|
|
|
|
|
VĂN HỌC |
GIAI THOẠI | TIỂU LUÂN | THƠ | TRUYỆN | THỜI LUẬN | NHÂN VẬT | ÂM NHẠC | HỘI HỌA | KHOA HỌC | GIẢI TRÍ | TIỂU SỬ |
Thơ Văn Trần Y. Hoa & Bằng hữu
Thơ Văn Trần Yên Hoà & Bằng hữu

Giới thiệu nhà văn Kim Hài qua buổi trò chuyện này là chúng tôi muốn cùng với quý độc giả quay tìm về một thuở xa xưa, nhìn lại những năm tháng cũ của cái thuở “em tan trường về” với những tiếng cười ríu rít, những lá thư tình ngập ngừng cất giấu, những thẹn thùng, e lệ yêu đó mà chẳng dám trao đi.
Kim Hài là một nhà văn của tuổi thơ, những dòng chữ mà chị đã trao đi, gửi đến cho tuổi hồng, tuổi ngọc theo tôi đấy là từ máu, từ tim của một nhà văn yêu mến tuổi thơ. Chị viết cho tiếng ve kêu để gọi hè về, viết cho ngày mưa, tháng nắng cái ngày mà trong chiếc cặp xinh xinh luôn có me chua, khế ngọt, có ngót dầm với những ô mai mơn trớn môi hồng.
Triều Hoa Đại: Trước khi chúng ta cùng nghe nhà văn kể chuyện sau, trước đây tôi nghĩ không gì bằng được chị giới thiệu đôi chút về mình. Vậy thì bây giờ xin mời chị.
Kim Hài: Vâng, cảm ơn anh, người bạn học lâu năm giờ mới gặp lại. Sự gặp gỡ bất ngờ này gợi trong tôi một chặng đường rất dài, hơn nửa thế kỷ, và hôm nay với người đọc, tôi lại có dịp kể về mình như một lời tâm tình hơn là giới thiệu.
Tôi sinh năm 1946 tại Hội An. Ba tôi, người Hưng Yên, vào Nam vì công việc và ở lại Đà Nẵng như một quê hương thứ hai. Cả gia đình sinh sống tại Đà Nẵng. Thời trung học, tôi theo học trường trung học Phan Châu Trinh. Đỗ Tú tài, tôi ra Huế học ở Đại học Khoa học Huế, chuyên ngành Địa chất. Vì lý do khách quan, tôi vào Sài Gòn, học nốt năm cuối và tốt nghiệp Cử nhân ngành này. Tại Sài Gòn, tôi có cơ hội cộng tác với báo Tuổi Hoa do Linh Mục Chân Tín quản lý, và tủ sách Tuổi Hoa của ông Nguyễn Trường Sơn, báo Thằng Bờm của nhà văn Nguyễn Vỹ, từ đó định hướng sáng tác hoàn toàn dành cho thiếu nhi và tuổi mới lớn. Sau năm 1975, tôi không thể viết gì vì phải quần quật với cơm áo. Mãi mười năm sau, khi môi trường viết dễ chịu hơn, cởi mở hơn, các nhà xuất bản chú ý nhiều hơn đến mảng văn học thiếu nhi, tuổi mới lớn, thành lập các tủ sách Áo Trắng, Tuổi Hồng Tuổi Hoa Niên, tôi và Thùy An được mời tham gia. Từ đó, tôi và Thùy An chuyên tâm viết cho thiếu nhi và cùng thực hiện các tập san Tuổi Ngọc, Bạn Ngọc dành cho tuổi mới lớn...
Các tác phẩm của tôi viết cho Tuổi Hoa gồm: Trông về quê mẹ, Khúc Nam Ai, Người dưng khác họ, Cao như đỉnh Thái, Cánh gió, Gợn sóng, Sắc lá xanh, Phương nào bình yên, Đời mù sương.
