1. Head_
    Ad-25-TSu-2301360532 Ad-25-TSu-2301360532

     

     

    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Văn Hóa Nam Bộ Là Tương Lai Của Việt Nam (Lưu Văn Vịnh) Ad-25-TSu-2301360532 Ad-25-TSu-2301360532

       


      1-7-2026 | VĂN HỌC

      Văn Hóa Nam Bộ Là Tương Lai Của Việt Nam

        LƯU VĂN VỊNH
      Share File.php Share File
          

       


      Sông nước MIỀN NAM rất mới trong lịch sử dân tộc, mới khoảng hơn 250 năm, nhưng chính nơi đây là cánh cửa mở rộng mênh mông cho vùng đất cổ Việt đã rất chật, rất cũ, suy tàn, cứng nhắc trong khung cũi giáo điều Tống Nho phong kiến, kiềm tỏa trong lũy tre làng mạc... Người ta ví mảnh đất Việt hình chữ S hai đầu là hai thúng gạo, ở giữa là đòn gánh... hình ảnh rất tiêu biểu, đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu, ruộng lúa phù sa nuôi sống triệu triệu dân, đòn gánh Trường Sơn gánh trĩu, gánh nặng quá, suốt 200 năm, từ đời Gia Long thống nhất lần đầu, đến thời cờ đỏ thống nhất lần hai, hai lần giống nhau, thúng gạo hai đầu dân tình đồng bằng có nhu cầu tương đồng. Nhưng thúng gạo mới đồng bằng Cửu Long so với đồng bằng Hồng Hà, phì nhiêu gấp bội, tôm cá vớt lên là có ăn, mật độ dân số chưa đẩy tới nạn kèn cựa sát phạt nhau, đấu tố nhau... Một bữa cơm thường ngày của một tiểu công chức miền Tây, thời 1960- 70, một tô canh chua thật lớn, tôm càng nướng... thịnh soạn hơn bữa ăn một nhà giàu quan chức ở miền Bắc thời xưa, nếp sống thảnh thơi, không mưa phùn gió bấc, tạo nên một xã hội Việt Nam mới, rộng lượng, hiền hòa, có thực tất vực được đạo, dân no bụng mới hướng về đạo nghĩa, cho nên miền Nam, Tiền giang Hậu giang, lại là nơi tiếp tục dòng đạo lý cổ truyền dân tộc, dân tình chất phác lễ độ, trọng và nghe những ông thầy có học, có tu... Thất sơn linh thiêng, Bà Đen huyền bí, Phật Thầy Tây An vào thời Tây sang, Hòa Hảo, Cao Đài vào thời kháng Pháp, khất sĩ Tiểu thừa sâu rễ bền gốc khắp nẻo... rồi đến ông Đạo Dừa... tạo một dòng đạo sĩ đôn hậu, mang chút kỳ bí, có dân dã bao bọc tin cậy tôn kính đi theo, sinh hoạt hồn nhiên trên vùng đất mới.


