1. Head_
    Ad-25-TSu-2301360532 Ad-25-TSu-2301360532

     

     

    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Văn Học Miền Nam: Thơ Văn Ảnh Hưởng Từ Đạo Phật (Nguyễn Vy Khanh) Ad-21 Ad-21 (Google - QC3) (Học Xá)

      23-6-2026 | VĂN HỌC

      Văn Học Miền Nam: Thơ Văn Ảnh Hưởng Từ Đạo Phật

        NGUYỄN VY KHANH
      Share File.php Share File
          

       


        

      Sinh hoạt văn-hóa, triết học và văn-học ảnh-hưởng Phật giáo không chỉ mạnh lên từ sau năm 1963 – và được xem như thế lực văn hóa và chính-trị, mà trước đó với tạp-chí Đại Học (1) và các phân khoa đại học Huế và Sài-Gòn, đã được viết nhiều, thảo luận cũng như nghiên cứu, án luận. Đây là thời thuyết Hiện sinh đã đưa hư vô, hoài nghi, biện chứng, ... đến gần triết lý nhà Phật, qua các giáo-sư Trần Thái Đỉnh (luận án tiến sĩ Paris 1958 “La théorie du Bouddhisme | Khái Niệm Bản Ngã trong Tư Tưởng Triết Học Phật Giáo”; “Thuyết Vô ngã và quan niệm Nhân vị trong Phật-Giáo Nguyên-Thủy”, ...) và Nguyễn Văn Trung (Biện Chứng Giải Thoát trong Phật Giáo / La Conception bouddhique du Devenir).


      Sau 1963 thì tư tưởng, giáo lý nhà Phật cùng những điều hay, đẹp của tín ngưỡng chủ trì từ bi, tu thân, ... được khai triển và khai thác. Những Hermann Hesse, F. Nietzsche, Heidegger, rồi những Suzuki, Phạm Công Thiện, Nhất Hạnh, Tuệ Sỹ,... và Viện Đại học Vạn Hạnh với các phân khoa Văn, Phật, Sư phạm, ... (được viện trợ của Hoa-Kỳ), với các tạp-chí Vạn Hạnh, Tư Tưởng, ... đã góp phần nào đó đưa các nhà văn thơ đi sâu vào thế giới Thiên, Phật, ... Các triết gia Tây phương, từ F. Nietzsche đến Heidegger muốn thoát vòng lý trí, vì triết lý siêu hình và tri thức Tây phương rơi vào khủng hoảng và tìm đến đạo học Đông phương, để đến với tâm thức nhân bản và cuộc sống trần gian.


      Thượng tọa Thích Thiên Ân (tên thật Đoàn Văn An, 22-9-1925 Huế – 23-11-1980 Los Angeles), khoa trưởng phân-khoa Phật học Đại-học Vạn Hạnh năm 1964, dưới bút hiệu Thiên Ân có biên- khảo Triết Học Zen (Đông Phương, 1963. 228 tr.) tổng kết các khía cạnh của Thiền như là triết học. Thượng tọa Thích Mãn Giác (1929 – 2006), Khoa trưởng Phân khoa Phật học và Triết học Đông Phương và Phó Viện trưởng Điều hành Viện Đại học Vạn Hạnh, làm thơ với đạo-hiệu Huyền Không, xuất-bản Phật Giáo và Nền Văn Hóa Việt- Nam (Ban Tu thư Viện ĐH Vạn Hạnh, 1967),... Thượng tọa Thích Tâm ChâuĐạo Phật Với Con Người (Tâm Quang, 1964), ... Cao Huy Đĩnh xuất-bản Văn Học Sử Phật Giáo (Minh Đức, 1971) gồm những bài giảng ở Đại-học Vạn Hạnh và Phật-học Viện Trung-phần ... Đức NhuậnChuyển Hiện Đạo Phật Vào Thời Đại (Vạn Hạnh, 1967), GS Nguyễn Đăng Thục xuất-bản Thiền Của Vạn Hạnh (Kinh Thi, 1973). BS Trần Ngọc NinhĐức Phật Giữa Chúng Ta (Lá Bối, 1972). Thượng-tọa Thích Tâm GiácTìm Hiểu Duy Thức Học (2 tập, Nha Tuyên Úy Phật giáo, 1965), v.v...


      Các tác-giả Nhất Hạnh, Tam Ích, Hoài Khanh, Phổ Đức, v.v... viết báo và xuất-bản về văn học và Phật giáo. Từ năm 1964, các nhà xuất bản đua nhau in sách về Phật, về Thiền, của những Suzuki, Krishnamurti, ... như vừa kể, hay sách dịch Chí Tôn Ca (Bhagavad Gita), v.v... Đi vào văn-chương có tập nhận định Giá-Trị Triết-Học Tôn-Giáo trong Truyện Kiều (kỷ niệm 200 năm thi-hào Nguyễn Du. Đông Phương, 1966) của Thích Thiện Ân. Một Đại hội Văn-hóa Phật giáo cũng đã được tổ chức diễn ra tại Sài-Gòn từ ngày 23-12-1974.