Sau năm 75: Mặt trời rực rỡ, Bình minh màu mực tím, Cánh diều mơ ước (giải thưởng "Thiếu nhi vì tương lai đất nước lần 1"), Giọt sương hèn mọn (giải thưởng kịch bản phim thiếu nhi của Hãng Phim Trẻ), Cò trắng vườn chim (giải thưởng “Văn học thiếu nhi vì tương lai đất nước lần 2”), Giã từ tuổi nhỏ, Vừng ơi mở ra, Ông bán Tết, Ngày khai trường trong mơ (giải thưởng viết cho thiếu nhi do UNICEF phối hợp với Hội nhà văn VN), Những ô cửa sáng đèn, Ngôi sao tai họa (giải thưởng kịch bản truyện tranh báo Khăn Quàng Đỏ), Những góc nhà hạnh phúc (giải thưởng viết cho tuổi mầm non do Bộ Giáo dục tổ chức), v.v... cùng hơn 20 tác phẩm khác...
Hiện tại, tôi vẫn tiếp tục nhẩn nha viết, không vì cái gì cả mà như một thói quen, một đam mê không thể từ bỏ được.
Thđại: Trong một lần trò chuyện với chị tôi được biết rằng ngay từ thuở còn cắp sách đến trường chị đã say mê chữ nghĩa vì cứ mỗi lần đi ngang qua một quán sách bên đường Ông Ích Khiêm và Hùng Vương là chị hay trốn vào một góc kín để đọc sách, báo “cọp”, chị đọc một cách say sưa, đọc đủ thứ, đọc “tất tần tật những quyển sách ở trong tầm tay”. Và, cũng chính chị “thú tội” có lẽ chính những năm tháng ấy đã hình thành “những mầm mống để chờ ngày có điều kiện đơm hoa”. Vâng, những ngày “đơm hoa kết trái ấy” chắc hẳn rằng đã ở tuần báo Tuổi Hoa cùng với nhà văn Thùy An mà cho đến mãi tận bây giờ những lứa tuổi “thích ô mai” ngày nọ và dù rằng hôm nay không còn thích ô mai như những ngày tháng cũ thay vào đó chỉ còn thích ô tô nhưng vẫn ghi nhớ những gì được chị viết ra. Vậy thì giờ đây là giờ của nhà văn trải lòng với người đọc, chị có thể nhắc lại những kỷ niệm mà chị đã một thời gắn bó.
KH: Có lẽ, kỷ niệm mà tôi cho là bước ngoặt quan trọng khiến mình tự khám phá chính mình, tự tin cầm bút, là năm bước vào cấp 2 trung học, lớp đệ tam (bây giờ là lớp 10 hệ 12/12).
Thời gian trước, suốt bốn năm cấp một, quả thật tôi không hề biết mình yêu thích gì nhất và có năng khiếu gì. Tôi thích vẽ, thích đọc sách, thích thể thao, yêu thiên nhiên. Tôi nghĩ mình thứ gì cũng làng nhàng, mỗi thứ một chút để tô vẽ cho cuộc sống thanh xuân bớt đơn điệu. Tôi cũng cô đơn, ít bạn, ít giao tiếp vì nhà ở vùng ven, không có điều kiện gặp gỡ bạn bè.
Tôi lên cấp 2, thầy Trần Đình Quân là giáo sư môn Việt văn (xin ghi chú thêm, thầy là tác giả của bài “Khúc tình ca xứ Huế” nổi tiếng). Cũng như tất cả các giáo sư vừa ra trường, thầy TĐ Quân còn rất trẻ nhưng thầy khá nghiêm khắc và khó tính. Tôi vốn nhát gan nên sợ lắm, không dám lơ là bài vở chút nào. Sau học kỳ 1, tôi nghe các bạn ban B và C kháo nhau thầy khen tôi dữ lắm, bài luận hay, nếu có thể, thầy đã cho điểm 10. Tôi bán tin bán nghi, nhưng đến khi trả bài thi, tôi đứng đầu môn Việt văn thật. Cuối năm, thầy trao cho tôi phần thưởng Việt Văn.
Phần thưởng Việt văn năm đó là động lực rất lớn khiến tôi tự tin nghiêng hẳn niềm yêu thích của mình sang văn chương. Cái hạt giống ngày tiểu học ở quán sách bên đường bắt đầu nảy mầm tươi tốt trong môi trường của sự công nhận và khích lệ từ người thầy tôi kính mến.
