1. Head_

    Ngọc Bích

    (..1924 - 15.10.2001)
    Ad-25-TSu-2301360532 Ad-25-TSu-2301360532

     

     

    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Cội Nguồn Việt Tộc - Lời Mở Đầu (Phạm Trần Anh) Ad-25-TSu-2301360532 Ad-25-TSu-2301360532

      14-10-2026 | VĂN HỌC

      Cội Nguồn Việt Tộc - Lời Mở Đầu (Mục Lục)

        PHẠM TRẦN ANH
      Share File.php Share File
          

       


      Tập sách này, tác giả trân trọng dành cho thế hệ con cháu mai sau hiểu rõ hơn về ngọn nguồn dân tộc, để có quyền hãnh diện tự hào về giòng giống Tiên Rồng, từ đó ý thức được bổn phận của một con dân đất Việt, hoàn thành cuộc đại cách mạng Việt Nam phục hưng dân tộc, đưa dân tộc Việt Nam đến đỉnh vinh quang, sánh vai cùng các cường quốc văn minh trên thế giới.


      Tổ quốc Việt nam trường tồn

      Đất nước Việt Nam phú cường

      Nhân dân Việt Nam sung túc, an lạc...


      LỜI MỞ ĐẦU


      Là người Việt Nam, chúng ta tự hào là con Rồng cháu Tiên. Thế nhưng, mỗi khi tìm về nguồn cội dân tộc thì nỗi day dứt, niềm băn khoăn làm nhức nhối tâm can biết bao con dân đất Việt. Ngay từ khi còn cắp sách đến trường, bài học thuộc lòng thuở đầu đời “ Công Cha như núi Thái Sơn, Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra.” Biết bao câu hỏi được đặt ra trong đầu óc ngây thơ, trong trắng như “núi Thái Sơn ở đâu” thì được Thầy trả lời là ở bên Tầu. Tại sao so sánh công cha nghĩa mẹ lại so với núi Thái Sơn ở bên Tầu? Lớn lên học văn chương truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du thì lại được giảng thêm là Nguyễn Du phỏng theo cốt truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu. Nhân vật Từ Hải quê ở Việt Đông cũng ở bên Tàu...


      Thế rồi ai trong chúng ta mà chẳng một lần ấm ức xen lẫn hoài nghi khi nghe nói huyền thoại Rồng Tiên, truyền thuyết khởi nguyên bị một số trí thức “Tây học” chê là hoang đường, huyền hoặc, hoặc chúng ta lại càng hổ thẹn hụt hẫng khi đọc quyển sử “Việt Nam thời khai sinh” của tiến sĩ sử học Nguyễn Phương khẳng định người Việt chúng ta gốc là người Tàu. Nguyễn Phương viết:


      "Sự giống nhau giữa ta và Tàu là sự dời chuyển cả người lẫn phong tục, tập quán, tôn giáo... Người Trung Hoa đã đợt này rồi đợt khác, sang thực dân tại đây, và cuối cùng, khi mọi sự đã tỏ ra thuận lợi, đã đứng dậy lập ra một nước riêng: nước Việt Nam!”


      Một ông tiến sĩ sử học dạy sinh viên học phương pháp sử lại suy luận một cách thiếu phương pháp đến độ ngớ ngẩn là “xét về phương diện nhân chủng, tức phương diện căn bản thì không sao nói được là hai dân tộc không giống nhau vì đại đa số người Việt Nam đều thuộc giống Mông Cổ, da thì vàng, tóc thì thẳng và có hình sọ giống hình sọ người Trung Hoa nên cả Lý Công Uẩn, Đinh Bộ Lĩnh... đều là người Tàu!”


