|
|
|
|
|
VĂN HỌC |
GIAI THOẠI | TIỂU LUÂN | THƠ | TRUYỆN | THỜI LUẬN | NHÂN VẬT | ÂM NHẠC | HỘI HỌA | KHOA HỌC | GIẢI TRÍ | TIỂU SỬ |
Thơ Văn Trần Y. Hoa & Bằng hữu
Thơ Văn Trần Yên Hoà & Bằng hữu
Thỉnh thoảng vào Fb của bạn bè, ít khi chú ý đến các trang chưa tương tác, chỉ lướt nhanh qua vài Avatar với nhiều khuôn mặt khác nhau, không lưu vào bộ nhớ. Cho đến một hôm, nửa khuya mở youtube bấm đại một bản nhạc dỗ giấc ngủ, bổng văng vẳng giọng ca Chế Linh thê thiết, nức nở chập chờn giai điệu ưu uất: Hận Đồ Bàn của nhạc sĩ Xuân Tiên. Trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, âm thanh não nuột kia lóe sáng góc nhỏ xíu trong đầu, như báo hiệu có một mối liên quan với hình ảnh một Avatar của ai đó tôi đã từng lướt qua với đôi mắt buồn thăm thẳm, với nụ cười thổn thức quặn thắt, với khuôn mặt tươi rói nỗi niềm trong tầng khuất khổ đau, hiện hữu lên bóng dáng những người phụ nữ Chăm bước chậm trên nền cát nóng, đầu đội những tamia dwa buk: kiên nhẫn, chịu đựng pha trộn niềm vui và nỗi buồn, cuốn theo nhiều thế kỷ mông lung nhang khói.
Tôi bật dậy, mở máy đọc và đọc; đọc một loạt các bài thơ, truyện ngắn trên Fb cá nhân mang tên Ái Điểu, một cái tên hoàn toàn xa lạ trong cõi văn chương. Xa lạ, bởi cô chưa từng xuất hiện trên các trang mạng văn học lẫn báo giấy! Cô chỉ treo thơ, truyện trên Fb của mình như để giải bày những cảm xúc riêng tư, những nỗi niềm chôn kín ; nhưng lượng người đọc, tương tác không hề nhỏ: Ít thì 50, 70 comments; nhiều có trên vài ba trăm. Một lượng độc giả nhiều như vậy ắt phải có điều gì đó hấp dẫn, lôi cuốn người đọc trong thời buổi văn chương bị đẩy xuống hàng thấp nhất, như một loại giải trí lỗi thời!
Mới chạm sơ sịa vào thế giới chữ nghĩa của Ái Điểu là bắt đầu chạm vào những điều bất ngờ đến lạ lùng mà xưa nay, các nhà văn thành danh không hề sử dụng để xây dựng tác phẩm văn học, mặc dù nó không mới.
Sự lạ trong các truyện của Ái Điểu, trước hết cách sử dụng câu chữ rất tự do, không trau chuốt như những con thú hoang trong rừng sâu, những cánh chim lao vút lên tầng không, vô định; thứ đến là cách cô xây dựng các nhân vật bị xã hội xổ đẩy ra ngoài lề, không phải là những con người tử tế theo cách nhìn đạo đức. Cô soi rọi bản thân và hành vi của họ bằng giọng văn lạnh lùng, khô khốc; không hề kèm theo các mỹ từ, không hề dùng ngôn ngữ miệt thị, lên án; không đòi hỏi trả lại sự công bằng, bất công hay van vỉ; do vậy một số truyện đôi khi trở nên tàn nhẫn, cay đắng!
Ta hãy thử đọc vài đoạn ngắn để coi xem loại ngôn ngữ, không phải là ngôn ngữ văn chương với những tính từ đi kèm theo con người, sự vật, hình ảnh… mà là loại ngôn ngữ chúng ta thường nghe người dân quê kể chuyện với nhau lúc nhàn rỗi, loại ngôn ngữ bình dân, trơ trụi, cảm xúc thường bị đè lại phía sau “Xe chở một bà mụ đỡ đẻ. Bà giống y như mụ phù thuỷ trong truyện cổ tích. Bà nhai trầu. Nước trầu chảy leo ra khoé miệng. Bà đưa hai ngón tay quệt. Tay và môi bà dính màu đỏ máu bầm … Người chồng, cụt một chân, leo lên mái nhà rút tranh ném vung lên trời. Ông chắp tay ngước mặt khẩn cầu” (Bốn đoạn ngắn về một người đàn bà).
