Đêm lắng buồn tiếng Thu như thì thầm

Trong hàng cây trầm mơ.

Làn gió lướt tới cuốn đưa hồn ta phiêu diêu

Theo mây trắng trôi lờ lững

Ngàn muôn tiếng réo rắt

Côn trùng như than van

Mơ hồ theo gió lan.

Trăng xuống dần cỏ cây thêm âm thầm

Dâng buồn trong ánh sao

Như chiếu nhìn mắt ta bao lạnh lùng

Lay hồn ta rồi tan ...


Qua tới bài Con Thuyền Không Bến, nhà nghệ sĩ không còn đứng trong khu vườn nhỏ nữa, anh dắt ta ra trước cảnh Thu về trên một dòng sông:

Đêm nay Thu sang cùng heo may

Đêm nay sương lam mờ chân mây

Thuyền ai lờ lững trôi suôi dòng

Như nhớ thương ai trùng tơ lòng ...


Dường như Đặng Thế Phong đã nói lên được tâm trạng của thanh niên nam nữ trong thời đại. Bơ vơ lạc lõng như con thuyền không bến. Nhưng phải là con thuyền trôi trên một dòng sông dân tộc, dòng sông Thương -- ai ơi -- nước chảy đôi dòng. Quan trọng nhất là phải trôi trong một mùa Thu Việt Nam, có gió heo may, có sương lam ở chân mây, có gió van thông ngàn và có ánh trăng mờ chiếu ... Nếu là con thuyền trôi trong mùa Hè thì chưa chắc bài hát có thể quyến rũ và ám ảnh chúng ta từ lâu và mãi mãi được:

Lướt theo chiều gió

Một con thuyền theo trăng trong

Trôi trên sông Thương (ai ôi) nước chảy đôi dòng.

Biết đâu bờ bến?

Thuyền ơi thuyền, trôi nơi đâu?

Trôi trên sông Thương

Nào ai biết nông sâu ...


Thật là huyền diệu đối với tôi! Đã âm ư trong lòng bài hát tuyệt mỹ này khi trôi ngược dòng sông Thương bên đục bên trong, mà tôi biết có khi nông, có khi sâu, trên một con thuyền có bến hẳn hòi, ra đi từ bến Phủ Lạng Thương tới bến Bố Hạ. Rồi chỉ sau đó ít lâu lại được hát bài đó ngay tại quê hương của người soạn ra bài hát và hát công khai trước một cử tọa bình dân chưa chắc đã biết tới tận cùng giá trị của bài hát trong giai đoạn Tân Nhạc hãy còn giai đoạn bụ sữa.


Bài Con Thuyền Không Bến còn có một ưu điểm là được soạn với giai điệu nghe như hát sa mạc hay ngâm Kiều. Nhạc sĩ Pháp Claude Debussy, khi đi tìm chất liệu mới trong nhạc ngũ cung, đã có một câu nhạc tương tự như nét nhạc của câu hát mở đầu "Đêm nay Thu sang cùng heo may." Ngoài ra, trong Con Thuyền Không Bến còn có những đoạn hát với "nhịp chỏi" (syncope), một thứ nhịp ta thường thấy trong những bản hát Chèo:

Nhớ khi chiều sương

Cùng ai trắc ẩn tấm lòng.

Biết bao buồn thương

Thuyền (syncope) mơ (syncope) không suôi dòng

Bến mơ dù thiết tha (syncope)

Thuyền ơi! Đừng chờ mong!


Ánh trăng mờ chiếu

Một con thuyền trong đêm thâu

Trên sông bao la

Thuyền mơ bến nơi đâu?


Thuyền mơ tới nơi đâu? Lạy Chúa! May mắn hơn anh nhạc sĩ xấu số họ Đặng, ngay từ lúc đó tôi đã biết thuyền mơ của tôi sẽ trôi tới bến nào, khi tôi bất chấp sự khinh rẻ của xã hội đối với những kẻ xướng ca vô loài và cầm đàn đi vào đại chúng. Lại cả gan đứng hát trên một sân khấu Cải Lương khi miệng đời đã có câu nguyền rủa: ba thằng kép hát tới nhà mi. Trong quá khứ, người ta thường cho rằng: ai vô phúc thì mới bị đào kép tới nhà.

Sinh hoạt hằng ngày với các bạn trong gánh hát Đức Huy, đôi khi tôi cũng chứng kiến những hành động hơi thấp kém của đào kép Cải Lương, vốn là những người có đời sống rất buông thả. Biết vậy nhưng tôi không dám dạy đời ai cả, chỉ tự khuyên mình không nên giống họ!