Kỷ niệm thứ hai không thể không nhắc đến là cuộc gặp gỡ duyên phận ở tòa báo Tuổi Hoa. Trước đó, tôi đã có truyện viết từng kỳ cho báo Thằng Bờm của nhà văn Nguyễn Vỹ rồi. Nhưng tôi vẫn chưa định hình được con đường mình chọn. Đến một ngày năm 1969, tôi gửi cho báo Tuổi Hoa, lúc đó là bán nguyệt san Tuổi Hoa, một bài ký viết về làng cô nhi Long Thành (tựa đề Dấu Ngọc). Bài ký được đăng và nhà văn Hoàng Đăng Cấp là một người trong Ban Biên tập đã gửi lời mời đến Tòa soạn Tuổi Hoa gặp mặt. Trong dịp đó, anh Hoàng Đăng Cấp đưa cho tôi bức thư của một độc giả ở Cà Mau viết khen bài ký, bức thư rất dài với đoạn kết như một lời tiên đoán chắc nịch rằng tôi sẽ là một nhà văn viết cho thiếu nhi, và rất mong sẽ được đọc các tác phẩm thiếu nhi của tôi trong tương lai. Rất tiếc, anh Cấp lưu giữ bức thư và tôi lại không nhớ tên độc giả đó. Các bạn thử nghĩ xem, với một người mới tập tễnh bước vào làng văn, những lời viết trong thư tất nhiên sẽ là động lực thôi thúc tôi mạnh dạn bước vào con đường văn chương, mặc dù tôi cũng chưa thể hình dung là mình sẽ làm được gì.
Thđại: Chị còn nhớ truyện đầu tay của chị được đăng ở báo nào, năm nào không?
KH: Tác phẩm được đăng báo lần đầu lại là một bài thơ tình đăng trên tập san Phổ Thông do nhà văn Nguyễn Vỹ làm chủ bút và thực hiện, hình như là năm 1966. Và như là một duyên nợ, truyện dài thiếu nhi đầu tiên đăng nhiều kỳ trên báo thiếu nhi Thằng Bờm cũng do nhà văn Nguyễn Vỹ chủ biên, và sau khi truyện đăng xong, Nhà xuất bản Hoa Niên mua bản quyền xuất bản, tựa đề: Trông về quê mẹ, năm 1970.
Thđại: Chị và nhà văn Thùy An cùng học một trường và có lẽ cùng chung một lớp ở Phan Châu Trinh (Đà Nẵng) và lại cùng viết ở Tuổi Hoa. Tôi chắc là giữa hai chị thế nào mà chẳng ít, nhiều kỷ niệm vậy. Chị có thể chia sẻ những kỷ niệm ấy với độc giả?
KH: Vâng, như anh đã biết, Thùy An với tôi là bạn cùng lớp. Chúng tôi ban đầu chỉ là bạn chung lớp, không có điều kiện kết thân hoặc những kỷ niệm đặc biệt nào. Thời đi học, tôi chỉ biết Thùy An là một cây văn nghệ mà không biết bạn ấy cũng yêu thích thơ văn.
Nhưng khi chúng tôi rời mái trường Phan Châu Trinh để ra Huế học đại học, thì giữa hàng trăm bạn bè khắp các trường tỉnh miền Trung, học trò trường Phan Châu Trinh quả quá ít ỏi, nhất là khi phân bố ngành học, còn lại vỏn vẹn có tôi, Thùy An và bạn nữ Như Hảo chung ngành Lý Hóa Nhiên (SPCN). Lúc đó ba đứa bíu lấy nhau và trở nên thân thiết, cùng nhau học hành vui chơi. Tuổi mới lớn nhiều mơ mộng, hoài bão, cùng chung kỷ niệm trong ngôi trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng, dần dà chung cả giấc mộng xuân thì. Ba đứa thi nhau làm thơ ca tụng thiên nhiên, tình yêu đôi lứa, cho đến một hôm, trong khu vườn nhỏ bên trường, chúng tôi cùng có ý muốn lập một nhóm thi văn. Ba người hơi ít, Như Hảo đề nghị một sinh viên nam ngành toán đang dạy tại gia cho cháu của Hảo là anh Nguyễn Diên, biết làm thơ, viết nhạc, gia nhập nhóm. Bốn người, vừa đủ, và nhóm thi văn Sóng Vàng ra đời, trưởng nhóm là tiền bối Nguyễn Diên đã sáng tác một ca khúc cho nhóm với lời hát rất chi lãng mạn: “Từ miền xa ước mơ, một làn sóng vô bờ, một làn sóng trăng vàng, một làn sóng sông thu... Dòng sông xanh lấp lánh, tóc mây mơ hồ, chờ trăng lên thấp thoáng gió gieo lời thơ...” Tuyển tập thơ đầu tiên của nhóm quay ronéo, ra đời ngay sau đó, mở đầu cho một giai đoạn sáng tác hăng say... Kỷ niệm này không thể phai mờ trong hành trình viết của tôi, nó na ná như mối tình đầu ngây thơ trong sáng của tuổi hoa niên.