Đó là cuộc đời người phụ nữ bắt đầu xuất hiện trên cõi đời này, từ cái sự người đàn ông cụt chân trèo lên mái nhà rút tranh ném lên trời (một phong tục mang tính tín ngưỡng, trừ tà, báo sinh ở miền quê nam Trung bộ), để sau đó là sự xuất hiện của “Đứa con gái sơ sinh bú sữa mẹ không đủ. Nó uống nước gạo lúa mới pha muối. Rồi ăn củ khoai, con cá sông, con dông cát, rau tạp tàng” cho tới lúc làm mẹ, để nếm trải nhiều cay đắng cuộc đời! Qua mỗi lời kể ngắn gọn là một lát dao xoáy vào da thịt khiến người đọc hoảng hốt, y như rằng người đọc đang chứng kiến cảnh có thật trước mặt.
Càng rõ ràng và thật hơn nữa khi Ái Điểu vẽ lại cách nói chuyện của các cô gái bán dâm, trong một quán cà phê mà chị em thường tụ tập đón khách.
“Con Yến -18 tuổi, nhỏ nhất hội, quậy cũng nhất -giật lấy điện thoại của tôi la to: “Ê! Tụi mày coi chị Điểu có cái hình dị hợm nè!” Con Liên nhìn rồi trề môi: “Vẽ hổng giống người mà bà Điểu thích là sao?” Bà Bé Tư- cỡ 45 tuổi, già nhất - xem, nói: “Ăn thua là hình có ý nghĩa …” Con Liễu đớp lời: “ Ý gì, má nói. Đám này ngu không hiểu?” Bà Bé Tư trầm ngâm: “tao nghĩ là thằng vẽ tranh muốn nói mấy con đĩ như tụi mình bán cái... (tục) mà vẫn mắc cỡ, che mặt. Con Điểu, mày có chữ nghĩa giảng đi! Tôi nói: “Chị hiểu rồi đó, là bán nhục thể mà vẫn giữ nhân cách...” Con bé Diệu nheo mắt: “Xí! Cho em xin, đĩ mà nhân cách cái con mẹ gì. Đặt chuyện xà lơ, ổng ghi cái nhan đề là “Cởi Ra Cho Mát”, hổng thấy sao?” Có tiếng chuông điện thoại. Con Trang buồn buồn: “Chị cất giùm ly cà phê em uống nửa chừng. Mẹ, hứng gì mà hứng sớm!” Tôi cẩn thận để ly cà phê của nó vào tủ lạnh. Hy vọng, đây là chuyến đi khách cuối cùng của đời nó. Mai, nó về quê, xa lắm, tận xẻo Đước, để cưới chồng. Tôi nhìn theo bé Trang chạy xe băng qua con lộ. Nó đi chiếc xe trắng, mặc bộ đồ trắng chạy chầm chậm trong ánh nắng rực lửa của trưa hè... như một thiên sứ…”. (17 đoản khúc của quán càfe đen).
Ở một xó xỉnh nào đó trên xứ sở đang quặt quẹo, mất hết sinh khí này, xuất hiện không ít những con bé Mười Hai bán trinh lấy 5 triệu đồng, bé Diệu phải đi làm đĩ để có tiền nuôi em vừa đậu vào trường Y hay như con Linh được thằng cò đĩ gọi tới khách sạn đi khách du lịch, mà trên lưng khách có xăm mấy chữ BẢY LÓC, ANH YÊU EM chính là cha đẻ ra Linh, như một trớ trêu của định mệnh oan trái: “Ông khách - ba tui- đã ngồi dậy. Tui mất hồn vía, quỳ xuống đất lạy như tế sao: ba tha tội cho con … tha tội cho con, đừng méc với má. Tui nhắm mắt lạy như cái máy, lạy lạy … lạy ba tui hay là lạy ông trời, lạy cuộc đời này? Rồi tui tông cửa chạy ra khỏi phòng. Trần truồng mà chạy, chạy không hồn, cứ chạy vào bóng tối, y như muốn tan biến trong màu đen của đêm” (17 đoạn ngắn trong quán càfe đen).
