|
|
|
|
|
VĂN HỌC |
GIAI THOẠI | TIỂU LUÂN | THƠ | TRUYỆN | THỜI LUẬN | NHÂN VẬT | ÂM NHẠC | HỘI HỌA | KHOA HỌC | GIẢI TRÍ | TIỂU SỬ |
Thơ Văn Trần Y. Hoa & Bằng hữu
Thơ Văn Trần Yên Hoà & Bằng hữu

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
(1491 - 1585)
Nguyễn Bỉnh Khiêm hơn bốn mươi tuổi mới đi thi và đỗ Giải nguyên. Năm sau thi Hội ông đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ (Trạng nguyên), vừa 45 tuổi. Đó là một tâm thức sĩ phu lớn soi chiếu năm trăm năm xuyên suốt ngàn trang thơ văn đất nước với trên trăm bài “Bạch Vân Quốc Ngữ Thi”, “Sấm Ký Trình Quốc Công”, bài bia “Trung Tân Quán,” và những dụ ngôn ban phát cho vua chúa anh hùng khanh tướng ba triều nhà Mạc, họ Trịnh họ Nguyễn mà sử sách đã ghi. Lời ông như huyền thoại mà là lịch sử, chân dung ông như đạo gia tiên thánh mà quanh quẩn bên khóm gừng, luống tỏi.
Man mác một đỉnh Hoành Sơn
Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù
Ấy là những binh thù thái thái
Lòng trời xui ai nấy biết ru?
Phả điền đầu khỉ cuối thu
Tái binh mới động thập thò liền sang
Lọ chẳng thường trong năm khôn xiết
Vẻ lại thêm hung kiệt mất mùa
Lưu tinh hiện trước đôi thù
Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm
Xem thấy những sương săm tuyết lạnh
Loài bất bình tranh mạnh hung hăng
Thành câu cá, lửa tưng bừng
Kẻ ngàn Đông Hải người rừng Bắc Lâm
Chiến trường chốn chốn cát lầm
Kẻ nằm đầy đất kẻ trầm đầy sông
Sang thu chín huyết hồng tử giả
Noi đàng dê tranh phá đôi nơi
Đua nhau đồ thán quần lê
Bấy giờ thiên hạ không bề tựa nương
(một đoạn Sấm Trạng Trình)
Một tâm thức sĩ phu lớn soi chiếu năm trăm năm qua xuyên suốt ngàn trang thơ văn đất nước là tâm thức Trạng Trình Nguyễn Bình Khiêm (1491-1585), tác giả cả trăm bài “Bạch Vân Quốc Ngữ Thi", “Sấm Ký Trình Quốc Công”, bài bia “Trung Tân Quán,” và những dụ ngôn ban phát cho vua chúa anh hùng khanh tướng ba triều nhà Mạc, họ Trịnh họ Nguyễn mà sử sách đã ghi. Lời ông như huyền thoại mà là lịch sử, chân dung ông như đạo gia tiên thánh mà quanh quẩn bên khóm gừng, luống tỏi. Con người giản dị mà lạ thường ấy đã viết những gì, đã nói những gì, xuất xử ra sao mà sống ngót một trăm tuổi vào thời đại mà tuổi thọ thông thường ta thấy chỉ là bốn năm con giáp?
Ba gian am quản lòng hằng mến,
Đòi chốn sơn hà mặt đã quen.
Thanh vắng thủ quê dầu nấn ná,
Dữ lành miệng thế mặc chê khen.
(Thơ chữ Nôm - bài 8* Trịnh Khắc Mạnh dịch)
Sống ở ba gian am quán nơi quê nhà, nhưng tâm trí ông ở trong cả “ba nước,” nếu ta có thể nói không phải chỉ bắc phương mới có chuyện “tam quốc chí,” Việt Nam thời đó cũng có “tam quốc chí: nhà Mạc, vua Lê, chúa Trịnh.” Con người nổi tiếng với triết lý “nhàn” thật ra luôn luôn thao thức về non sông đất nước và đám lê dân nghèo khổ: “Mấy hồi gối chiếc, hai hàng lệ, Một mình nghe tiếng chầy nện vải trong đêm lạnh.” (Sầu). Nghĩ đến người dân như mấy câu thơ dưới đây, chỉ thấy ông là một:
Chẳng khác chim bị mất tổ,
Giống hệt cá bị máu dồn xuống đuôi.