      Tự thân ông linh mục Nguyễn Phương đã là con người mất gốc, có lẽ do hấp thụ nền văn minh Hy La từ tấm bé nên ông ta đánh mất gốc rễ Việt Nam trong con người ông ta rồi. Với học vị tiến sĩ, ông ta cũng chẳng hiểu gì về khoa chủng tộc học, khoa khảo tiền sử... nên mới nhận định một cách hồ đồ, phản khoa học như thế, trong khi ông ta lại sẵn sàng tin những chuyện còn ly kỳ huyền hoặc hơn ở xứ khác, nhưng ở trong nước thì ông ta lại cho là hoang đường, huyền hoặc không thể tin được.


      Một số sử gia thời quân chủ phong kiến thì nhất nhất chỉ tin vào vào chính sử Trung Quốc, còn các nguồn sử hiện khác thì chê là ngoại thư không thể tin được. Thậm chí các ông nho sĩ ta thời trước còn tôn thờ Khổng Tử là vạn tuế sư biểu, Sĩ Nhiếp là sĩ vương, trong khi các ông quên hẳn một điều là dù muốn dù không, Sĩ Nhiếp vẫn là một tên thái thú sang cai trị dân ta. Chính Sĩ Nhiếp chứ không ai khác đã đem chữ Hán để nô dịch đồng hóa dân tộc ta. Dân ta không chịu học chữ Hán vẫn dùng ngôn ngữ Việt cổ nên Sĩ Nhiếp cấm dân ta viết chữ tượng thanh của Việt tộc (*)


      (*) Theo Terrien de la couperie trong tác phẩm “The languages of Chinebefore Chinese” (Những ngôn ngữ Trung Hoa trước Hán ngữ) xuất bản ở Đài Bắc 1970)


      Ngày nay, một số sử gia tuy không cho rằng người Việt ta là gốc Tàu nhưng chịu ảnh hưởng của Tàu trên nhiều phương diện nên cũng tán đồng luận điểm áp đặt của các nhà nhân chủng Mông Cổ ngành Phương Nam. Thậm chí do sử quan bị đóng khung bởi ý thức thiên kiến nên không những đã không dám nói lên sự thật lịch sử, mà lại còn nhất tề phụ họa với luận điểm cho rằng nước Văn Lang ta chỉ mới hình thành hơn 500 năm TDL( trước dương lịch) cho phù hợp với sử quan bành trướng Đại Hán anh em. Họ phủ nhận cương giới của nhà nước Xích Quỷ sơ khai của Việt tộc, chống lại sử quan dân tộc mà họ gọi là khuynh hướng dân tộc cực đoan phản động.


      Chính vì những ấm ức hổ thẹn đó, chúng tôi mới đủ can đảm viết quyển sách nhỏ này. Bản thân người viết không có tham vọng viết sử, mà chỉ muốn nói lên ý nghĩ của người Việt Nam yêu nước xuyên suốt dòng vận động lịch sử của dân tộc. Phần lớn tác phẩm được hình thành trong hơn 20 năm lao lý, ngày ngày ngồi nhìn 4 bức tường rồi đêm đêm lại trằn trọc thao thức không ngủ, nhìn lên trần nhà chỉ thấy một dấu hỏi ăn sâu vào tâm thức, chập chờn trong giấc ngủ không yên.


      Quyển sách này ra đời trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, điều kiện sức khỏe, tài chánh và thời gian không cho phép được lãnh hội những cao kiến của các bậc thức giả, cũng như được tham khảo nhiều nguồn sách sử nên chắc chắn tác phẩm sẽ còn nhiều hạn chế và thiếu sót. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn mạnh dạn đặt vấn đề, đưa ra những ức thuyết để có cái nhìn tổng quát xuyên suốt toàn bộ quá trình lịch sử dân tộc, hầu mong nhận được những cao kiến đồng tình đóng góp, hoặc phê bình phản bác của các bậc thức giả, những người Việt Nam yêu nước chân chính để vấn đề nguồn cội dân tộc ngày càng sáng tỏ.