Ái Điểu cứ nhẩn nha phơi bày những cảnh đời tăm tối của các cô gái bán dâm một cách thản nhiên, trần trụi, trơ khấc in hệt những lát dao cắt vào tim!
Nhưng cũng có lúc cô thong thả dẫn dắt người đọc, cùng bước vào thế giới mông lung siêu thực, một nửa là đời sống có thật và nửa kia nhuốm màu huyền bí. Đó là dấu chân của ông Dư nào đó: “Đôi khi có đi chân trần nhưng người ta không bao giờ nhìn xuống hoặc quay đầu nhìn lại coi mình có để lại dấu chân không? Mà dấu chân khô khan, chai sần chỉ cần một cơn gió đã thổi bay. Dấu chân đẫm ướt mồ hôi, máu bom đạn, cát bụi phong trần cũng lau khô mất dấu tích thôi mà”. Cô mô tả nhân vật Dư là một con người bình thường như hàng trăm ngàn người bình thường khác đang sống đang lao động, cần mẫn, chăm chỉ từ việc ăn ngủ tiếp xúc, yêu đương đến công việc ở sở làm cho đến khi nghỉ hưu rồi nhắm mắt xuôi tay. Ông không cao không thấp, không đẹp không xấu, không sung sướng mà cũng chẳng đau khổ trong cuộc sống. Nhưng cái sự không bình thường là một hôm “Ông Dư nhìn xuống chân mình. Ông giật mình rồi quay lại, nhìn đoạn đường mình đã đi qua. Lạ thật, không có dấu chân ông trên cát... Ông bước thêm vài bước nữa. Quan sát kỹ, vẫn không có dấu chân ông”.
Câu văn, cách mô tả nhân vật Dư tưởng chừng như không có gì đáng lưu tâm, theo lời kể; nhưng đằng sau nó lại không bình thường chút nào! Cô trộn lẫn giữa thực và hư (qua hình ảnh cánh diều của đứa bé), giữa linh hồn và ký ức về tuổi thơ; cánh diều như đường dẫn về thế giới khác. Rõ ràng người chết làm sao để lại dấu chân, nhưng với người đang sống, người ta tìm cách ca ngợi hay xỉa xói dấu chân người là hình ảnh ẩn dụ cuộc đời riêng tư, không thiếu trong đời sống xã hội từ xưa đến nay… Và, cuối truyện cô hạ một câu lạnh tận xương tủy: “Các bạn đọc quý mến của tôi có khi nào xem thử mình có dấu chân hay không?” (Người không có dấu chân).
Một truyện khác Người và người và những người, dường như Ái Điểu viết để mở rộng hơn phận người như ông Dư trong xã hội hiện tại với giọng điệu mỉa mai châm biếm khi mở đầu tên tiệm hớt tóc của Bé Hai từ Hair cut biến thành Hai-rờ-cu-tê theo cách đọc của người lao động trong xóm. Chuyện nam mở tiệm cắt tóc nữ và ngược lại là điều không hiếm trong các dịch vụ “làm đẹp” hiện tại, nhưng nó trở nên khác lạ hơn, khi có một nhân vật thứ ba, thứ tư chen vào thổi bùng sự nghi ngờ, xác quyết, rằng ông Năm Sanh tư tình với con Bé Hai-rờ-cu-tê “dụ dỗ đám già dê”, tạo thành làn sóng phẫn nộ, nhân danh đạo đức, đẩy ông đến chỗ tự tìm lấy cái chết sau những ám ảnh kinh hoàng vây bủa Năm Sanh: “Là cặp môi xăm đỏ chót, nhóp nhép nói không ngừng dưới đôi mắt như mụ phù thuỷ của vợ ông. Là cái miệng cười xạo xạo, đôi mắt lấm la lấm lét của thằng con trai ông. Là cặp mắt dâm dê, cái miệng cười tạo dáng cố tình khoe hàm răng giả bọc sứ của tay chánh văn phòng… Nhiều, nhiều quá những con mắt, những cái miệng quay cuồng dòm ngó, hét to vào tai ông, vào đời ông. Ông xây xẩm, chóng mặt. Ông bịt tai, nhắm mắt” (Người và người và những người).