      Nhất Hạnh tên thật Nguyễn Xuân Bảo, sinh 1926 Thừa Thiên, còn ký Hoàng Hoa và Nguyễn Lang, năng động từ sau khi du học Hoa-Kỳ (Princeton University đầu thập niên 1960) về, hiện diện trong sinh hoạt văn-học miền Nam từ thơ văn đến biên-khảo tôn giáo, lịch-sử cùng hoạt động xã-hội, chính-trị. Trước 1975, tác-phẩm đều do nhà Lá Bối của ông xuất bẩn, về thơ văn có Chắp Tay Nguyên Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện (1965), Tình Người (1964), Bông Hồng Cài Áo (1965), Tiếng Đập Cánh Loài Chim Lớn (1967), Nẻo Về Của Ý (1967), Nói Với Tuổi Hai Mươi (1966) - cả hai đã (bắt đầu) đăng trên Giữ Thơm Quê Mẹ. Về các tác phẩm thể loại khác có Đạo Phật Hiện-Đại Hóa (Lá Bối, 1965), Vấn đề Nhận thức trong Duy Thức Học (1969), Việt Nam Phật Giáo Sử Luận (ký Nguyễn Lang, gồm 3 tập, tập 1 xuất-bản trước 1975: Lá Bối 1974), Nẻo Vào Thiền Học (1971), Đạo Phật Đi Vào Cuộc Đời và những tiểu luận khác (1964), v.v... Nhất Hạnh đã có ảnh hưởng đối với giới trẻ qua một số tác phẩm văn- chương. Trích đoạn kết Nẻo Về Của Ý:

      “Dưới con mắt của đại bi, không có tả không có hữu, không có thù không có bạn, không có thân không có sơ. Mà đại bi không phải là vật vô tri. Đại bi là tinh lực mầu nhiệm của sáng chói. Vì dưới con mắt của đại bi, không có cá thể riêng biệt của nhân ngã nên không có một hiện tượng nhân ngã nào động tới được đại bi.


      Em ơi, nếu con người có độc ác đến nước móc mắt em hay mổ ruột em và em cũng nên mỉm cười và nhìn con người bằng cặp mắt xót thương; hoàn cảnh tập quán và sự vô minh đã khiến con người hành động như thế.


      Hãy nhìn con người đã đành tâm tiêu diệt em và đang tạo nên cho em những oan ức khổ nhục lớn lao như trăm ngàn quả núi, hãy nhìn con người ấy với niềm xót thương. Hãy rót tất cả niềm xót thương từ suối mắt em vào người đó mà đừng để một gợn oán trách giận hờn xuất hiện trong tâm hồn. Vì không thấy đường đi nước bước cho nên cái người làm khổ em mới vụng dại lỗi lầm như vậy.


      Giả sử một buổi sáng nào đó em nghe rằng tôi đã chết tăm tối và tàn bạo vì sự độc ác của con người, em cũng nên nghĩ rằng tôi đã nhắm mắt với một tâm niệm an lành không oán hận, không tủi nhục. Em nên nghĩ rằng giờ phút cuối tôi cũng không quay lại kẻ thù ghét con người. Không, con người chẳng bao giờ đáng cho ta thù ghét. Nghĩ như thế chắc chắn em sẽ mỉm cười được, rồi nhớ tôi, đường em, em cứ đi. Em có một nơi nương tựa mà không ai có thể phá đổ và cướp giật đi được. Và không ai có thể làm lay chuyển niềm tin của em, bởi vì niềm tin ấy không nương tựa nơi bất cứ một giả lập nào của thế giới hiện tượng. Niềm tin ấy và tình yêu là một, thủ tình yêu chỉ có thể phát hiện khi em bắt đầu nhìn thấu qua thế giới hiện tượng giả lập để có thể thấy được em trong tất cả và tất cả trong em.