Thđại: “Văn chương không thay đổi được đời sống. Nhưng văn chương bổ sung cho đời sống là gia vị của cuộc đời, như gừng cay muối mặn.” Chị nghĩ thế nào về lời phát biểu này?
KH: Theo tôi, tùy theo cảm nhận, tùy theo kết quả đạt được của người viết mà văn chương có linh hồn như thế nào.
Một cuốn sách đâu thể nào mang kỳ vọng thay đổi xã hội, thay đổi đời sống, thay đổi thế giới. Nhưng điều kỳ diệu ấy không hiếm gặp. Vì tôi là một người viết cho thiếu nhi nên tôi luôn tin rằng văn chương phải có trách nhiệm khiến cho tâm hồn các em nảy sinh những điều tốt đẹp, thiện lương. Muốn thế, một tác phẩm viết cho thiếu nhi phải hội đủ các yếu tố: lòng yêu thương, tình nhân ái, ước mơ và hy vọng. Dù bối cảnh câu chuyện thế nào đi nữa, nếu tác phẩm được xây dựng bằng những yếu tố như vậy, chắc chắn sẽ làm nảy sinh trong tâm hồn các em những điều tốt đẹp. Như thế, văn chương chí ít cũng đem lại những thay đổi tích cực cho tuổi trẻ, hình thành nhân cách của người lớn trong tương lai. Vì vậy, nếu nói văn chương bổ sung cho đời sống cũng không sai, còn gia vị thì tùy người viết chọn loại nào và có mục đích nào.
Thđại: Viết văn làm thơ hay nói chung chung là một cái nghiệp bởi vì: “Chúng ta không chọn và theo đuổi nó, nó chọn chúng ta, nói cách khác như một định mệnh”. Vậy thì trường hợp viết văn của chị có phải là một chọn lựa, một định mệnh từ chị hay từ văn chương?
KH: Anh nói đúng, chí ít là trong trường hợp của tôi. Nếu tôi chỉ là một cô gái yêu văn thời học sinh sinh viên thì chắc chắn tôi sẽ là một nhà khoa học hoặc một cô giáo Vạn Vật ở miền Trung, thỉnh thoảng viết vài truyện, vài bài thơ đăng báo cho vui. Nhưng số mệnh đưa đẩy rất lạ. Khi tôi học xong năm thứ ba, không biết vì lý do gì, các thầy thỉnh giảng từ SG không ra Huế nữa. Trường khuyến cáo sinh viên nào muốn hoàn tất chương trình cử nhân khoa học phải vào SG tiếp tục. Vì nhà nghèo, tôi đã nộp đơn xin đi dạy học, nhưng nhiệm sở ở tận Quảng Ngãi. Lúc đó, chiến tranh bắt đầu lan rộng. Cả nhà ngăn cản. Tôi đã định trở về Đà Nẵng. Thế nhưng ba của một người bạn thương tình cho tôi một vé máy bay và nói rằng tôi phải trả lại tiền sau khi tốt nghiệp và có việc làm. Vậy là tôi khăn gói vào SG. Nhưng vì chưa tìm được nhà người quen của ba tôi, nên ba của Thùy An đề nghị tôi trú tạm tại nhà anh họ của Thùy An và cũng là nơi Thùy An sẽ ở đó. Duyên may, tôi trở thành gia sư của cháu Thùy An. Nhờ thế, tôi và Thùy An trở thành cặp bài trùng sống tại SG, cái nôi của giới văn chương miền Nam. Chúng tôi lại làm thơ, viết truyện, đăng báo đều đặn, cho đến khi tôi gặp gỡ Tuổi Hoa, phát triển nghiệp viết của mình.