Hầm trú ẩn cho người và chữ, Ái Điểu đã khơi gợi lại nỗi kinh hoàng trong lòng người đọc, khi nhớ lại giai đoạn bi thương của những cuốn sách (miền Nam) bị thiêu sống, chết tức tưởi bằng nhiều cách khác nhau: hỏa thiêu, thủy táng (ném xuống ao tù), lăng trì (ném tung ra đường, cho xe lu cán qua, nghiền lại)…, bởi chúng gánh nhiều tội lỗi với dân tộc, là “nọc độc, đồi trụy, phản động”. Trước cơn điên cuồng của những kẻ nhân danh chiến thắng, bảo vệ văn hóa… chủ nhân những “tên tội phạm” đã tìm cách chết cho sách một cách hiên ngang, thanh sạch:
“Ông nội nghẹn ngào: sách, chữ nghĩa là điều linh thiêng mà thần linh, thánh hiền đã ban cho con người để khỏi u mê, có đạo đức. Cha con mình không bảo trọng được sách, được chữ nghĩa, mình phải tạ lỗi với tổ tiên. Những cuốn sách này là lời của tiền nhân dưỡng dục nhân cách. Không thể giấu sách xuống hầm là nơi không tôn nghiêm. Không thể giao sách để người ta huỷ hoại, chà đạp. Nhà mình phải hoả táng sách để hồn của chữ tồn tại vĩnh hằng” (Hầm trú ẩn cho người và chữ).
Chỉ với những dòng ngắn ngủi này, đủ để nước mắt tôi chảy dài với mấy ngàn quyển sách, tạp chí trong nhà, thời kỳ đó; rồi nhớ lan man qua tản văn Để tang cho sách của Khuất Đẩu (nhà văn gốc Bình Định, hiện sinh sống tại Ninh Hòa): “Cuối cùng ông đã chọn cho mấy trăm cuốn sách một cái chết dũng cảm. Đó là chính ông tự mình đốt sách”. Có ai đủ tỉnh táo để nhìn những cuốn sách quý của mình bị bọn “tiểu quỷ” vừa hất tung ra đường, vừa châm lửa đốt, vừa nhe răng nhảy múa reo cười, như anh Nhật Tiến đã ngã quỵ trước cửa nhà khi nhìn ngọn lửa bùng cao, thiêu rụi hàng ngàn quyển sách của mình! Và thật mỉa mai, như những dòng cuối cùng trong truyện này, Ái Điểu nhắc lại: “Nhiều năm sau, sách bị tịch thu, đốt được ấn hành lại. Chữ nghĩa được tái sinh từ bụi tro tàn”!
Hầu hết các truyện cô treo trên Fb, không tìm thấy những đoạn, những câu triết lý; nhưng đến khi kết thúc, cô thường để lại những dấu hỏi to tướng để độc giả tìm cách tự xới tung những câu trả lời như đi bới tìm những những vật thể lạ vùi trong lớp cát sâu!
Trong những thập niên 60, 70 của thế kỷ trước, triết học hiện sinh du nhập vào miền Nam theo ngả văn chương với nhiều nhà văn, nhà thơ đưa tác phẩm của họ theo chiều hướng đó; giai đoạn gãy gánh tiếp theo là sự biến mất, thay thế bằng sự lừng lững hiện thực xã hội một chiều một cách xộc xệch, so le để rồi sau đó nhường bước cho dòng văn học hậu hiện đại, cách tân, phi thơ… làm thay da đổi thịt cho dòng văn chương hiện đại. Ái Điểu không bị “cuốn theo chiều gió”, vẫn giữ riêng cho mình một hướng đi độc lập, một cách viết, từ nội dung đến hình thức không giống bất cứ một khuynh hướng hay kiểu mẫu nào. Cô nghĩ sao viết vậy, thấy gì viết nấy, thấu cảm với đời sống, xã hội vây quanh mình.