Từ khu vườn nhỏ ra tới sông dài, sông rộng, bây giờ Đặng Thế Phong còn đi xa hơn nữa, đi tới cuối cuộc đời của mình qua một ca khúc mà mới đầu anh định đặt tên là Vạn Cổ Sầu. Đó là bài Giọt Mưa Thu:

Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi

Trời lắng u sầu mây hắt hiu ngừng trôi.

Nghe gió thoảng mơ hồ

Trong mưa thu ai khóc ai than hờ ...


Bây giờ mùa Thu đối với anh là một sự chia ly, sự chết chóc, dương thế trong mùa Thu bao la sầu, gió sẽ thổi về, mưa sẽ giăng mù lê thê và chim non trên cành hay vợ chồng Ngâu sẽ mãi mãi khóc vì Thu ...

Vài con chim non chiêm chiếp kêu trên cành

Như nhủ trời xanh

Gió ngừng đi

Mưa làm chi

Cho cõi đời lâm ly.


Hồn Thu tới nơi đây gieo buồn lây

Lòng vắng muôn bề không liếp che, gió về

Ai nức nở thương đời châu buông mau

Dương thế bao la sầu ...


Nghe như bản Nhạc Sầu trong thơ Huy Cận:

Ai chết đó? Nhạc buồn chi lắm thế

Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường.

. . . . . .

Từng tiếng lệ: ấy mộng sầu lá úa

Chim vui đâu? Cây đã gẫy vài cành.

. . . . . .


Trong bài Giọt Mưa Thu, Đặng Thế Phong dung hợp cả hai âm giai thất cung Tây Phương và ngũ cung Việt Nam để nói lên cái hắt hiu, cái lâm ly, cái xa xôi của mùa Thu ngoải đời và trong đời mình.

Mùa Thu sẽ còn được xưng tụng nhiều lần trong Nhạc Sử Việt Nam, khi thì làm cho một cuộc Cách Mạng có thêm chất lãng mạn (Nhạc Tuổi Xanh), khi thì nói tới cái chết của một cuộc tình (Mùa Thu Chết) nhưng vào buổi bình minh của Tân Nhạc này, ta đã có một bài hát sâu sắc thâm trầm, tê tái như bài Giọt Mưa Thu, ta chỉ còn biết tiếc thương cho người nghệ sĩ tài hoa bị thần bệnh cướp đi khi tuổi còn thanh xuân.


Về phương diện nhạc ngữ, với Giọt Mưa Thu, Đặng Thế Phong còn cho ta một bài học về sự chuyển thể trong ca nhạc Việt Nam. Lối hành âm từ giọng Mi mineur qua La majeur ở trong nhiều đoạn chẳng khác chi lối chuyển thể trong loại hát bồng mạc, sa mạc. Nếu nghiên cứu theo lối Tây Phương thì ca khúc được xây dựng trên mode dorien rất gần gũi với một dạng trong ngũ cung Á Đông. Âm vực của bài này rất rộng, nét nhạc đi từ nốt SI trầm vói lên tận SOL cao, cốt ý diễn tả cái sầu thiên cổ trong mùa thu, có mưa rơi không bao giờ ngừng.

Chưa chắc Đặng Thế Phong đã soạn những bản nhạc mùa Thu của ông tại Nam Định vì thành phố này không có gì là buồn bã âu sầu cả. Tôi thích dạo phố một mình tại nơi đào tạo ra các bực sĩ tử khi xưa. Thành phố nằm trên đường xe lửa xuyên Việt và có một nhà ga lớn. Từ đây vào tới Sài Gòn, qua từng chặng một, gánh hát của chúng tôi sẽ dùng xe lửa để di chuyển ...

Phạm Duy

(Hồi Ký, Tập I)



 

 

Link (Dang The Phong)

 

Bài viết về Đặng Thế Phong

 

Đặng Thế Phong và mối sầu dương thế (Cung Tiến)

Đặng Thế Phong, tài hoa bạc mệnh (Thanh Châu)

Đặng Thế Phong (Phạm Duy)

Tiểu Sử (Wikipedia)

 

Nhạc phẩm

 

Đêm Thu (Thái Thanh)

Giọt Mưa Thu (Thái Thanh)

Con Thuyền Không Bến (Lệ Thu)

 

 

 

Am Nhac

 

 

Âm Nhạc

 

Thơ Nhạc Giao Duyên 
Thơ Phổ Nhạc 
Tình Ca Mùa Xuân 
Tình Ca Mùa Thu 
 

Từ “Hội thảo đàn tranh” đến “Việt Nam sắc hương xưa”

(Lê Hữu)

Lần đầu tiên nhạc dân tộc Việt được trình diễn trong Tòa Bạch Ốc (Trúc Linh)

Hà Nội, Những Mùa Xuân Phai (Lê Hữu)

