1. Head_
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Quan Dương – Một Đại Dương Thơ Mênh Mông (Phạm Tín An Ninh)

      12-4-2019 | VĂN HỌC

      Quan Dương – Một Đại Dương Thơ Mênh Mông

        PHẠM TÍN AN NINH
      Share File.php Share File
          

       


           Nhà thơ Quan Dương

      Tôi ái mộ nhà văn Quan Dương trước khi biết anh là một nhà thơ và mê thơ của anh. Vào những năm đầu của thập niên 90, thời gian những người tù Cộng Sản sang Hoa Kỳ theo các đợt HO, tôi vô tình đọc được một số truyện ngắn của một tác giả có cái tên khá lạ – Quan Dương, đăng trên các tạp chí văn nghệ tiếng tăm: Văn, Văn Học, Văn Tuyển. Truyện nào cũng hay, cũng sâu sắc, tạo cho tôi nhiều cảm xúc. Tôi đặt dài hạn báo VănVăn Tuyển chỉ để đọc Quan Dương. Định cư ở vùng Bắc Âu xa xôi, băng giá, nên mỗi lần đọc truyện Quan Dương tôi có cảm giác ấm áp lạ thường, bởi lúc nào cũng nhìn thấy bóng dáng của chính mình và bạn bè trong đó.


      Một hôm, đọc truyện Lá Rụng Về Cội, thấy tác giả có đề cập đến nhiều địa danh quen thuộc ở Ninh Hòa, quê vợ tôi, tôi giật mình. Ninh Hòa có một nhà văn tài ba như thế? Tôi hỏi bà xã, bà đoán có thể là một người bạn học, vì thấy cái tên có nét quen quen, nhưng không tin là bạn ta có tài viết văn hay như thế, bởi khi đi học anh chàng chỉ nghịch ngợm và phá phách, mặc dù rất dễ thương, chứ có viết lách gì đâu. Tôi liên lạc hỏi anh Nguyễn Xuân Hoàng và anh Phạm Ngọc, chủ biên tờ VănVăn Tuyển, đều có tòa soạn ở San Jose. Cả vợ chồng tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú. Bà xã tôi đoán đúng, đó chính là ông bạn cùng lớp thời trung học: Dương Công Quan.


      Đầu năm 1972, sau một cuộc hành quân dài hạn ở An Khê, được một tuần phép, tôi về Ninh Hòa thăm vợ con. Bất ngờ trên đường tôi gặp bà xã cùng mấy người bạn học rủ nhau ra tắm biển Đại Lãnh. Trong số hơn mười bạn cả nam lẫn nữ này, có hai người mặc quân phục, là những sĩ quan rất trẻ. Một người cao và ốm “như con còng gió” (theo lời đùa ghẹo của mấy cô bạn) chính là Dương Công Quan. Bắt tay một lần, nhưng chúng tôi chưa quen, cho đến khi tôi đọc những truyện đầu tay của anh viết, và sau này, khi quen nhau, tôi mới có dịp đọc thơ anh. Vợ chồng tôi nhận được món quà quý giá của người bạn học, một đồng đội cũ, hai tập thơ Ruột Đau Chín KhúcĐợi Khuya Tàn Bắt Sống Một Chiêm Bao.


      Tôi mê thơ Quan Dương từ khi ấy, đã lâu lắm. Nhiều lần muốn viết đôi dòng về thơ của anh, tôi đã ngồi thật lâu trước bàn phím để rồi cuối cùng cũng chẳng viết được dòng nào. Bởi vì thơ Quan Dương nhiều quá, đủ mọi thể loại, đề tài, mà bài nào cũng hay cũng đáng đọc. Từ tuổi thơ, thời học trò, quê hương, tình yêu, tình mẫu tử, tình bạn, tình lính, tù ngục, tha phương và nỗi trăn trở cùng quê hương đất nước… Tôi như một thằng bé con ngồi trước một đại dương bao la, không còn biết đâu là chân trời, không biết khởi đầu từ đâu và đi theo con đường nào để khỏi lạc lối giữa mênh mông. Tôi thường tâm sự với bạn bè, Quan Dương không phải viết thơ mà thở ra thơ. Bất cứ một cảm xúc, một sự kiện nào vừa đến với anh, hoặc xảy ra cho người thân, cho bạn bè và cho cả cho quê hương đất nước, người ta đều đọc được những bài thơ của Quan Dương ngay sau đó. Và bài nào cũng tuyệt.