      Điểm nổi bật của nhân sĩ miền Nam, thế hệ cũ, là nét đạo sĩ, hiền, thẳng, không quanh co, ăn nói mộc mạc chân tình, ruột để ngoài da, không mưu đồ hiểm hóc. Thế hệ cụ phối sư Trần Văn Quế, cụ Trần Văn Hương (Cao đẳng Sư phạm Đông dương)... là thế hệ đạo sĩ miền Nam, đậm nét Nho phong Võ Trường Toản, Phan Văn Trị, rõ nét mộc mạc có sao nói vậy... Hình ảnh cụ Hương trên TV ngày cuối tháng 4/1975, khi trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh, thật cảm động và khó quên: tay cụ run rẩy, ứa nước mắt, Đại tướng giờ đây lấy thế gì mà nói chuyện với bên kia? Thế này là thế mất nước... tính hào sảng, khí khái, cương trực của kẻ sĩ còn để lại trong nhân sĩ già Đồng Nai! Hồ Hữu Tường, trước sau ngồi tù 17 năm, có nét khảng khái của kẻ sĩ, có nếp đạo sĩ muốn vượt thế thời, dù là vượt trong tâm thức... Thế hệ sau, như Nguyễn Văn Bông, Nguyễn Ngọc Huy, .. giữ phong cách tâm tư tân Nho tuy không còn nét đạo sĩ của thế hệ trước: “người Pháp chuyện gì cũng tính sai, hồi 1930 Nguyễn Thái Học chỉ đòi tự trị cũng không cho, tới thời 1947-48, Việt Nam đòi độc lập thì lại cho liên hiệp!... GS Huy (1976 tại Boston) có cái nhìn thời thế của một nhân sĩ Đồng Nai, miền Nam có những nét mới mà miền đất cũ, Bắc, Trung, không có, thoáng hơn, phong phú hơn, tâm thức miền Nam là tâm thức của người có cá thiệt chứ không giả dối vờ vịt bịp bợm ăn cá gỗ... mang cái khung cũ mục trùm lên khung mới thì không ổn, những chính quyền, từ ông Diệm, ông Thiệu, đều đánh giá sai miền Nam và khối dân miền Nam... Nghĩ lại, giá chiến lược thời 1960, giữ vững thúng gạo Cửu Long làm cơ bản sâu rễ bền gốc mà chiến đấu, tôn trọng đạo trường tâm tư Đồng Nai, mới có thế dân mà đối đầu với ý thức hệ duy vật cơ tâm... coi nhẹ cái bụng, coi thường áo vải áo nâu... thì lấy nội lực gì giải phương trình Tư bản-Cộng sản? Cho nên trong hiện tại và tương lai, sức kéo Việt Nam khỏi vũng lầy cổ hủ phong kiến, sức đổi mới xã hội, nhất thiết nằm nặng ở miền Nam chứ không ở miền Bắc.


      Thật vậy, văn hóa cổ Nam Á Đa đảo - Austro Malayo- Polynesian - vốn thuần hậu, thật thà, thẳng thắn, khác nhiều với văn hóa phương Bắc, mongoloid - trong đó có Bắc, Bắc Trung Việt, Tàu, Hàn, nặng về tri thức, biện luận, cãi cọ, thiếu về tình cảm, thiếu thật thà, thiếu phá chấp. Nhìn văn hóa Tàu, CSVN hiện tại thì thấy tương phản rõ rệt: bên lươn lẹo, lắt léo, luồn lọt, lấn lướt, la lối như thói đi xe máy leo lề, lách lẹ... bên thẳng thắn, không biết chửi gà, không biết từ ngữ điên đảo tuyên truyền... Cho nên người ta nhận định: giá mang cái trò tố khổ ở miền Bắc vô Nam thì chắc chắn thất bại, vì dân Nam không biết chửi, quá lắm thì Đ.m. chứ không xỉa xói chửi gà cấp số nhân kiểu Cha Tiên Sư Bố Mày... như ở ngoải! Chưa kể Phật giáo Đại thừa Bắc tông khác xa với Phật Tiểu thừa Nam tông, Tích Lan Miến Điện, Thái, Miên, Lào... Tu sĩ khất thực, tu thật, không tu giả, thân giáo, khổ hạnh, khó bày trò quốc doanh khoác áo lộn sòng, ngay Mã Lai, Nam Dương, Hồi-Ấn giáo, cũng không chịu ảnh hưởng Khổng Mạnh Bách gia đa ngôn!


      Sài Gòn với chất tứ xứ, vừa Việt, vừa Tàu, vừa Miên, vừa Pháp... một melting pot, một sức sống mới nhiệt cuồng mà miền Bắc, miền Trung không có, hãy tạm ví Sài Gòn như một Nữu Ước, phóng khoáng mở tung cửa đón mọi luồng gió, quốc tế hơn là duy dân tộc cổ điển... Mấy cái đầu cao ngạo, từ Hà Nội, từ Nghệ, từ Quảng Trị, Huế vào... bỗng hoảng vì kiểu cách vô chiêu của văn hóa Sài Gòn, bỗng thấy mình quê kệch, hẹp lượng, cứ ngỡ mình là đỉnh cao trí tuệ, cấp tiểu học mà cứ đòi hiểu Mác tiến sĩ triết học! Có người nhận xét người miền Nam hồn nhiên không màng từ ngữ cao xa nên nghe tuyên truyền rởm không lọt vào tai, không biết chửi gà nên cũng chẳng thể tố khổ bà con lối xóm, cái tếu của dân miền Nam đã pha loãng tất cả giáo điều ngôn từ rỗng lòe loẹt .