Chiều Vàng với Tôn Thất Niệm (Quỳnh Giao)

Những bài ca chuyển tải: Tình tự quê hương, đi vào lòng người (Nguyễn Thanh Hiệp)

Tuổi Nhỏ, Những Cây Đàn Và Đà Lạt (Lê Uyên Phương)

Nhớ và nghĩ về bài quốc ca Việt - 2 (Nguiễn Ngu Í)

Nhớ và nghĩ về bài quốc ca Việt (Nguiễn Ngu Í)

Ếch & Báo – Dòng nhạc phản kháng của giới trẻ Việt Nam (Trịnh Bình An)

Âm nhạc miền Nam và những ngày xưa thân ái (Vũ Đông Hà)

Chỉ Là Ước Mơ Qua Các bản Quân Ca Xưa (Trần Văn Nam)

Đêm rất thánh, đêm không cùng (Lê Hữu)

Mê nhạc “sến" (Vũ Thế Thành)

Năm Mươi Năm Nhìn Lại Phong Trào Du Ca Việt Nam

(Trịnh Thanh Thủy)

Lệ Thanh, còn nhớ một chiều xuân (Lê Hữu)

Nhạc Tài Tử (Nguyễn Tuấn Khanh)

Mùa Xuân với Âm Nhạc và Cuộc Sống Hát Ca

(Nguyễn Thanh Hiệp)

Nhớ Tới 'Ngũ Hổ' Của Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương Thuộc QLVNC (Nhất Tuấn)

Đong đưa cùng Nhạc Muồi (Nguyễn Ngọc Già)

Những thần tượng giả (Lê Hữu)

Nguyễn Ánh 9 nhận xét về các giọng ca (Nguyễn Ánh 9)

Nhạc Xuân (Trần Doãn Nho)

Phỏng vấn các Nhạc sĩ (Nguiễn Ngu Í)

Hình tượng người lính qua dòng nhạc Việt (Lê Hữu)

Xuân và người lính Việt Nam Cộng Hòa trong nhạc Việt

(Lê Hoàng Thanh)

Thuyền Viễn Xứ trong Tâm Thức Hoài Hương

(Đào Trường Phúc)

Nhạc tiền chiến (Wikipedia)

Giai Đoạn Khai Mạc của Tân Nhạc Việt Nam

(Nguyễn Duy Diễn)

Tân Nhạc Việt Nam '20 - '50 (Lê Trọng Nguyễn)

 

Các nhóm nhạc (Wikipedia):

 Myosotis, Tricéa, Tổng Hội Sinh Viên, Đồng Vọng

 

Nhạc sĩ:

Anh Bằng,  Anh Việt Thu,  Châu Kỳ,  Cung Tiến,  Dương Thiệu Tước,  Dương Văn Hùng,  Duy Khánh,  Dzoãn Mẫn,  Dzũng Chinh,  Hoài Linh,  Hoàng Dương,  Hoàng Lang,  Hoàng Nguyên,  Hoàng Thi Thơ,  Hoàng Trọng,  Khánh Băng,  Lam Phương,  Lê Dinh,  Lê Hựu Hà,  Lê Thương,  Lê Trạch Lựu,  Lê Trọng Nguyễn,  Lê Uyên Phương,  Lưu Hữu Phước,  Mạnh Phát,  Minh Kỳ,  Ngô Thụy Miên,  Nguyễn Ánh 9,  Nguyễn Hiền,  Nguyễn Văn Khánh,  Nguyễn Văn Đông,  Nguyễn Đức Quang,  Nhật Bằng,  Nhật Ngân,  Phạm Duy,  Phạm Mạnh Cương,  Phạm Đình Chương,  Song Ngọc,  Thẩm Oánh,  Thanh Sơn,  Trầm Tử Thiêng,  Trần Thiện Thanh,  Trịnh Công Sơn,  Trúc Hồ,  Trúc Phương,  Trường Kỳ,  Tuấn Khanh,  Văn Cao,  Văn Giảng,  Vô Thường,  Võ Đức Thu,  Vũ Thành,  Vũ Đức Nghiêm,  Xuân Lôi,  Xuân Tiên,  Y Vân,  Đan Thọ,  Đặng Thế Phong,  Đoàn Chuẩn,  

 

Trang nhà:

Phạm Duy, Trường Sa

 

Nhạc tuyển::

Dòng nhạc gợi nhớ Taberd75.com

Sài Gòn ơi! Vĩnh biệt Ngọc Lan

Mùa thu Paris Thái Thanh

Lòng Mẹ (Y Vân) Lê Tấn Quốc, Saxo

 

- Hình Ảnh Ca Nhạc Sĩ Sài Gòn trước 1975

- Cổ Nhạc Miền Nam: I, II

 

 

 

© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)