      Ngày xưa, đọc những câu chuyện như câu chuyện đạo sĩ nhẫn nhục để tên vua cường bạo xẻo tai cắt thịt mà không sinh lòng oán giận, tôi nghĩ đạo sĩ không phải con người. Chỉ có thánh mới làm được như vậy. Nhưng Nguyên Hưng ơi tại lúc đó tôi chưa biết đại bi là gì. Đại bi là sự mở mắt trông thấy. Và chỉ có sự mở mắt trông thấy tận cùng mới khiến cho tình thương trở thành vô điều kiện, nghĩa là biến thành bản chất đại bi. Đạo sĩ nhẫn nhục kia đâu có sự giận hờn nào mà cần nén xuống? Không, chỉ có lòng thương xót. Giữa chúng ta và vị đạo sĩ kia, và vị Bồ-tát kia, không có gì ngăn cách đâu, Nguyên Hưng. Có thể tình yêu đã dạy cho em rằng em có thể làm được như Người. Thôi em đã lớn rồi tự lo liệu lấy.


      Chiều mai tôi phải đi rồi. Những giòng chữ viết đêm nay, tôi sẽ không có thì giờ đọc lại. Nguyên Hưng, cho tôi dừng ngang đây. Ngày mai tôi sẽ còn gặp em trước khi lên đường. - Saigon 11-5-1966”

      Đoản-văn Bông Hồng Cài Áo về Mẹ đã đi vào lòng độc giả từ thập niên 1960, nhất là vào mỗi mùa lễ Vu lan; tác-giả nhắc nhở tập tục cài bông hồng lên áo ở Nhật Bản:

      “Ý niệm về mẹ thường không thể tách rời ý niệm về tình thương. Mà tình thương là một chất liệu ngọt ngào, êm dịu và cố nhiên là ngon lành. Con trẻ thiếu tình thương thì không lớn lên được. Người lớn thiếu tình thương thì cũng không lớn lên được. Cằn cỗi, héo mòn.


      Ngày mẹ tôi mất, tôi viết trong nhật ký: tai nạn lớn nhất đã xảy ra cho tôi rồi! Lớn đến cách mấy mà mất mẹ thì cũng như không lớn, cũng cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, cũng không hơn gì trẻ mồ côi (...).


      Năm xưa tôi còn nhỏ / Mẹ tôi đã qua đời!

      Lần đầu tiên tôi hiểu / Thân phận trẻ mồ côi.

      Quanh tôi ai cũng khóc / Im lặng tôi sầu thôi

      Để dòng nước mắt chảy / Là bớt khổ đi rồi...

      Hoàng hôn phủ trên mộ / Chuông chùa nhẹ rơi rơi

      Tôi thấy tôi mất mẹ / Mất cả một bầu trời.


      (...) Đó là điệp khúc tôi muốn ca hát cho anh nghe hôm nay, Và anh hãy ca, chị hãy ca, em hãy ca cho cuộc đời đừng chìm trong vô tâm, quên lãng. Đóa hoa màu hồng tôi cài trên áo anh rồi đó. Anh hãy sung sướng đi" (1962) (2)

      Tuệ Sỹ (tục danh Phạm Văn Thương, sinh 15-2-1943 tại Paksé, Lào, nguyên quán Quảng-Bình) giáo-sư Phật học và triết học tại Đại học Vạn Hạnh và Cao đẳng Phật học viện Hải Đức, Nha Trang, chủ biên tạp-chí Tư Tưởng của Viện Đại-học Vạn Hạnh. Ngoài nhiều sách dịch-thuật như Triết Học về Tánh Không = Sūnyavāda (An Tiêm, 1970), Phật Giáo Việt-Nam từ khởi thủy đến thế kỷ XIII (dịch Le Bouddhisme en Annam của Trần Văn Giáp; Ban Tu Thư Vạn Hạnh, 1968), v.v..., Tuệ Sỹ còn là một nhà thơ đặc-biệt với không gian thi tứ Thiền và thi cảnh cùng giáo lý Phật, đăng trên tạp-chí Thời Tập, Hải Triều Âm, ... Về văn-học và thi ca, ông đã xuất-bản Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn Mộng (Ca Dao, 1973, một phần đã đăng trên Hải Triều Âm cùng năm 1973); trong lời Tựa, ông cho rằng “Thơ vẫn là một cuộc lịch nghiệm Riêng và Chung, của Thời đại và Lịch-sử. Từ cuộc Riêng, Thơ nương theo đôi cánh Thi và Dịch để đi về nơi Hoằng viễn, dẫn Lịch-sử Uyên nguyên tụ hội với Thời đại. Hình như những sự này tôi nghe được từ nơi thơ của Đông Pha, có nghe lộn hay không, thì không biết. Nhưng cứ xin lấy chỗ nghe được đó ra để bố trí cho quyển sách này” - vì ông nghiệm ra “thơ không là ẩn ngữ”.


      Ở phần hai “Những phương trời lữ thứ” cho thấy ông hiểu và sống thi cảm người xưa trong một tình cảnh riêng tây nhưng thi tính và tâm thức lữ thứ tỏa rộng khắp cõi nhân sinh:

      “Thơ từ phế phủ ra

      Lại làm sầu phế phủ.