      *


      Sử gia Pháp, Philippe Devillers, đã đặt hình hai lãnh tụ Bảo Đại và Hồ Chí Minh trên bìa cuốn Sử Histoire du Viet Nam, hai mặt tả, hữu, nhưng phải kể những nhân vật địa phương, tầm vóc nhỏ hơn, kiểu Lương Sơn Bạc: Bảy Viễn, Ba Cụt, Năm Lửa... kiểu đạo sĩ như Huỳnh Phú Sổ, Hộ Pháp Phạm Công Tắc, kiểu lãnh tụ mật khu như Trịnh Minh Thế... hầu hết ở miền Nam... và lịch sử phải đánh giá lại công trình của những nhân vật này, ít nhất họ cũng đã lôi cuốn được quần chúng dân dã không để lọt vào guồng máy tuyên truyền dựa trên sân hận đấu tranh thù oán của phe Cộng, ít nhất họ cũng lập được những chiến khu vừa chống Pháp vừa chống Cộng... Cuộc biểu tình 200.000 người đòi dân chủ đầu tiên của Việt Nam nhân lễ quốc táng cụ Phan Chu Trinh vào năm 1926, xảy ra ở Sài Gòn chứ không ở Hà Nội, ở Huế hay ở Nghệ Tĩnh... Cuộc biểu tình ở Vườn Lài (vườn Tao Đàn sau này) của Nguyễn An Ninh, Trần Văn Thạch chống thực dân Pháp xảy ra từ năm 1928, trước khởi nghĩa Yên Báy 2 năm... Xét ra quần chúng miền Nam đã làm hơn và làm trước những đảng phái quốc gia ở miền ngoài... Các tổ chức miền Nam giữ được dân, không để CS một mình một chợ, không thu hẹp trong khối trí thức "nói nhiều hơn làm”... Suốt thời kháng chiến có lẽ chỉ có hai nhân vật quốc gia hành động đúng là Huỳnh Phú Sổ và Trịnh Minh Thế... có quần chúng, có chiến khu, Tây cũng nể mà Cộng cũng kiềng... Anh em họ Ngô sau này – xuất thân trưởng giả – không nhìn ra tầm quan trọng của đáy lòng bình dân, không cảm được niềm tự hào của người dân đất mới, họ sống với sông lạch bóng dừa miệt vườn... kỳ bí, mầu nhiệm, với lãnh tụ huyền thoại của lòng họ... Diệt huyền thoại là giết lòng dân, là đẩy dân sang huyền thoại khác, bá đạo, lừa dối, tai hại hơn nhiều...

      Sau một thời gian xóa sổ miền Nam, Hà Nội bắt đầu thấy sức mạnh tiềm tàng mà vô chiêu của con dân Đồng Nai, một loạt các nhân vật CS miền Nam được đưa lên: Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Chủ tịch Quốc hội... một cách xoa dịu lòng dân miền Nam bất mãn. Hồi ký gần đây của nhiều tác giả miền Nam (như Vi Thanh, Huỳnh Văn Lang...), vẫn không quên thời 1940 khi các nhân vật như Thọ, Duẩn, Nguyễn Bình... từ vùng Bắc, Trung vào Nam khuấy động, nhất là khi Chính phủ Trần Trọng Kim (1945) thả cả ngàn tù nhân CS từ Côn Đảo về Nam phần nằm vùng.