      Một lần, trên đường chạy bão Katrina từ thành phố New Orleans, nơi gia đình anh ở, anh vẫn thở ra một lúc mấy bài thơ. Lúc ấy, tôi đang ở tận Bắc Âu, chưa kịp hỏi thăm, thì đã nghe trên đài VOA đọc bài thơ “Chạy Bão” của anh rồi.


      Thơ Quan Dương rất riêng, cách làm thơ, ngôn ngữ thơ và cả những cảm xúc, suy nghĩ của anh cũng rất đặc biệt, không giống bất cứ một nhà thơ nào. Bất ngờ đọc được một bài thơ hay ở đâu đó, dù chưa thấy tên tác giả, tôi đã nhận ra “hơi thở” của Quan Dương. Dường như bây giờ ai cũng làm thơ, như một người nào đó đã ví von “mỗi người Việt Nam là một nhà thơ”. Nhưng làm thơ hay thì thật tình không nhiều, và thơ có nét riêng, không giống bất cứ ai, lại càng hiếm hoi hơn.


      Tôi bắt đầu mê Quan Dương từ một bài thơ rất xưa, có lẽ khi anh bắt đầu làm thơ. Tôi không biết rõ là anh làm thơ từ lúc nào, nhưng đọc qua bài thơ, ai cũng nhận ra tác giả còn rất trẻ. Lời thơ tự nhiên như đùa bỡn mà lôi cuốn người đọc, tạo nhiều cảm xúc đến không ngờ. Ngay cả cái tựa bài thơ cũng rất đơn giản, nghịch ngợm như trẻ thơ –

      Tắm Sông


      Hồi nhỏ tôi rất anh hùng…

      Một mình dám nhảy cái đùng xuống sông

      Bơi nghiêng, bơi ngửa giữa dòng

      Hiên ngang trấn giữ suốt vùng tuổi thơ

      Có cô bé ở cạnh nhà

      Phục tôi sát đất thường ra lén dòm


      Thời gian như những nhánh sông

      Tuôn ra biển … để mãi không trở về


      Lớn lên trở chứng ngu khờ

      Mắt em nào phải bến bờ sông sâu

      Cớ sao chưa kịp lộn nhào

      Đành chịu chết đuối

      thiệt đau

      Đúng là

      Ngay bài thơ nói về sự ra đời của anh cũng rất lạ và cảm động. Bài thơ với chỉ hơn hai mươi dòng, người đọc đã nhận ra cả thân phận, cuộc đời và tấm lòng của tác giả:

      HOÀI NIỆM TỪ MỘT CHIẾC CẦU


      Chiếc cầu gầy nằm vắt ngang con sông

      Mùa nước cạn rong rêu đùn thấy đáy

      Vết thời gian sạm thành cầu nhăn nhíu

      Mấy mươi năm xưa má đẻ tôi nơi này


      Má đẻ tôi trên một đụn cát đen thui

      Mùa hạ rác nồng lên ngập nước

      Giặc Tây về, má chôn đùm nhau thằng con đẻ rớt

      Cát cong người nhận tiếng khóc oằn lưng


      Tôi lớn cùng hơi thở của dòng sông

      Đã sớm biết mùi quê hương từ đó

      Mùi quê hương tôi: mùi rong rêu thơ dại

      Lật hồn ra thấy nhớ đựng đầy tràn


      Khi tôi lên đường vì khói lửa chiến tranh

      Hành trang trên lưng là chiếc cầu thơ ấu

      Tôi mang theo niềm trở trăn của má

      Lúc Tây ruồng đẻ rớt tôi trên bờ sông


      Khi tan hàng tôi bị bắt làm tù bình

      Chiếc cầu ôm tôi mỗi đêm, ru tôi ngủ

      Trong trại khổ sai nghẹn hồn tôi giọt lệ

      Của má moi lòng rứt ruột tiễn tôi đi


      Khi tôi ra tù trở lại nơi xưa

      Đứng trên thành cầu nhìn xuôi theo dòng nước

      Sông tắt nghẽn, giọt lệ đau nuốt ngược

      Con cá đỏ mang không có chốn quay đầu


      Tôi ngậm ngùi bỏ đi rất xa

      Đã mười sáu năm chưa một lần trở lại

      Cỏ cũng đã phủ xanh lên mộ má

      Tóc đen xưa giờ bạc theo tháng ngày


      Con phố ngày nào giờ cũng đã đổi thay

      Những ánh điện lạnh lùng chen nhau rực rỡ

      Bóng đèn vàng soi chiếc cầu thuở nhỏ

      Chỉ còn trong hiu hắt nỗi nhớ nhà

      tháng 3/2010

      Tình quê, tình mẹ luôn phảng phất trong thơ Quan Dương, và hình ảnh chiếc cầu bắc qua sông Dinh, anh thường gợi lên như một biểu tượng. Có nhiều nhà thơ đã viết về sông Dinh, cầu Dinh, nhưng với tôi, cây cầu Dinh của Quan Dương đã nói được rất nhiều điều, đã giữ cho Quan Dương nhiều kỷ niệm. Nếu người Ninh Hòa xa quê hương đều nhớ cầu Dinh, thì Quan Dương chắc chắn phải là một trong những người nhớ nhất, và chính những bài thơ của anh đã làm cho cây cầu và con sông Dinh đẹp hơn, thơ mộng và dễ thương hơn những gì nó có:

      CHIẾC CẦU CÓ TÊN SÔNG DINH


      Hai bên dãy phố là nhà

      Con đường cõng chợ đi qua chiếc cầu

      Là nơi cắt rốn chôn nhau

      Cho tôi được bước vào đời rộng rinh


      Chiếc cầu có tên sông Dinh

      Có bờ tre đứng thì thầm với nhau

      Chang chang nắng liếm da đầu

      Trưa hè theo chú dế màu than mun


      Lớn theo tiếng kẻng tan trường

      Tôi ôm vạt nắng theo hương gió lồng

      Nắng đội nắng. Mưa đội giông

      Lang thang khắp ngõ trong hồn nhói đau


      Từ sau một cuộc bể dâu

      Bỏ giàn mướp với giàn bầu lắt lay

      Trăng đêm rụng xuống ban ngày

      Còn nghe tiếng má bên tai ạ ời


      Chiếc cầu chở tuổi thơ tôi

      Gập ghềnh trên mỗi khúc đời nhấp nhô

      Lòng tong đụt nắng ven bờ

      Chênh chao bóng má sóng xô mưa cào


      Chợ chiều bổi hổi cọng rau

      Bóng đêm má đội trên đầu vì con

      Tôi đi ra khỏi nước non

      Long đong vá mãi vết thương tháng ngày

      Lời thơ không cần trau chuốt, cầu kỳ, ngôn ngữ rất bình thường, nhưng làm ta xúc động. Anh làm thơ như là đang kể chuyện với ai đó, nhưng mỗi dòng, mỗi chữ đều có mang theo hồn tác giả.


      Bài thơ chín đoạn mang tên ”Ruột Đau Chín Khúc” của anh đã làm tôi rơi nhiều nước mắt. Bài thơ nói về cuộc tình thơ mộng trước khi anh cưới cô gái Phú Phong, và chị mang thai đứa con đầu lòng khi đất nước đang trong cơn hấp hối. Sinh con gái, nghe lời anh dặn, chị đặt tên Dương Thị Lục Bình, như đoán trước tương lai nổi trôi bồng bềnh của cháu. Anh ở trong tù, chị khốn khổ như không còn có đất để dung thân, cháu Lục Bình ốm đau, không sữa uống, không thuốc thang nên đã sớm từ bỏ thế gian, không hề gặp mặt cha, dù chỉ một lần.

      ……


      Cuối tháng tư tôi gặp lại em

      Sài Gòn đang vào cơn hấp hối

      Em nghẹn ngào nhìn tôi không nói

      Lệ lưng tròng chẳng dám thở than


      Ngày chiến tranh nhịn đói đâu cần

      Gặp lại nhau như còn tất cả

      Dù cuộc đời đã thành dâu bể

      Dù trắng tay đen bủa tương lai


      Em bảo tôi con sắp chào đời

      Quê hương lại sa vào tay giặc

      Tổ quốc tôi: cánh bèo con nước

      Đặt tên con: Dương Thị Lục Bình


      (mỗi cánh bèo là mỗi gian truân

      Khi chào đời khổ đau con nhớ

      mẹ đã ươm con từng hạt thở

      Hoa lục bình sắc tím quê hương)


      Nhục đau này để lại cho con

      Dòng máu đó muôn đời bất khuất

      Trên bản đồ không còn đất nước

      Nhưng trong hồn tổ quốc muôn năm


      Tôi vào tù trả nợ tiền khiên

      Miền đất khổ em làm cô phụ

      Biết bao năm trả hoài mới đủ?