      Nào chỉ thế thôi ư? Thơ phát ra từ những khổ lụy và những nguyện ước khơi vơi của cuộc tồn sinh; từ độ đó, Thơ đi vào những thảm họa hoành sinh của Lịch sử. Từ buổi bình minh, Thơ vang vọng những lời tình tự thiết tha, từ tiếng chim thư cựu nơi cồn cát, đến những đêm dài trằn trọc, trong nguyện ước lứa đôi ... Thế là, từ những phương trời viễn mộng ban sơ, Thơ dấn bước đi vào Cuộc Lữ. (…)


      Thơ phát ra từ cuộc Lữ đọa đày, rồi trở lại đọa đày cuộc Lữ. Cuộc Lữ là trường thể nghiệm lịch sử tồn sinh thảm họa của Thơ. Và Thơ mở rộng những phương trời Lữ Thứ. Quê Hương nguyên thủy chỉ là những âm vang của Lịch sử, vang dội ngân dài trong những phương trời viễn mộng. Cho nên, Đất của Thơ đất Trích, là những vùng đày ải; Đường của Thơ là Quán Trọ, là những bước đường ngược gió. Mặn nồng nơi Đất Trích, lân la nơi Quán Trọ, cuộc thể nghiệm dây dưa với hằng triệu vấn vương, và cũng là cuộc thể nghiệm cho khước từ tuyệt đối. Cho nên, lời Thơ càng lúc càng trầm trọng, như viên sỏi rơi vào lòng biển bao giờ cho tới đầy thì thôi. Biết bao giờ cho tới đầy, để lấy đó làm Quê-Hương hằng cửu? Bởi cách điệu trầm trọng như thế, nên Thơ là phong vận tài hoa, đẹp như những cụm mây trời trong nắng sớm”.

      Ở Tô Đông Pha, Thi sĩ và Thiền sư chỉ là một: “Đạt đến cõi thượng thừa của Thơ, như người học Thiền chứng chỗ Không tịch của Đạo; cái đó vừa khó vừa dễ. Học Thiền ba mươi năm, 30 năm đày đọa thân tâm mà không thành. Phẫn chí, bỏ đi; bất chợt thấy một cánh hoa rơi, cõi Không tịch cũng hoát nhiên, đột ngột mở ra. Chỗ ảo diệu đó, khó giảng cho thông. Cho nên không thể nào lấy tay chỉ thẳng vào cõi thơ, rồi bảo đây là chân diện mục của nó...(3).


      Trước 1975, thơ ông đăng tạp-chí và chưa được xuất-bản, sau này có các thi tuyển Giấc Mơ Trường Sơn (Paris: An Tiêm, 2002) và Những Điệp Khúc cho Dương Cầm (Phương Đông, 2009).


      Thơ Thiền ở Việt Nam khởi đi từ những bài thi, phú của các thiền-sư đời nhà Trần thuộc Trúc-Lâm Yên-Tử. Thiền-thi tiên quyết không hẳn là thi-kệ và phải có những chức năng cần đủ để tạo nên thi ca, tức không chỉ nhắc vài từ ngữ nhà Phật là đủ. Văn-học miền Nam thời 1954-1975 này đã có những bài thơ thám hiểm cõi Thiền của Quách Tấn, Hoài Khanh, Trụ Vũ, Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Nhất Hạnh, Phổ Đức, Phạm Công Thiện, ... và nữ như Trần Thị Tuệ Mai (giải Thơ Văn học Nghệ thuật Toàn quốc năm 1966 với Không Bờ Bến), Hoàng Hương Trang đã đưa vào thơ miền Nam những thi tứ, nội-dung, ... nhà Phật (4). Và ghi nhận các tuyển tập thi văn đã được xuất-bản như Phận Nạn Thi Tuyển (do Nguyên Quang, Nguyễn Văn Hòa xb, 1962), Tuyển Tập Thơ Giữ Thơm Quê Mẹ (1966), v.v...


      Giữ Thơm Quê Mẹ chỉ với 12 số đã là một xuất phát ân sủng cho văn nghệ ảnh hưởng Phật giáo và luồng văn-nghệ, tư tưởng thoát ra ngoài khuôn khổ khoa bảng, nhà trường (và dư luận) cho đến lúc đó. Nghị luận và sáng-tác văn-nghệ hiện thực và muốn đáp ứng tâm thức con người thời đại, và đã được độc giả đón nhận như một món quà văn-nghệ bất ngờ.


      Số ra mắt, tháng 7-1965, mở đầu với bài thơ Chỗ Đứng của Nhất Hạnh:

      “quê hương tôi là đây

      chỉ có dòng sông, hàng cau, vườn chuối;

      mặt trái đất dù mang đầy cát bụi

      nhưng trăng sao vẫn đẹp những đêm Rằm” (tr. 2).