      Việt Nam đang cần một loại hình văn hóa khả dĩ thay thế văn hóa cằn cỗi phía Bắc và nhất là giáo điều Mác-Lênin. Loại hình này chính là văn hóa chân thật, đôn hậu, giản dị, vui sống của Cửu Long Đồng Nai, nơi hơn 200 năm trước, bao bình dân Việt Nam tiến, khai khẩn phát triển để ngày nay ta có một miền vừa mới, vừa giàu, đất lành chim đậu. Một triệu người Bắc di cư 1954 đã chuyển hóa thành dân miền Nam, Bắc kỳ chín nút! Thế hệ thứ II, thứ III, không còn dấu vết quê cũ, quân cán Việt Cộng sau 1975, ngẩn người, dần dà nhìn thấy nếp sống tử tế của miền Nam, nhiều người âm thầm vào Nam lập nghiệp, từ Cao nguyên xuống Vũng Tàu, Rạch Giá, Đồng Tháp... ngay Cần Thơ bây giờ cũng không thiếu những người miền Bắc, Bắc Trung vào, những người lánh nạn đi tìm đất sống, an lành, tử tế hơn.


      Con người vốn mang tính Thiện lẫn Ác, mầm Thiện hay Ác mọc lên tùy môi trường sống. Miền Nam vốn là đất lành, không thiếu ăn thiếu mặc, từ lâu đã là đất tốt để gieo mầm Thiện, là đất Bụt đất Mẫu... Dần dần sẽ chuyển hóa nổi căn Ác, dẫn đầu diễn trình cảm hóa toàn dân, một thế hệ nữa, khoảng 2040-50, chẳng còn Bắc với Nam, Quốc hay Cộng, khung trời Việt sẽ sáng tỏa từ Cửu Long sang toàn vùng Đông Nam Á, góp mặt cùng các nước Nam Á Đa đảo thuần hậu bình dị hoan hỉ địa, khi ấy không biết đất Giao Châu cũ đã nhập Tống hay chưa!

      Lưu Văn Vịnh

      Ngôn Ngữ số 43 | 1 Tháng 5 Năm 2026
      Tạp Chí Văn Học Nghệ Thuật

      Ad-22-A_Newest-Feb25-2022 Ad-22-A_Newest-Feb25-2022


      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Văn Hóa Nam Bộ Là Tương Lai Của Việt Nam Lưu Văn Vịnh Nhận định

      - Nhà Giáo Xưa Lưu Văn Vịnh Nhận định

      - Việt Nam 200 Năm Chuyển Hóa Đất Nước Và Phân Hóa Dân Tộc Lưu Văn Vịnh Biên khảo

      - Từ Bãi Tắm Khỏa Thân Đến Chiêc Giường Của Chu Mạnh Trinh Lưu Văn Vịnh Tham luận

      - Âm Thanh Từ Một Bọc Trứng Lưu Văn Vịnh Nhận định

      - Nhất Linh người định nghĩa sống và định nghĩa chết Lưu Văn Vịnh Khảo luận

    3. Bài Viết về Văn Học (Học Xá) Ad-31 Ad-31 = QC_250-250 (Học Xá)

       

      Bài viết về Văn Học

        Cùng Mục (Link)

      Văn Hóa Nam Bộ Là Tương Lai Của Việt Nam (Lưu Văn Vịnh)

      Lake Crescent (Phạm Hảo)

      Vũ Thất - Đời Thủy Thủ 2: Vài Cảm Nhận Của Độc Giả (Độc Giả)

      Đời Thủy Thủ 2: Chương 17: Sông Lòng Tảo & Kết (Vũ Thất)

      Văn Học Miền Nam: Thơ Văn Ảnh Hưởng Từ Đạo Phật (Nguyễn Vy Khanh)

      Thư Đầu Sách: Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương của Bùi Vĩnh Phúc (Luân Hoán)

      Nghe Tiếng Quê Hương Từ Nơi Xa Thẳm (Nguyễn Thị Tịnh Thy)

      Tượng Đài Nữ Thần Kim Quy Của Vũ Khắc Khoan (Liễu Trương)

      Chiều Thơ Nhạc & Phê Bình "Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương" (Học Xá)

      Tuỳ Bút của Bùi Vĩnh Phúc -- Trường Nghĩa và Tính Liên Văn Bản (Đặng Thơ Thơ)


       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

       

      Văn Học Miền Nam (Học Xá) Văn Học (Học Xá) Ad-31 Ad-31 = QC_250-250 (Học Xá)

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)