Loạt truyện cô viết về đề tài này, không cao xa, sang trọng; chẳng có vũ trường, phòng lạnh, chân dài chân ngắn hay những mối tình đậm dấu phim ảnh giải trí. Trái lại, đó là những con người có thật, khung cảnh có thật quanh cô; mà thường là những cảnh đời, con người sống tận cùng đáy xã hội hôm nay.
Giữa một quán cà phê đâu đó ở miền biên viễn Tây-Nam, có thể là Tịnh Biên, Tri Tôn hay An Phú nào đó, các cô gái bán thân tụ tập nhau, kháo chuyện với nhau sau khi “hoàn tất các phi vụ”. Họ vô tư kể lại, không hề lưu dấu cảm xúc, chẳng hề thấy, nghe những oán than, cứ đều đều lướt qua như các nhân vật trong chiếc lồng đèn kéo quân, nhưng có sức mạnh như một quả bom làm tan nát lương tri con người còn giữ chút phẩm hạnh, trong thời buổi mà đạo đức suy đồi, tha hóa, tệ nạn xã hội ngày mỗi tăng cao trước sự bất lực của bậc cha mẹ. Cuối cùng cũng đành buông xuôi, tin vào mộng mị mê tín, rủi may!
Sự thê lương ấy hiện rất rõ trong truyện Sấm Ký, nơi người ta giãi bày nỗi lòng, chỗ vung vãi nhục cảm và đón nhận cái xấu xa nhơ nhớp như cứu cánh của cuộc sống không lối thoát. Đó là trường hợp của Liễu, chồng đi nghề rập ghẹ trên biển, đã 2 năm không trở về, một thân một mình nuôi con nhỏ và cha mẹ chồng già bệnh hoạn. Số phận nghiệt ngã ấy đẩy cô vào cuộc mưu sinh sát rìa sự sa đọa đích thực và bên cạnh những lời truyền tụng vô căn cứ trong mấy câu sấm ký chuyền tay nhau như một chiếc phao cứu mệnh. Mọi người đặt niền tin vào đó, đặt tất hy vọng vào đó như sẽ có một sự đổi đời nếu như đem hết lòng thành, cố gắng làm đúng những chỉ dẫn, vì chung quanh là “Lũ ngạ quỷ, đám cô hồn ngự trị khắp dương gian, hãm hại người lương thiện… Kẻ ác nhơn, người hiền hậu tựa vàng thau lẫn lộn khó phân biệt được. Người đức hạnh biến đổi thành kẻ sa đoạ như bị ma da bắt”. Liễu, nhân vật trong Sấm ký bị xã hội trói chặt, trong cảnh không phải người đức hạnh mà cũng không là kẻ ác nhơn! Cô vừa chép sấm ký cầu may với cả lòng thành, vừa lên giường với ông Chiến xong, lại có điện thoại của Chinh, con ông Chiến: “Con Liễu còn trần truồng thì có tiếng báo tin nhắn. Tin nhắn của anh Chinh, con ông Chiến: a nhớ e quá, năm giờ mình gặp nhau nghen e… con Liễu không mặc áo quần. Như vậy cho đỡ mất thời gian, vì nó còn suất làm chiều ở quán nhậu. Anh Chinh chưa đến. Trong khi chờ đợi, con Liễu lấy sấm ký ra viết tiếp”. Những cảnh đời cay đắng này không phải cô bịa và hư cấu thành truyện mà đó là hình mẫu đầy dẫy ngoài xã hội hiện tại, Cô chỉ có nhiệm vụ kể lại!
Có điều may, là Ái Điể không khai thác đề tài một chiều, rập khuôn. Cô biết cách lái sự khốn cùng tan nát trong đời sống tham thú thường ngày sang một hướng rất nhân bản. Một số truyện của cô được xây dựng như thể một tuyên ngôn nhân sinh.