      Kế là những bài thơ của Bùi Giáng (Ruộng Đồng Mọc Cỏ, Dưới Trời), Hoài Khanh (Về Nguồn), Phạm Công Thiện (Bất Nhị), ... và lời trần tình của Hồ Hữu Tường về quá-khứ Mác-xít và dân-tộc của mình: “Muốn “Giữ Thơm Quê Mẹ” thì khắp đâu đâu, tín đồ của đạo thờ tổ quốc đốt xông lên trầm hương của khoan dung và tình thương. Bởi vì, chỉ có khoan dung và tình thương mới có mùi thơm. Còn căm hờn và hận thù bao giờ cũng tanh mùi máu (“Ngày trở về của đứa con hoang”, tr. 22) - đã như vạch những tiêu-lộ cho tạp chí.


      Đến số 10 (4-1966), nhà văn lão thành Thiếu Sơn tiếp tục nêu vấn-đề “Nhà văn phải làm gì để giữ thơm quê mẹ?”, đã tự hứa (và chắc là nhắn nhủ giới trẻ luôn) “sẽ phải viết những gì khác hơn những cái tôi đã viết trước kia. Tôi phải nói lên đức hy sinh, lòng ái quốc, tinh thần bất khuất của dân-tộc để phản ảnh một phần nào giai đoạn lịch-sử mà tôi chứng kiến(tr. 20).


      Bài vở đa dạng, với nhiều cây bút thơ văn, nghị luận. Nhất Hạnh ngoài thơ còn có truyện dài đăng-từng-kỳ Nẻo Về Của Ý và những bài viết như “Bến Tre: ghi nhận địa lý văn-hóa(số 2, 8-1965) nhân một chuyến công tác với sinh viên Phật tử, nhìn sông nước, cảnh vật đặc thù địa phương và để dòng suy tưởng giáo lý, văn-hóa, xã hội và tâm thức trở về, cập nhật... dấn thân: “... ấn tượng con sông đỏ chảy cuồn cuộn trong mùa nước lên vẫn còn sâu đậm trên tâm hồn tôi, khiến tôi không thể ngồi đấy mà nghĩ mãi đến tre và dừa (...) Hình ảnh của con sông Cửu Long cuồn cuộn chảy là hình ảnh của những cuộc đời sẵn sàng lăn xả vào hành động. Hành động, phải hành động dũng cảm. Phải sẵn sàng đối phó. Phải trào lên, phải dâng cao. Phải xăn cao hai tay áo, đi vào cuộc sống một cách tích cực ...(tr. 21-22)


      Văn thơ tỏ ra những nét rất riêng, một số đại diện cho những tiếng nói “thiểu số” “ngoài lề” về văn hóa và chính-trị. Riêng thơ, về sau được tập trung trong Tuyển Tập Thơ Giữ Thơm Quê Mẹ, như “một vườn hoa thơ bị vùi dập vì giông bão chiến họa trên lòng đất mẹ Việt Nam nhưng vẫn vươn lên khoe sắc”, “một tổng hợp tiếng nói về quyền sống, về tình yêu thương”.


      Nhóm Giữ Thơm Quê Mẹ chuyên về văn hóa dân tộc và Phật giáo. Thật vậy, chỉ sau ngày đảo chánh 1-11-1963, các sinh hoạt về báo-chí với những tạp chí Tư Tưởng, Vạn Hạnh, Giữ Thơm Quê Mẹ,... và về xuất bản với các nhà Lá Bối, An Tiêm, Ca Dao... đã lớn dậy, nhất là với sự xuất hiện của các tổ chức, cơ sở Phật giáo, nhất là với sự thành lập Đại học Vạn Hạnh. Các tác giả Phạm Công Thiện, Nhất Hạnh, Trụ Vũ, Phổ Đức, Võ Hồng, Hoài Khanh, ... đã cho ra đời nhiều tác phẩm qua các thể loại khác nhau, nhưng nói chung, liên quan hoặc ảnh-hưởng xa gần với triết lý và văn-hóa Phật giáo hoặc những luồng tư tưởng mới hay ngoài luồng kinh điển, giáo khoa thịnh hành. Nhưng các sinh hoạt văn-hóa theo tình thế chính trị đã nghiêng về tranh đấu. Nếu một số giáo-sư, trí thức, văn-nghệ sĩ phía Công giáo từ bảo thủ dần dà nghiêng hẳn về phản chiến, thì bên Phật giáo, một trong những nhóm chủ trương hòa-bình kiểu khác và đang tìm cách tuyên truyền thuyết phản chiến và ngụy hòa trên một số các quốc gia tự do, trong đó có cả Hoa Kỳ, và liên hệ đến giáo hội Việt Nam thống nhất, là nhóm Thích Nhất Hạnh chủ trương và lãnh đạo, song hành với một nhóm có tính “chính khách” hơn chung quanh nhân-vật Thích Trí Quang.