      Được như vậy, người viết sẽ rất hân hạnh vì đã góp được phần nhỏ nhoi của mình trong công cuộc tìm về nguồn cội dân tộc, chu toàn bổn phận của một con dân đất Việt. Đồng thời người viết cũng xin chân thành cảm ơn bằng hữu và những người có lòng ưu tư về nguồn gốc dân tộc đã khích lệ cá nhân tôi hoàn thành quyển sách này. Chúng tôi cũng xin trân trọng tác giả những nguồn sử liệu, cũng xin được phép tham khảo ngõ hầu làm sáng tỏ thêm nguồn cội của dân tộc chúng ta.


      Trên quan điểm dân tộc, chúng tôi chỉ dùng chữ “Nhà” thân thương cho các triều đại của nước ta, còn Hán tộc, chúng tôi dùng chữ triều ( đại) như triều Thương, triều Chu, triều Hán, và nhà Triệu, nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần... Thứ nữa, lấy năm thứ nhất Dương lịch làm mốc, chúng tôi dùng từ trước Dương lịch ( TDL) cho thật chính xác.


      Sau cùng, chúng tôi quan niệm rằng yêu nước tất phải trân trọng tất cả những thăng trầm, hưng phế của giòng vận động lịch sử mà biết bao nhiêu thế hệ đã vun trồng, kể cả bằng máu và nước mắt để viết lên những trang sử hào hùng hoành tráng. Đồng thời phải học biết về lịch sử để hiểu rõ hơn về nguồn cội dân tộc, hiểu rõ hơn giá trị cao đẹp và ý nghĩa tuyệt vời của huyền thoại Rồng Tiên. Tri ân tiền nhân chưa đủ, mà chúng ta phải học tập, noi gương các danh nhân anh hùng khai sáng văn hóa, các anh hùng dân tộc của thời xa xưa thấm đậm trong tâm thức Việt để rồi dân tộc sẽ sản sinh ra những anh hùng của một ngày mai.


      Chính vì vậy, có thể nói lịch sử là ngọn nguồn của lòng yêu nước. Chính lịch sử quá khứ anh hùng của một dân tộc sẽ là tương lai xán lạn huy hoàng của dân tộc đó. Nói theo sử gia thời danh Arnold Toynbee thì “nếu thiếu những sự thách thức, tức thiếu yêu cầu bức bách đòi hỏi phải biết vận dụng được một cách vượt bực khả năng xoay chuyển tình thế thì không có điều kiện để một cộng đồng con người thể hiện được sức mạnh và sự sáng tạo của mình.”


      Chính sự đáp ứng thích hợp trước những thách thức, những sự vận dụng vượt bực khả năng xoay chuyển tình thế đã đưa tới những thành tựu văn hóa lớn tạo nên bản lĩnh của các dân tộc, và có thể nói là lịch sử hình thành một nền văn minh lớn không bao giờ diễn ra trên một con đường bằng phẳng với những bước đi bình thản.


      Trên thế giới, có lẽ không một dân tộc nào chịu đựng thử thách gian nan khốn khó hơn dân tộc Việt. Lịch sử cũng đã chứng minh dân tộc ta đáp ứng được những yêu cầu bức bách sự thách thức của từng thời đại để Việt Nam là một trong 35 nền văn minh của nhân loại còn tồn tại đến ngày nay. Chúng ta có quyền tự hào và tin tưởng hãnh tiến hướng về tương lai trước ngưỡng cửa của thiên niên kỷ thứ III.


      Tuy nhiên chúng ta không thể đứng yên mà chờ trông vào cái gọi là “định mrệnh lịch sử”, mà nên nhớ rằng lịch sử là cuộc trưng cầu dân ý mỗi ngày của một dân tộc, thế nên chính chúng ta, mỗi ngày đang góp phần lịch sử vào tương lai của dân tộc chúng ta.