Nhân vật “Tôi” kể lại cuộc trốn chạy, được cứu sống… và 23 năm sau quay trở về tìm ân nhân thì lại rơi vào đúng bi kịch kiếp người rách nát! Để được sống và trốn chạy, “Tôi” đã được tiếp sức bằng những giọt sữa của người đàn bà và mấy củ khoai lang. “Tôi” trốn chạy mang theo nhiều mùi bám trên thân thể người đàn bà: mùi sữa, mùi đàn bà, mùi mồ hôi, mùi nước tiểu, mùi khói thuốc trộn với mùi ẩm mốc. Tất cả các mùi đó là mùi trần gian, nơi “Tôi” đang sống, đã đào thoát và vừa trở về. Nói khác: tất cả những mùi “nhân gian” này đã cứu tôi vượt thoát khỏi ngục tù trong một xã hội cơ man những dối trá, ác độc để tìm đến nơi chốn bình yên!
“Tôi run run cầm tay nàng. Bất giác tôi gục đầu vào bầu vú của nàng. Mùi sữa người, mùi mồ hôi, mùi đàn bà, mùi ẩm mốc, mùi thuốc rê, có cả mùi nước tiểu trẻ em… Tôi hít thật sâu và muốn chảy nước mắt. Tôi đang được tiếp tục sống. Có tiếng trẻ con khóc. Nàng siết chặc đầu tôi vào vú nàng trong giây lát, rồi lại đẩy ra. Nàng nói: Em phải vào dỗ cho con nín, nó khóc dễ gây sự chú ý. Ông đi cho kịp lúc. Tôi bước vào bóng đêm, lún sâu vào cát lầy. Gió sông thổi xoá nhanh dấu chân” (Mùi của miền Nhân Gian).
Ái Điểu chưa dừng lại, cô đẩy “miền nhân gian” kia vào một bi kịch tréo ngoe, nghẹt buốt khi, sau 23 năm, “Tôi” quay về và tìm ra chốn cũ đã biến thành loại “mùi khác” nơi chốn sa đọa (để tiếp tục sống nốt một kiếp đọa đày): “Nó dẫn tôi qua một cái cổng, qua một khoảng sân rộng, nói: Nhà ông nội em. Xưa, giàu nhất làng. Ông vào cái phòng thứ hai, chờ em tắm rửa cho thơm”. Nhưng đỉnh điểm của bi kịch lại nằm ngay ở đoạn cuối: cuộc gặp bất ngờ giữa “Tôi” và người đàn bà năm xưa với “bầu vú tròn căng đang nhỏ sữa vào miệng tôi” và con nhỏ hỏi nước đôi “uống cà phê hay đi vui vẻ”. Màn kịch hạ xuống và trái tim người đọc dường như cũng bị bóp nát đến thoi thóp “Con nhỏ tắm xong, bước ra. Nó kêu lớn: Má kỳ quá! Khách của con mà. Nàng ngưng hun, nói: Khách của tao, mày biết mẹ gì! Lúc mày còn bú tao đã quen ông này. Nàng nói với tôi: Ông đã uống ké phần sữa của con bé… Tôi khuỵu xuống. Vùi mặt vào bầu vú của nàng. Vùi tôi, chôn sâu vào miền nhân gian cát lầy miên viễn”.
Giọng điệu “xỉa xói, gai góc” vốn là đặc trưng trong văn chương Ái Điểu. Khi bóng gió, lúc thẳng thừng, không né tránh và, đôi khi có phần “giật gân”? Đó là truyện Môi trinh kỹ nữ. Ngay nhan đề truyện đã là nghịch lý: Xét về mặt sinh học, đã là kỹ nữ thì làm gì còn trinh tiết? Vậy mà Ái Điểu nằng nặc xác quyết rằng có một cách kiên định, y như các mẹ các chị ở Pháp, Anh khởi xướng đòi quyền bình đẳng giới từ cuối thế kỷ XVIII cho đến tận đầu thế kỷ XX, lan ratoanf thế giới và thành công!