Lúc ấy như thế là cùng cực,
Sinh dân quá ư tiêu tuy.
(Cảm hứng) *
Như đồng nội có mạ khô,
Kho đụn không thóc thừa.
Vất vả nghèo khổ, người nông phu than vãn,
Đói và gầy, kêu khóc trên đồng ruộng.
(Tăng thử) *
Nguyễn Bỉnh Khiêm húy là Văn Đạt, hiệu là Bạch Vân cư sĩ và Tuyết Giang Phu Tử, tự là Hanh Phủ, người làng Trung An huyện Vĩnh Lại Hải Dương và yên nghỉ vĩnh hằng cũng chính trên quê hương mình. Từ nhỏ được mẹ là con gái quan Hộ bộ Thượng thư Nhữ Văn Lân dạy Tứ thư Ngũ kinh ở nhà, 4 tuổi đã nghe thơ, lại được cha là tiến sĩ Nguyễn Văn Định dạy dỗ, lại theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở Thanh Hóa và sau dạy học ở quê nhà. Trong các học trò ông có Nguyễn Dữ. Năm 1534 triều Mạc Đăng Doanh ông mới ra thi, và đỗ Giải nguyên. Năm sau thi Hội ông đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ (Trạng nguyên), 45 tuổi. Đời vua Mạc Thái Tông ông ra làm quan với nhà Mạc đến năm 1542, từng giữ các chức quan, như: Tả thị lang Bộ Lại kiêm Đông các Đại học sỹ. Ông từng dâng sớ xin vua trị tội 18 lộng thần, không được toại nguyện, ông xin về hưu. Từ năm 1542 đến năm 1585, Nguyễn Bỉnh Khiêm sống tại quê nhà, tuy ông đã về nghỉ, nhưng vua nhà Mạc vẫn sai người đến hỏi quốc sự và thăng ông làm Thượng thư Bộ Lại, tước Trình Tuyên hầu, rồi Trình quốc công. Ông mất năm 95 tuổi, có lẽ là một vị học sĩ trường sinh nhất trong thế kỷ XVI.
Ông dựng một cái am, đặt tên là Bạch Vân, được gọi là Bạch Vân cư sĩ. Sau lại dựng bên sông Tuyết một cái quán, người đời lại gọi ông là Tuyết Giang phu tử; còn ông đặt tên cái quán là Quán Trung Tân, quán này dùng làm nơi hội họp cho các vị bô lão địa phương, còn bắc một cây cầu gọi là cầu Nghinh Phong. Ông có làm một bài văn bia thuật lại việc xây quán trên bến sông, do đó đời sau được thấy bài văn bia Trung Tân Quán của ông.
Về văn bia, áng văn thuật lại việc dựng ngôi quán ở bến Trung thanh cao mà giản dị, nhân đó mà nói đến “bến mê” nghe ý vị mà nhẹ nhàng, trong khi đó là chữ nghĩa bác học:
“Ôi! Bản tính người ta vốn thiện, mà do khí bẩm khác nhau, bị vật dục che đi nên cái gốc thiện không giữ được như lúc ban đầu, thành ra kiêu, lận, tà, rỡ, làm nhiều điều sai lệch. Nơi công đường thì kèn cựa về danh, chốn buôn bán thì tranh nhau về lợi. Giới quyền qui thì khoe khoang lầu các, bọn giầu có thì hát xướng nhảy múa. Bọn đó thấy người sắp chết đói ngoài đường thì không chi ra một xu để giúp đỡ, gặp kẻ co ro rét mướt giữa trời thì chẳng thí cho manh áo. Bản tính thiện bẩm sinh đã không còn nữa. Song lẽ trời may mà không mất ở lòng người, nhất là nơi các bô lão ở làng ta vẫn thi nhau làm việc thiện. Cầu quán đền chùa các cụ vẫn trùng tu lại.
Còn may lẽ trời trong lòng người chưa hết. Cho nên các cụ già làng ta biết khuyên dân làm việc thiện. Đền chùa cầu quán được trùng tu ở nhiều nơi. Ta cũng một lòng làm việc thiện, thường nhắc nhở chuyện khuyến thiện luôn luôn.