      Cho nên em mưa nắng đợi chờ


      Chiều mây rừng trắng màu áo xưa

      Trắng mênh mông bên bờ nỗi nhớ

      Nhớ mái tóc thả buông quá nửa

      Em nụ cười khờ dại xinh xinh


      Con suối nhỏ len lách ven rừng

      cuốn thời gian mài mòn viên sỏi

      Viên sỏi đau lòng tay hôi hổi

      Tôi bồi hồi trong nỗi nhớ em


      Con phố nơi hai đứa mình quen

      Giờ có còn đường chân bé nhỏ?

      Dấu chân đó nay em thiếu phụ

      Ngồi ru con để đợi người về


      Mùa đông gầy ướt mảnh sơn khê

      Người thiếu phụ ôm con cô lẻ

      Người chẳng lại đường trăng bỏ ngỏ

      Người bây giờ người ở nơi đâu?


      Đứa con thơ từ buổi chào đời

      Chưa một lần cùng cha gặp gỡ

      Giọt sương rụng làm xanh lá cỏ

      giọt sương mềm ướt cõi u miên


      Con chào đời giữa buổi truân chuyên

      Củ khoai mì không là cổ tích

      Bởi thượng đế không chừng có thật

      nên nhân gian chịu cảnh đọa đày


      Một năm rồi năm năm trôi qua

      Con kiệt sức không chờ ba nữa

      giơ hai tay rơi vào huyền sử

      Con đầu hàng chối bỏ cuộc chơi


      Giọt lệ nào còn sót trong tôi?

      Buổi lao sai mài thơ trên đá

      chân bé bỏng con tôi đạp ngã

      tảng đá thù đè nặng tâm can


      Nắm đất bụm ủ nấm mồ con

      Vung nhát kiếm chẻ đôi dòng lệ

      Thôi hết rồi bàn chân bé nhỏ

      Đã đi xa dẫm nát cả hồn


      Vẫn chưa về sau buổi chiến chinh

      Tôi biền biệt rừng xa núi thẳm

      Vợ của tôi miền quê khổ nạn

      Con của tôi đất lạnh thiên thu


      Đừng bao giờ hỏi tôi tại sao?

      Trong con tim chất đầy thống hận

      – Tôi: người lính tự do nhân bản

      bị loài người cưỡng đoạt từ tâm


      ……….

      (Trích một đoạn trong Ruột Đau Chín Khúc)

      Riêng về thơ tình, thì vô số kể. Không biết anh đã trải qua bao nhiêu cuộc tình trước khi rước cô hoa khôi Phú Phong – Bình Định về dinh, nhưng ở bất cứ đâu cũng rơi rớt những bài thơ tình của Quan Dương. Một năm, có thơ tình cho bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, có cả thơ tình cho mười hai tháng, và dường như mỗi tuần, mỗi ngày Quan Dương đều viết thơ (không phải thư) tình. Nhìn người tình thức, ngủ, đi, đứng, ăn ớt, ăn xoài, ăn phở, uống cà phê, đều có thơ. Người tình đang ở xa, ở gần, ngồi sát bên nhau, đi lễ nhà thờ hay đi chùa gì cũng có thơ. Bài nào cũng hay, cũng tình, và có khi rất hấp dẫn… Không biết trái tim anh lớn bao nhiêu mà anh chia tình nhiều như thế, chưa kể đến tình nhà, tình bạn bè, đồng đội và tình cho quê hương, đất nước. Và vì nhiều quá nên chỉ xin giới thiệu vài bài thơ tình của anh, không phải là tiêu biểu (bởi anh còn rất nhiều bài thơ tình hay hơn nữa):

      KỂ LẠI MỘT CHUYỆN TÌNH HỒI ÐÓ


      Ngày xưa có hai đưá bé sống ở ven sông

      Thường ra ngồi nhìn lục bình trôi trên mặt nước

      Con bé muốn thằng nhóc vớt cho bằng được…

      Những đám lục bình tim tím

      Ðể làm vòng hoa


      Thằng nhóc dại khờ kết vương miện cô dâu

      Đâu biết hoa sẽ tàn sau khi rời thân nước

      Con bé dỗi hờn

      Dậm chân muốn khóc

      Rồi vứt vòng hoa trả lại dòng sông


      Thời gian trôi.