      Triết lý, tín ngưỡng Phật giáo (chủ hòa, không sát sinh, ...) phần nào đó cũng đã thật sự ảnh-hưởng đến phong trào phản chiến – hoặc con người sử-dụng để “tranh đấu” và làm chính-trị. Giữ Thơm Quê Mẹ muốn làm tiếng nói của lương tri Phật giáo và dân tộc, vào thời chiến tranh leo thang với việc Hoa-Kỳ đổ quân trực tiếp tham gia chiến-tranh. Cùng với các vị trí thức Công-giáo thiên tả Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung, Chân Tín, Trương Bá Cần, Nguyễn Ngọc Lan, v.v... qua các báo Hành Trình, Đất Nước, Đối Diện, Nhất Hạnh với nhà xuất bản Lá Bối, báo Giữ Thơm Quê Mẹ: đã lên tiếng phản chiến mà họ xem như là một lối giải quyết cuộc chiến tranh huynh đệ nhưng chủ động bởi các thế lực ngoại lai - nhưng lại theo phong trào phản chiến ở Mỹ và một số nước Âu Mỹ! Nhiều số Giữ Thơm Quê Mẹ - cũng như với các báo khác, bị kiểm duyệt phải bôi đen nhiều câu, nhiều đoạn, điển hình trong các truyện ngắn Thư Viết Từ Một Xóm Quê của Dương Nghiễm Mậu, Ngồi Đợi Ngoài Hành Lang của Nguyễn Đức Sơn, Lý Do của Văn Lệ Thiên, Giao Thừa Bệnh Viện của Hằng Hà Sa, Hoa Vông Đỏ của Nguyễn Phước, kịch Pho Tượng Linh Mai của Chinh Ba, ... ; đặc-biệt truyện ngắn Hoa Vông Đỏ (số 3, 9-1965), kiểm duyệt đã cắt hết những ý mà nhân-vật vừa tìm ra để viết nên tác-phẩm “Hoa Vông Đỏ” làm như muốn bắt người đọc phải tự nghĩ ra!


      Các tạp-chí khác ở miền Nam thời bấy giờ như rõ rệt theo một đường lối, nhóm... Khi Giữ Thơm Quê Mẹ ra đời còn được hiểu như để làm nơi thử nghiệm triết lý Hiện sinh, Hiện-tượng luận, ... cũng đến với giới trí thức và giới trẻ qua con đường Phật giáo, nhất là từ những năm 1965 với Đại học Vạn Hạnh, các tạp-chí và giáo-sư thuộc Phật học như Tư Tưởng, ... các giáo-sư, tác-giả như Phạm Công Thiện, Nhất Hạnh, Ngô Trọng Anh, Lê Tôn Nghiêm, Tam Ích, v.v... Mặt khác, Giữ Thơm Quê Mẹ không khỏi không tham gia đấu tranh và cổ võ hòa bình. Phi Chiến (không rõ tên thật, tiểu sử!) xuất hiện trên số 11 (5-1966) với bài “Lương tâm của nhân loại và lương tâm của con người” dùng thư từ của sinh viên nêu vấn-đề với các giáo- sư, trí thức mà mọi người xem như là “lương tâm của nhân loại” đã “đồng lõa với kẻ xâm lăng”, với guồng máy chiến-tranh. Theo ông tầng lớp sinh viên, học sinh còn nặng tinh thần dân-tộc nên mới thật sự “đại diện cho lương tâm của nhân loại”, và cuộc “cách mạng” mới này phải đi lại từ dưới đi lên “theo đường lối dân-tộc với khả năng và xương máu của dân tộc để cải tạo cái xã-hội sa đọa này” – bài của Giữ Thơm Quê Mẹ mà cứ như của báo đấu tranh in ronéo của sinh viên xuống đường


      Đến số cuối 12 (6-1966), Phi Chiến lại xuất hiện với bài “Tất cả trái tìm chúng tôi đều hướng về họ” - “họ” ở đây là một “Liên Minh Hòa Bình" có khả năng của đạo Phật. Nhân vụ binh lính Hoa-Kỳ nổ súng sau nhà Quốc hội, ông (hay bà) này đòi Mỹ rút quân về nước và "chấm dứt chiến tranh để nối lại tình giao hảo giữa hai dân- tộc" Việt và Mỹ: "không phải chúng tôi sẵn sàng mở cửa cho Việt cộng vào Miền Nam Việt Nam này, không phải là chúng tôi bỏ cuộc tranh đấu chống lại sự xâm nhập của chủ nghĩa Cộng Sản. Nhưng chúng tôi có đường lối chống Cộng của chúng tôi, khác hẳn với đường lối của người Mỹ”. Phi Chiến dẫn lời Thượng Tọa Thích Trí Quang: “Đạo Phật đại từ đại bi vẫn có đại hùng đại lực để ngăn chận tất cả những chủ nghĩa ngoại lai không có gốc rễ trong dân tộc. Và đạo Phật sẽ có đủ đức độ đem tình thương phủ lên sắt thép.(tr. 16)