      Trong ý thức đó, chúng tôi xin mời quý vị, chúng ta cùng tìm về cội nguồn Việt tộc, từ truyền thuyết đến hiện thực lịch sử Việt Nam.


      Mùa Giỗ Tổ 4878.




      *

      MỤC LỤC "CỘI NGUỒN VIỆT TỘC"


      Trang 02 - Giới thiệu dẫn nhập:

      1. Thư gửi Phạm Trần Anh: Kẻ sĩ chưa một lần khuất nhục (Trần Thúc Vũ, tr. 02)

      2. Phạm Trần Anh và tác phẩm "Cội Nguồn Việt Tộc" (Trần Công Hàm, tr. 07)

      3. Phạm Trần Anh: Một trái tim bát ngát theo dòng Việt tộc (Hải TRiều, tr. 10)

      4. Email của một bạn tù từ Pháp (tr.12)

      5. Nguồn Gốc Việt Tộc từ truyền thuyết đến hiện thực lịch sử (tr. 13)

      19 - Cội Nguồn Việt Tộc - Lời mở đầu (Phạm Trần Anh)

      26 - Dẫn luận

      59 - Chương một: Huyền thoại Rồng Tiên

      87 - Chương hai: Thời đại Hùng Vương

      105 - Chương ba: Quốc gia Văn Lang

      127 - Chương bốn: Hiện thực lịch sử của quốc gia Văn Lang

      185 - Chương năm: Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng

      197 - Chương sáu: Nguồn gốc tiếng Việt cổ

      238 - Chương bẩy: Nguồn gốc Việt tộc

      261 - Chương tám: Nguồn gốc dân tộc trong thư tịch cổ

      284 - Chương chín: Chủng tính Malaynésien của Việt tộc

      328 - Chương mười: Từ Malaynesien của Bách Việt

      333 - Chương mười một: Đồng bào thiểu số của Việt tộc

      360 - Chương mười hai: Nguồn gốc Bách Việt của thổ dân châu Mỹ Úc

      376 - Rồng Tiên truyền thuyết sử thi.

      Phạm Trần Anh

      Nguồn: Cội Nguồn Việt Tộc
      VIỆT NAM 2004

      Ad-22-A_Newest-Feb25-2022 Ad-22-A_Newest-Feb25-2022


      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Cội Nguồn Việt Tộc - Lời Mở Đầu Phạm Trần Anh Biên khảo

      - Nguồn Gốc Việt Tộc Từ truyền thuyết đến hiện thực lịch sử Phạm Trần Anh Biên khảo

      - Ngày Tết Trong Tâm Thức Việt Phạm Trần Anh Biên khảo

    3. Bài viết về Giới Thiệu Sách Ad-31 Ad-31 = QC_250-250 (Học Xá)
      Bài Viết về Văn Học (Học Xá)

       

      Bài viết về Văn Học

        Cùng Mục (Link)

      • Cội Nguồn Việt Tộc - Lời Mở Đầu (Phạm Trần Anh)

      • Giới thiệu "Những Kiếp Sống Mòn" của Trịnh Y Thư (Văn Học Press)

      • Nguồn Gốc Việt Tộc Từ truyền thuyết đến hiện thực lịch sử (Phạm Trần Anh)

      • Phạm Trần Anh - Một trái tim bát ngát theo dòng Việt tộc (Hải Triều)

      • Phạm Trần Anh và tác phẩm “Cội Nguồn Việt Tộc” (Trần Công Hàm)


       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

       

      Văn Học Miền Nam (Học Xá) Văn Học (Học Xá)

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Danh Mục Tác Giả: Cùng Chỉ Số (Link-2) Aí Điểu,  An Khê,  Andrew Lâm,  Andrew X. Phạm,  Au Thị Phục An,  Bà Bút Trà,  Bà Tùng Long,  Bắc Phong,  Bàng Bá Lân,  Bảo Vân,  Bích Huyền,  Bích Khê,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Bích Hà,  

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)