      Hai đưá cùng lớn khôn

      Người con trai lên đường.


      Quê hương sa vào tay gìặc

      Cô gái mỗi chiều nhìn theo con nước

      Dõi mắt trông tìm vòng hoa tím

      Ngày xưa

      Cho dẫu cuộc đời chỉ là giấc nam kha

      Nhưng cũng đủ đã tím trôi từ đó


      Năm 2000. Khi lái xe băng qua xa lộ

      Gã đàn ông giật mình khi bắt gặp màu hoa xưa

      Gã tấp vào lề, lội xuống nước vớt được vòng hoa

      Ứa nước mắt nhìn về phương trời xa

      Lặng lẽ ….


      Người cảnh sát không cùng màu da hú còi ngừng lại

      Rất thản nhiên phạt gã một ticket màu vàng

      (cái tội cản trở lưu thông)

      2000


      NHÌN THU-BA ĂN PHỞ


      Chỉ là một trái ớt thôi

      Nhẹ nhàng em cắn khiến tôi lại thèm

      Hỏi sao kỳ lạ thế em…

      À thì ra tại ớt kèm môi tiên


      Chỉ là phở. Có chi ghiền

      Khi em khuấy đũa hồn liên xiên đì

      Ăn thì ăn. Liếc tôi chi

      Hai con mắt đó giết người không dao


      Tội tình chi mấy cọng rau

      Sao em nỡ ngắt lấy đầu bỏ đuôi

      Bận lòng cũng phải chịu thôi

      Đầu đuôi gì cũng thơm mùi tay em


      Không ăn tương ớt đi kèm

      Chắc là em sợ phải ghen không đành

      Sợ ghen sao nặn nhiều chanh

      Hay em quá ngọt nên dành chút chua


      Thôi em đừng thổi nữa mà

      Phở không đủ nóng như là tôi đây

      Quán đông chẳng lẽ cầm tay

      Nhưng tim đập nhịp một giây triệu lần


      Sáng nay bỗng thấy bâng khuâng

      Trở điên trốn một ngày làm đi chơi

      Rủ em ra quán phở ngồi

      Để cùng nhớ lại quãng đời hoa niên


      Điên nhiều khi cũng đâm ghiền

      Nhất là lúc nhật nguyệt phiền lụy nhau

      Trên cằm sót mấy cọng râu

      Mấy ngày biếng cạo níu nhau biểu tình


      Ngàn sợi lông tưởng lặng thinh

      Theo hùa đồng ý hâm tình cùng em


      CÔ GIÁO


      Cô giáo hai mươi tôi mười sáu …

      Cô bước vào đời tôi thì chưa

      Mỗi khi vào lớp trên bục giảng

      Tôi ngắm nhìn cô thật say sưa


      Với cô, tôi chỉ là tên nhóc

      Mũi chảy còn đang bú sữa bình

      Với tôi thế giới đang ngừng đập

      Em đã đến rồi có phải không


      Yêu ai hãy nắm tay người lại

      Nếu thả ra người sẽ bỏ đi

      Năm tôi mười tám vào quân đội

      Cũng vẫn chưa hề dám nắm tay


      Chôn mối u tình không dám nói

      Tôi mười tám tuổi em hăm hai

      Tôi trách mẹ ba em không đợi

      Chờ tôi sanh trước sanh em sau


      Cô giáo giống như tên ăn trộm

      Cạy cửa vào tim lấy hết đồ

      Tôi mang thân xác ra tiền tuyến

      Hồn tôi em lấy ở quê nhà


      Những đêm xuất kích cùng sương rớt

      Sương lạnh lòng tôi trống trải theo

      Cô giáo dạy tôi môn toán học

      Còn tôi học thuộc môn tình yêu


      Tình yêu tôi nén thành viên đạn

      Rồi bắn ra ngoài cõi hư vô

      Cô giáo không cùng chung lứa tuổi

      Tôi giống như người lỡ chuyến xe


      Tình yêu tôi giống trong cơn khát

      Uống không cạn được biển mênh mông

      Càng uống bóng hình em càng ngập

      Biển mặn lòng tôi khát nước thêm