Để khẳng định kỹ nữ vẫn còn trinh tiết, cô thừa nhận kỹ nữ chính là đĩ. Nhưng đĩ có ích cho xã hội, vẫn sạch sẽ thơm tho, chứ không như
“Hiếm mẹ gì tiến sĩ, tướng quân, văn hào, thi bá, khanh hầu… mà ác nhân, giả nghĩa ức hiếp lương dân, bóc lột bá tánh. Em là kỹ nữ. Cái nghề xấu nhưng mà em tốt. Em không bóc lột ai, chỉ có khách hàng bóc lột em. Họ bóc lột em khiếp lắm, không còn mảnh vải che thân… Em làm kỹ nữ. Nghề dơ dáy? Không! Em cho là nghề tụi em sạch lắm. Sáng thức dậy đã tắm sạch sẽ xịt dầu thơm phức. Y phục thời trang, đẹp từ áo quần cho đến nội y. Cứ nói kỹ nữ là nghề dơ dáy. Bậy! Nói mà thiếu suy nghĩ. Mấy chị nữ sinh trong trắng, được anh nhơn tình đem ra chòi vịt, đè xuống. Toàn mùi lông vịt. Đâu có sạch như giường nệm nhà trọ. Mấy chị bán cá vừa về nhà. Anh chồng thèm, lôi vào phòng, tanh thấy con đĩ mẹ. Tóm lại nghề em sạch. Quá sạch. Thơm tho từ da đến tóc. Sạch hơn mấy ông, mấy bà tiến sĩ, giáo sư, bác sĩ, tướng quân, chính khách bán lương tâm cho quỷ tham dục. Từ khi có xã hội loài người, biết bao nghề đã không còn. Như nghề cầm lọng che mát cho quan, nghề mãi võ, nghề ở vú cho con nít bú … Chỉ có nghề làm đĩ là còn mãi mãi. Và, chắc như bắp, là còn đàn ông là còn con đĩ. Vì sao? còn đàn ông là còn con đĩ? Vì nghề làm đĩ cần thiết cho cuộc sống. Không có những nhà thơ, nhân loại cũng không quan tâm. Nhưng, không có đĩ thế giới sẽ náo loạn, bất bình an. Không có nàng Kiều (bà đĩ nổi tiếng nhất trong văn học) chắc không ai nhớ đến Tố Như, Từ Hải. Nhờ có tụi em hiếp dâm giảm đi nhiều”.
Đây là kiểu lý luận bừa phứa, chầy cối của kẻ dưới cơ, ngã ngựa… nhưng xem ra cái lý sự cùn vừa cay độc ấy lại đúng muôn phần!
Xem nào: kỹ nữ là cách gọi tên cho văn vẻ thời xưa, chứ trần trụi là đĩ, người làm nghề bán dâm, mà nguyên nhân chính là nghèo đói, bế tắc trong cuộc sống. Họ bán hay trao đổi cái họ sở hữu một cách sòng phẳng, không ép buộc khách hàng (chỉ có chiều ngược lại ở khách làng chơi). Nhưng hình ảnh và nhân cách của cô gái làm đĩ của Ái Điểu lại hoàn toàn khác. Cô ta bán tất cả những gì hiện hữu trên thân thể, khách tha hồ bóp nắn, dày vò ngoại trừ một nơi cô ta đặt sự thánh thiện trong suốt như khí trời buổi tinh mơ: đó là đôi môi, phần trinh tiết, thanh sạch nhất của mình, và nhất quyết không cho khách làng chơi đụng chạm vào ngôi đền thiêng này, là điểm tựa nhân phẩm cuối cùng cần giữ gìn.Cô gái từ chối cái giá cao gấp nhiều chục lần giá đi khách, và đôi khi bị hành hung chỉ vì ra sức giữ trọn ngôi đền thiêng trên đôi môi? Thân xác đưa ra bán buôn, nhưng tâm hồn vẫn giữ trong sạch. Bán trinh nhưng không bán tiết. Đó là một thông điệp của những con người bị xã hội đặt tên là đĩ, còn lương tri, nhân phẩm.