      Dĩ nhiên, còn có những bài viết khác, như Thiên Ân trong số 3 (9-1965) có bài “Asoka một chính-trị gia vĩ đại hay là nền hòa bình đích thực cho con người” nhắm người tu sĩ nhưng có thể hiểu là mọi người, đã bàn đến chiến-tranh và chính-trị Chánh pháp cùng “tinh thần khoan đại, tự do và khai phóng của Asoka” trong việc thu phục lòng dân.


      Tiếp nối Giữ Thơm Quê Mẹ có thể nói đến các tạp chí Vạn Hạnh, Hải Triều Âm, Tư Tưởng, ..., mỗi tờ một mục-đích và độc giả riêng nhưng chung đường hướng tâm linh, tư tưởng.


      Có thể nói ảnh-hưởng từ Phật giáo vào văn-chương thời này thực sự rộng lớn, từ văn truyện đến thi ca và cả âm nhạc (như lời nhạc Trịnh Công Sơn pha ngôn-ngữ Thiền, Phật với các trào lưu tư tưởng hiện-đại khi diễn tả thân phận của con người Việt-Nam vào thời bạo động của chiến-tranh)! Tuy vậy thời 1954-1975 đã có những đụng độ văn-hóa và văn-học mà chúng tôi không thể không nói đến. Thật vậy, trước đảo chánh 1-11-1963, một số Phật tử và học giả vẫn cho rằng Phật giáo không được phát huy đúng mức và đúng khả năng cùng giá trị tinh thần, tư tưởng. Tam-nguyệt-san Hải Triều Âm đã có những bài viết tổng kết và phê phán tình trạng này trước năm 1963. Trần Quang Phúc trong bài “Mười năm sinh hoạt văn-hóa Phật giáo tại Việt-Nam (1963-1973)” (số 2, tháng 5-6- 7/1973, tr. 143-163), đã nhận xét rằng một số giáo-sư thuộc nhóm mà ông gọi là “đại học Huế” đã viết về Phật học và Phật giáo cùng lúc giới thiệu thuyết Hiện sinh ("nhưng bão tổ của hiện sinh hình như làm cho Phật học mất sinh khí. Phật giáo có thể vô thần như một khía cạnh triết học hiện sinh. Nhưng kinh-nghiệm hiện sinh nếu không phải là kinh-nghiệm từ hữu và hư vô, có lẽ vô thần chỉ là một thứ không sống thực. (...) Cả hai cùng bắt từ kinh-nghiệm thống khổ của con người, trong triết học hiện sinh, kinh-nghiệm thống khổ có tính cách biện chứng, cho nên nó bi quan một cách hùng dũng như Abraham đứng trước dung nhan Thượng đế. Kinh-nghiệm thống khổ trong Phật giáo chỉ là kinh-nghiệm thông thường, đã không hùng dũng lại không giải quyết số phận hiện sinh...”) khiến cho “Phật giáo hình như bị đứng khựng lại, và trở thành một thứ hoài nghi khó hiểu”. Họ Trần chỉ trích “thái độ hoài nghi của các nhà Phật học cổ đại” bắt nguồn từ 'trí thức Pháp mà trung tâm là trường đại học Louvain (Bỉ) với Vallée Poussin “đã làm nhức nhối những người học Phật một thời”. Từ những “sai lầm” đó đã dọn đường chuẩn bị cho hiện-tượng Thiền, Heidegger, Nietzsche, ... sau 1964 lên cao điểm (với Phạm Công Thiện, Nhất Hạnh, ...) nhưng rồi 'sụp đổ toàn diện' sau 10 năm. Nay, sau những biến cố chính-trị, tôn giáo xảy ra ở miền Nam từ sau 1963 đến năm 1973 với Hiệp định Paris hòa-bình, họ Trần kết luận “Phật giáo quả tình đã đóng góp cho thời buổi điêu linh đủ mọi mặt xã-hội, văn-hóa, giáo-dục, bằng tất cả khả năng, và bằng tất cả sự nghèo đói cố hữu của mình”.