      Cô giáo khác gì một chuyến bay

      Tôi mua tấm vé lộn tuyến rồi

      Chinh chiến chở tôi về hướng khác

      Chưa lần trả lại sau khi đi


      Giờ đây tôi đã không còn trẻ

      Bao nhiêu sóng gió ngập qua đầu

      Dâu bể đã bao lần thay đổi

      Không biết giờ này em ở đâu


      Cô giáo là mưa tôi là đất

      Không mưa đất khát, ngửa cổ chờ

      Em rơi, tôi mở lòng ra chứa

      Từng giọt cất vào ký ức xưa


      NGUYỆT QUỲNH


      Em đang thiêm thiếp giấc nồng…

      Trăng chui khe cửa đến nằm kề bên

      Tựa đầu em gối lên trăng

      Hồn nhiên phơi đáy nguyệt rằm

      tinh khôi


      Mắc chi tôi

      thẩn thờ tôi

      Ghen trăng ngậm chặt môi đòi trao hôn

      Trèo lên cõi mộng treo hồn

      Tôi thả xuống đất cái buồn

      nhức xương


      Lót thơ làm chiếu thay giường

      Mượn heo may gió ngoài đường thả vô

      Hỏi em biết đến bao giờ

      Cùng chia tôi hạt trăng mơ

      nhấm cùng


      NI CÔ CHƯỞNG


      Hôm qua chẳng biết bệnh gì…

      Lên chùa cầu Phật độ trì. Phật ơi!!

      Ni cô quì cạnh Phật ngồi

      Lưng ong óng tỏa một trời quan âm


      Cây nhang đang thả hương trầm

      Bỗng nhiên lã ngọn vẽ vòng ngu ngơ


      Ai mang gió lộng vô chùa

      Thổi ta lộn ngược trở ra cõi trần

      Câu kinh chưa kịp khấn thầm

      Trúng ni cô chưởng trở thành bệnh thêm

      Đã yêu người ta, yêu cả cô giáo, cả ni cô, vậy mà nhà thơ còn “hăm dọa” nữa. Bài thơ nói lên tính bỡn cợt vui vẻ rất dễ thương của anh, mà bạn bè ai cũng quý:

      HĂM DỌA


      Em có chắc khi trở thành già khú…

      Thì trái tim cũng lười gõ hay không

      Đừng chơi dại theo anh vào giấc ngủ

      Coi chừng anh trở chứng mở cửa lòng


      Em đừng tưởng trái tim lười gõ nhịp

      là trái tình cũng héo úa nghe em

      Thử đem mộng tưới chiêm bao sẽ biết

      Ngu. Dù ngu hạt cũng sẽ nẩy mầm


      Con mọt gặm lì đòn trong gỗ kín

      quyết ăn thua. Rồi cũng sẽ một ngày

      Lòng gỗ đó mềm em như bọt cám

      rất rõ ràng. Con mọt là anh đây


      Em có chắc, em chẳng thèm rung động

      dẫu anh đây dày mặt đến cỡ nào

      Vậy giả dụ anh biến thành vạt nắng

      tan vào hồn em. Em sẽ tính sao


      Anh nói trước. Gừng già cay lắm đó

      Em lơn ngơn bưng dĩa muối lại gần

      Gừng chấm muối sẽ trở thành duyên nợ

      Cái câu này phải thuộc để phòng thân


      Cơn mưa nào rớt xuống đời chẳng thấm

      Đất cằn nào gặp nước mà lại tha

      Vì lẽ đó một điều em phải hiểu

      Mặt anh dày lì lợm hơn người ta

      Nhưng trong đại dương thơ mênh mông ấy, tôi cảm động nhất vẫn là những bài thơ về lính. Có lẽ bởi chúng tôi đều là lính chiến, nên tình đồng đội, hình ảnh của chiến trường vẫn là những gì rất gần gũi thân quen. Và khi cuộc chiến kết thúc, chúng tôi trở thành những người lính bất hạnh và oan khiên nhất, cái tình huynh đệ trên chiến trường thưở nào trở thành những kỷ niệm bi hùng như những vết thương còn đau đớn mãi trong lòng. Ta hãy nghe người lính Quan Dương nhớ lại một cuộc hành quân ngày trước:

      MỘT CUỘC HÀNH QUÂN THỜI CHIẾN TRẬN


      Đại đội dàn quân trên tuyến xuất phát

      Nắng cao nguyên mồ hôi đổ ròng ròng

      Những người lính mặt còn non màu sữa

      Im lặng nhìn nhau lặng lẽ điểm danh

      Giờ xuất trận điểm tên quen thành thói

      không biết đứa nào còn sau chuyến hành quân


      Nợ chiến tranh đâu từ thời xa lắc

      Đem trút lên lưng những người không vay

      Kẻ gây hấn làm cai thầu dấu mặt

      Thế hệ ta sanh nhằm con bà đọi

      Trả món nợ bằng canh bài sinh tử

      Giống gậm phải gân gà thật khó nhai


      Rừng tít tắp chập chùng cao ngút mắt

      Ta đã điên gặp phải kẻ thù khùng

      Theo đòi nợ dai như giẻ rách

      Rình rập ta sẩy là nhai xương

      Làm như thịt ta thơm mùi nhang khói

      Làm như máu ta là thuốc trường sinh


      Ta gã lính vừa mới rời vú mẹ

      May mắn sao chưa có con bồ nào

      Nên sống chết bán cái cho may rủi

      Không bận tâm chuyện nay ốm mai đau

      Bất quá gia tài trên răng dưới dái

      Lỡ mai kia đứt chến kể như xù


      Chỉ thấy tội mấy thằng vừa lấy vợ

      Rủi đen thui phủi cẳng lên bàn thờ

      Con vợ trẻ biết có còn thủ tiết

      Hay chỉ vài ngày thằng khác nhào vô

      Cũng thấy tội mấy cô con gái

      Ngu đần chi ưng mấy thằng lính cùi


      Biền biệt suốt đầu non cuối bãi

      Ngày bên nhau đếm trên đầu ngón tay

      Và thấy tội má ơi nhiều ghê lắm

      Đẻ trúng thằng con không biết hiếu là gì

      Mũi vừa hỉ sạch lên rừng chơi với khỉ

      Bỏ lại mẹ già con mắt nhớ đỏ hoe


      Thằng con lớn theo dòng tin chiến sự

      Lưng mẹ thấp theo năm tháng còng đè

      Bầy vắt đói ngửi hơi người thức dậy

      Tấn công ta không chừa chỗ nào

      Mấy ngón cẳng trong chiếc giày ngọ nguậy

      Nhèm nhẹp trơn vì máu trộn mồ hôi


      Ta với vắt không ơn đền oán trả

      Nỡ lòng chi chơi ráo máng cạn tàu

      Đoàn quân lách nắng chui qua kẽ lá

      Những chiếc ba lô lốm đốm màu da trăn

      giống con rắn bò men theo khe suối

      Tính đến phút này ta hãy còn sống nhăn


      Kệ mẹ nó lát nữa ra sao mặc kệ

      chiếm xong mục tiêu này sẽ tìm chỗ gãi chân

      Xa quê hương, sống trên xứ người, chỉ nghe tiếng dế, nhà thơ đã hồi tưởng về một thời chiến trận ngày xưa, với những đồng đội cùng sống chết trong gian khổ và mạng người chỉ mong manh như làn khói thuốc. Và bây giờ, đang ở một nơi xa cách muôn trùng từ những vùng chiến địa ngày nào, nhà thơ đã tâm sự cùng với linh hồn của đồng đội cũ với bao nỗi niềm trăn trở, đắng cay. Bài “Tiếng Dế” này đã gây cho tôi thật nhiều xúc động:

      Gió xô chiều ngã xuống hướng Tây, vài chiếc lá khô đang ấp vòm cỏ dạị. Sợ cỏ lạnh nên lá vàng trước tuổi. Mùa thu đang khoác chiếc áo màu chàm, phủ trùm lên giọt nắng ấm chưa tan. Chiều đang bước dần vào bóng tối. Con dế run thều thào yếu đuối. Lâu lắm rồi mới nghe lại tiếng dế than. Đây là xứ Mỹ chứ không phải Việt Nam. Sao lại có tiếng dế buồn thảm thiết


      Tiếng dế dìu hồn tôi về thuở trước. Thuở nằm rừng với thằng bạn lính tuổi còn thư sinh. Trung đội hai thằng bố trí hình mũi tên. Bờ ruộng, sình lầy ngập lên tới bụng. Phía sau lưng sương đêm lầm lũi rụng, trước mặt là tiếng dế như sẫm chiều nay. Trong đầu mỗi thằng dệt sẵn vài câu thơ. Để dành lại nếu ngày mai còn sống, sẽ sớt chia cho nhau từng ly thơ để uống. Để gọi là mừng sau một đêm qua truông.