Mùa thu năm Nhâm Dần ta từ quan về làng nghỉ hưu, đã cùng các bô lão ra chơi Bến Trung Tân. Thấy nơi ấy phía Đông là biển Đông, phía Tây là ghềnh, phía Nam là sống Liên Khê, có chùa Trung Am, làng Bích Động tiếp nhau, phía Bắc ngó vào Tuyết giang thấy chợ Hàn bến Nguyệt giáp nhau. Ở giữa là một con đường quanh co uốn khúc đầy ngựa xe dài đến mấy ngàn dậm.
Vào lúc ấy ta nói với các bô lão rằng: Trước đây các cụ cho xây cầu Nghênh Phong, cầu Trường Xuân đành là đẹp đẽ, nhưng chỗ này đẹp hơn tất cả, lại gần chỗ các hành nhận qua lại, khá nên xây dựng ở đây một ngôi quán để cho họ có chốn dừng chân lại không hay sao?
Các bộ lão đều hoan hỉ chấp nhận.
Có người hỏi ta ý nghĩa Trung Tân Quản là sao? Ta nói rằng: Trung là ở giữa, trung là giữ được điều thiện. Không giữ được hết điều thiện không phải là trung. Tân là cái bến. Tân là chỗ để dừng. Biết chỗ để dừng là yếu tân, hay bến chính. Không biết chỗ để dùng là mê tân, hay bến mê. Ý nghĩa tên quán là như thế. Trung cũng là trung với vua, kính trọng người trên, hòa thuận giữa vợ chồng, trung tín với huynh đệ, bằng hữu. Trung cũng là không tham, không tranh dành, lấy thiện đối đãi với người, lấy lòng nhân đối đãi với sự vật.
Chí trung sẽ dẫn đến chí thiện, lòng tử tế, bến qui tụ. Bến Trung thì mọi sự qui tụ, mọi vật qui tụ, làm là được, không cái gì là không làm được. Không cái gì là không thiện, công đức của việc thiện ta có thể hình dung ra. Các bô lão đều hoan hỉ cho ta nói là phải, xin ghi khắc vào bia đá để lưu truyền về sau. (Người dịch Chân Nghiệp).
(Viên Linh viết bên Hồ Ngỗng Trời, Jaguar Trail,
Falls Church Virginia, 21.12.2016).

- Trạng Trình, với quán Trung Tân Viên Linh Nhận định
- Viên Chiếu Thiền Sư Viên Linh Nhận định
- Nguyễn Hữu Hiệu - Tâm hồn người, thơ văn ta Viên Linh Nhận định
- Thâm Tâm, trước cơn thảo muội Viên Linh Nhận định
- Tuệ Sỹ: Tuổi Trẻ Vạn Hạnh Viên Linh Nhận định
- Điếu thi: Thủ̉y Mộ Quan Viên Linh Thơ
- Bạch thư Phạm Huấn Viên Linh Nhận định
- Tuệ Sỹ, Tù Đày Và Quê Nhà Viên Linh Nhận định
- Tuệ Sỹ Giữa Mùa Thay Đổi Viên Linh Nhận định
- Ngọc Linh (1931-2002), nhà văn với bốn chữ mặn mà Viên Linh Hồi ký
• Trạng Trình, với quán Trung Tân (Viên Linh)
• Viên Chiếu Thiền Sư (Viên Linh)
• Tinh hoa văn hiến Kinh Bắc trong dòng chảy văn hóa Phật giáo Việt: Danh nhân Vũ Trinh & nghệ sĩVũ Tú (Mai Anh)
• Tinh hoa văn hiến Kinh Bắc trong dòng chảy văn hóa Phật giáo Việt: Danh nhân Vũ Trinh & nghệ sĩVũ Tú (Mai Anh)
• Một Nén Nhang Cho Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm (Bùi Chí Vinh)
• Cần trả lại sự thật cho TT Nguyễn Văn Thiệu (Bùi Anh Trinh)
• Nikola Tesla (Trần Hồng Văn)
• Kỷ Niệm Vua Quang Trung & Chiến Thắng Đống Đa (Letamanh)
• Người Đã Ghi Vào Trang Việt-Sử (Phạm Minh-Tâm)
• Ngày 1 tháng 11 năm 1963: Dân tộc Việt Nam lại bị trật nhịp của phát triển (Nguyễn Gia Việt)![]()
Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng
|
© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com) |