      Hải Triều Âm là cơ quan của Tổng Vụ Văn Hóa thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt-Nam Thống Nhất cũng đã tổ chức một Đại hội Văn hóa Phật giáo cuối tháng 12-1974 mà những vấn đề văn hóa đã được đem ra thảo luận. Chủ-nhiệm kiêm chủ-bút Thích Mãn Giác tiếp Trần Quang Phúc để phản đối những cái gọi là “xúc phạm văn- hóa Phật giáo” với những bài như “Phan Kế Bính, ông là ai?(số 7, Vu lan 1974), “Khai thác truyện Sãi Vãi ở đại học với dụng ý gì?(số 8, 12-1974 & 1-2/1975) nghi ngờ việc nhóm Phong trào Văn hóa của LM Thanh Lãng và Phạm Việt Tuyền tái-bản cuốn Việt-Nam Phong Tục và đưa Truyện Sãi Vãi vào chương trình học tập ở Văn khoa – Theo ông, Phan Kế Bính là một tân tòng Ki-tô giáo và theo Pháp nên đã “lớn tiếng đả kích, miệt thị, khinh bỉ Phật giáo một cách trắng trợn, hời hợt và xuẩn động (...) mà khi xuất-bản tập sách này, Linh Mục Thanh Lãng, Giám đốc GS Phạm Việt Tuyền, Quản lý Phong trào Văn-hóa xem nó là Bộ Quốc Sử...” (Bđd, tr. 32)


      Nguyễn Vy Khanh


      Chú-thích:

      1- Phan Xuân Sanh. “Ảnh-hưởng Phật giáo trong thi-ca Việt-Nam”, Đại Học, số 9, 5-1959; v.v...

      2- X. thêm phần giới thiệu Nhất Hạnh về văn học phản chiến và thi ca của Quyển thượng này.

      3- Tuệ Sỹ. Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn Mộng (Ca Dao, 1973), tr. 8-9, 16, 105, 106-7 và tr. 85-86.

      4- X. thêm Doãn Quốc Sỹ, Hoài Khanh, v.v... ở Quyển Hạ-Tác-Giả.


      [Văn Học Miền Nam 1954-1975. Q. Thượng (Nhân Ảnh, 2021), tr. 170-179]


      Nguyễn Vy Khanh

      Ngôn Ngữ số 43 | 1 Tháng 5 Năm 2026
      Tạp Chí Văn Học Nghệ Thuật

      Ad-22-A_Newest-Feb25-2022 Ad-22-A_Newest-Feb25-2022


      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Văn Học Miền Nam: Thơ Văn Ảnh Hưởng Từ Đạo Phật Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Nhà văn Trịnh Y Thư Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Văn-Học Việt-Nam Hải Ngoại Đã 50 Năm Nguyễn Vy Khanh Khảo luận

      - Nguyễn Minh Nữu Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Lê Hân, Nhà Thơ Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Lê Hoằng Mưu, nhà tiểu thuyết tiên phong Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Linh Mục Thanh Lãng, nhà văn học sử Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Thơ Hà Nguyên Du Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Về Một Cuộc Hội Thảo Văn Học và Báo Chí Miền Nam 1954-1975 Nguyễn Vy Khanh Nhận định

      - Văn Chương Có Biên Giới Không? Nguyễn Vy Khanh Tiểu luận

    3. Bài Viết về Văn Học (Học Xá) Ad-31 Ad-31 = QC_250-250 (Học Xá)

       

      Bài viết về Văn Học

        Cùng Mục (Link)

      Trò chuyện với nhà văn Kim Hài - Người gieo trồng những hạt mầm thiện lương, nhân ái và yêu thương (Triều Hoa Đại)

      Bùi Vĩnh Phúc - Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương: Mục Lục (Học Xá)

      Bùi Vĩnh Phúc: Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương - Vài nét về tác giả & tác phẩm (Ngôn Ngữ)

      Bùi-Vĩnh-Phúc-Thơ — Từ Thủ Pháp Đến Cảm Xúc (Trần C. Trí)

      Trò chuyện cùng nhà thơ & dịch giả Thiếu Khanh - Người miệt mài thủy chung cùng chữ nghĩa (Triều Hoa Đại)

      Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc: Lời Tựa (Hoàng Văn Chí)

      Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc: Muc Lục (Hoàng Văn Chí)

      Giữa Cảm Nhận Và Phê Bình: Khoảng Trống Của Mỹ Học Văn Chương (Uyên Nguyên)

      Văn Hóa Nam Bộ Là Tương Lai Của Việt Nam (Lưu Văn Vịnh)

      Lake Crescent (Phạm Hảo)


       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

       

      Văn Học Miền Nam (Học Xá) Văn Học (Học Xá) Ad-31 Ad-31 = QC_250-250 (Học Xá)

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)