      Tuổi trẻ cuả bọn tôi giữa thời buổi chiến tranh. Tàn thuốc hút chung nặng đầy tình nghĩa. Ngụm rượu đế sau lần tiếp tế, nồng say hơn rượu x.o nhiều. Thời khổ nạn dám chết cho nhau, những thằng bạn khác gì Lương Sơn Bạc


      Chiều nay xứ người nghe con dế khóc. Thấy đất cựa mình theo nhịp bước quân đi. Chinh chiến lụi tàn trên đất nước từ lâu. Con dế khóc? Hà cớ gì cháy lại? Hay là lửa giấu trong lòng âm ỉ? Chỉ đợi hơi xăng là bốc khói ra ngoài?


      Thằng bạn tôi ở lại chiến trường xưa, thân xác giờ này cũng đã tan theo tro bụi. Lâu lắm rồi tôi giả đò quên không còn nhớ. Có phải bạn trách tôi nên theo tiếng dế đến nơi này? Nơi tôi sống hiện giờ toàn xa lộ freeway. Hỏi bạn? Tôi tìm đâu ra vùng sình lầy ngập nước? Để hai đứa ngâm mình hút chung điếu thuốc, để bạn dạy cho tôi hai tiếng đồng bào. Để bạn giải thích cho tôi hiểu rõ tại sao, tuổi trẻ bỏ quên mà không hề hối hận.


      Thu khoác trên vai chiếc áo lạnh. Tôi mở cửa vào nhà có máy sưởi vặn lên. Nhìn xuyên qua khung cửa kính ngoài hiên. Con dế đang núp nơi nào dưới đám cỏ? Chú dế bé con ơi, thôi đừng khóc nữa. Tôi đã ươn hèn từ lúc bỏ nước ra đi.

      Nếu thơ Quan Dương là một đại dương mênh mông, thì bài viết này không bằng một giọt nước, chẳng nói lên được điều gì cho xứng đáng với tài làm thơ và tâm hồn của anh. Được viết ra chỉ trong tinh thần “tầm trả nghĩa dâu”, ghi lại chút thanh khí, niềm đồng cảm trong thơ giữa người mê thơ và tác giả. Quan trọng hơn là mong được trả phần nào món nợ với Quan Dương. Bởi chính văn thơ của anh, tình cảm của anh và sau này là sự khuyến khích, thúc đẩy của anh, mà người viết đã tập tễnh cầm bút cho đến hôm nay.


      Mùa hè 2017


      Phạm Tín An Ninh

      Nguồn: phamtinanninh.com




      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Quan Dương – Một Đại Dương Thơ Mênh Mông Phạm Tín An Ninh Nhận định

      - Nhạc sĩ Dzũng Chinh- tác giả “Những Đồi Hoa Sim” đã chết trên đồi hoa sim Phạm Tín An Ninh Hồi ức

      - Tâm Thanh – thiên nga không còn giữa cõi người Phạm Tín An Ninh Bút ký

      - Cái Chết Oan Khuất Của Nhạc Sĩ Minh Kỳ Phạm Tín An Ninh Hồi ức

      - Thằng Bé Đánh Giày Người Nghĩa Lộ Phạm Tín An Ninh Truyện ngắn

      - Tiểu Thơ Phạm Tín An Ninh Truyện ngắn

    3. Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Trần Yên Hòa hơn 55 năm làm thơ (Thanh Phong)

      - Duềnh Quyên (Trịnh Y Thư)

      - Văn Thơ Giáng Sinh (Nguyễn Mạnh Trinh)

      - Giáo Sư Đặng Ngọc Thiềm (Nguyễn Duy Chính)

      - Thông cáo: Giải Văn Học Phan Thanh Giản

      (Phan Thanh Tâm)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Tạp Văn (Nguyễn Kim Phượng)

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại (Viên Linh)

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975: Nhận Định, Biên Khảo, Thư Tịch (Nguyễn Vy Khanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Vĩnh Phúc,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Tiêu,  Cao Đông Khánh,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Chu Tử,  Diễm Phượng,  Diên Nghị,  Doãn Dân,  Du Tử Lê,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)