Có thể nói, hầu hết các truyện Ái Điểu khởi viết từ năm 2023 tới nay đều viết về thân phận u ám của con người ở dưới tầng đáy xã hội, một xã hội sau chiến tranh chưa thực sự được hàn gắn vết thương về thể xác lẫn tâm hồn, chưa có sự hòa hợp, đầy dẫy sự đố kỵ phân cách, cùng nỗi đau của sự mất mát; một xã hội ngày càng lộ rõ sự mục rữa của đạo lý, nhân phẩm qua những chuyện kể về ma túy, cá độ, bán trinh, lừa lọc… Ái điểu để cho các nhân vật tự nói, tự phơi bày cái nhớp nháp trong đời sống của họ một cách bình thản. Truyện cứ thế trôi đi mà cô không hề kể lể, can thiệp; cô đặt nhân vật ngang hàng với người tạo ra nó thật trơn tru, gọn gàng, không gượng ép, tì vết thông qua giọng văn sắc lạnh, tỉnh queo, đôi khi khá tàn nhẫn, giống như cách cô dùng câu văn thô ráp, không văn vẻ, trau chuốt, loại văn chương đứng ngoài văn chương, loại chữ nghĩa rất hoang dã, như thể đó là văn phong vốn có, không khác được. Cô “viết để giữ lại tiếng nói cho những con người không ai muốn nhớ”.
Câu hỏi “có khi nào xem thử mình có dấu chân hay không?” ở dòng cuối cùng của truyện Người không có dấu chân là sợi chỉ xuyên suốt trong mười mấy truyện cô “trình làng” chừng như dành cho mọi người cùng nhau soi rọi lại bản thể mình và xã hội mình đang sống với.
(Tuy Hòa, 27/1/2026 Nhuận sắc giữa tháng 2/2026 giữa tiết trời lạnh giá)
- Ái Điểu, Cõi Lạ Văn Chương Nguyễn Lệ Uyên Nhận định
- Trần Thị NgH, viết: xạo ke , vẽ: cà rỡn Nguyễn Lệ Uyên Nhận định
- Thơ Phương Tấn Là Đồng Vọng Những Đau Thương Của Dân Tộc Nguyễn Lệ Uyên Nhận định
- Thơ Nhã Ca, một vài tư liệu nhỏ Nguyễn Lệ Uyên Nhận định
- Cảnh Cửu Và Sự Cô Đơn Đến Tận Cùng Nguyễn Lệ Uyên Nhận định
- Như Mới Hôm Qua Nguyễn Lệ Uyên Hồi ức
- Gia Tài Của Võ Hồng Nguyễn Lệ Uyên Tham luận
- Cát Bụi Mệt Mỏi, Bản Giao Hưởng Định Mệnh Của Nguyễn Đức Sơn Nguyễn Lệ Uyên Nhận định
- Tình Muộn Nguyễn Lệ Uyên Truyện ngắn
- Chinh Ba – Đi tìm tự do qua chiếc xương cụt? Nguyễn Lệ Uyên Nhận định
• Ái Điểu, Cõi Lạ Văn Chương (Nguyễn Lệ Uyên)
• Vũ Hữu Định, còn rất nhiều điều để nhớ (Luân Hoán)
• Nhà văn Mường Mán - Cạn một chén đời chưa viết hết (Bùi Tiểu Quyên)
• Vĩnh biệt nhà văn Mường Mán: Tiễn anh ‘qua mấy ngõ hoa’… (Hà Đình Nguyên)
• Phóng Sự (Trần Bích San)![]()
Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)
Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng, Quyển Hạ
Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)
Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)
Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)
Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)
Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):
Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)
Sách Xưa (Quán Ven Đường)
Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)
(Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)
Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)
Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)
Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?
(Trùng Dương)
Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)
Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục
Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến
Đặng Tiến
20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975
Nguyễn Văn Lục
Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)
Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)
Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)
Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)
Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)
Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)
Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)
Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)
Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)
Dương Quảng Hàm (Viên Linh)
Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)
Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)
Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)
Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)
Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)
Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)
Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn
Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)
Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)
Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)
Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)
Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)
Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)
Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh
(Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)
Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)
Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn
Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)
Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An
Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)
|
© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com) |