Thđại: “Được viết, được nói những điều mình suy nghĩ. Được nghe phản hồi những điều mình viết, được trân trọng những gì mình viết ra, được nhìn nhận bằng quan niệm thuần văn học đó là điều cần thiết cho bất kỳ người cầm bút nào và ở bất kỳ nơi đâu, điều đó làm nền văn hóa đa dạng, không làm thui chột hứng khởi người sáng tác.” Trên đây là trích dẫn lời một bạn văn trong một lần trò chuyện, chị nghĩ thế nào về lời phát biểu này?
KH: Như anh biết đó, sau 75, mọi thứ trở nên rất khó khăn với tất cả những người dân miền Nam. Tôi đã không động đến văn chương trong 10 năm ròng. Tôi làm những công việc tay chân như những lao động thật sự. Văn chương chữ nghĩa hầu như rơi vào quên lãng. Cho đến một ngày, Thùy An nói với tôi rằng đã gặp nhà văn Lệ Hằng (anh biết Lệ Hằng, lớp mình chứ? Một nhà văn nổi tiếng thời đó và cũng từng có thời gian là thư ký tòa soạn Tuổi Hoa). Lệ Hằng là biên tập viên tại một xưởng phim và có ý định tìm kiếm các kịch bản mới, cập nhật những vấn đề xã hội đang thay đổi cũng như những trăn trở của người dân thành phố. Hai đứa đến thăm nhà Lệ Hằng, nhưng viết kịch bản phim lại là một vấn đề khác, cần chuyên môn, mà hai đứa mờ mịt. Kịch bản văn học là một lối thoát. Đấy là bước dạo đầu cho việc trở lại với việc viết lách.
Nói vậy để anh thấy không dễ cho những nhà văn trước năm 75. Rất may, tôi vẫn trung thành với văn học thiếu nhi, trung thành với tiêu chí tự đặt ra như đã trình bày với anh: không làm vẩn đục tâm hồn các em bởi các yếu tố chính trị. Sở dĩ được vậy vì tôi đã được hưởng một nền giáo dục nhân văn, nhân hậu, nhân ái trong suốt thời đi học, và cũng vì tôi có cơ may không tìm kiếm tiền bạc từ văn chương. Tôi viết vì yêu, vì các độc giả thời Tuổi Hoa còn nhớ dù trải qua bao năm tháng, và vì tâm nguyện muốn đem đến những điều tốt đẹp mà tôi đã được hưởng trong suốt thời thơ ấu cho các độc giả nhỏ tuổi của mình hôm nay. Tôi nghĩ đó cũng là một quan niệm thuần văn học và chắc chắn người đọc nào cũng biết cách phân biệt và người viết nào cũng mong mỏi được sống trong môi trường mà ở đó, người viết được tự do thể hiện, như nhà văn Leo Tolstoy đã nói đại để rằng:” Tôi thích tự do, dù tự do thể hiện bằng bất cứ hình thức nào.”
Thđại: Tôi có một vài người bạn ở trong nước có cho biết điều kiện in ấn sách báo vẫn chưa được thong dong, chưa được cởi mở, vậy thì thực hư nó như thế nào?
KH: Anh muốn nói đến chế độ kiểm duyệt? Tôi nghĩ là có, nhưng vẫn có những tác phẩm lọt rào, nhất là những tác phẩm tự in, xin giấy phép xuất bản của một nhà xuất bản nào đó, hình như gọi là kế hoạch B thì phải. Chỉ khi in ra rồi, nếu có vấn đề mới bị thu hồi... Và cũng có thể quyển sách theo suy nghĩ riêng của nhà xuất bản là có nhiều đột phá táo bạo cần thiết để đổi mới, cũng có thể ra mắt bạn đọc trước khi ai đó can thiệp vào.
Thđại: Theo chị vậy chúng ta phải làm sao để chính quyền có một cái nhìn độ lượng và bao dung với văn học?
KH: Chờ dòng chảy của thời gian, anh ạ.
Thđại: Nếu bảo văn chương là những kết nối giữa những người viết thì theo chị, văn học trong nước và hải ngoại, văn giới chúng ta có cần phải gắn kết, gần gũi và trao đổi để rồi từ đó giúp cho nhau làm phong phú thêm cho công việc sáng tác?
KH: Người cầm bút chân chính luôn mong ước điều đó. Lịch sử văn hoá xã hội của chúng ta cho thấy Việt Nam luôn mở lòng dung nạp tất cả các nền văn hóa, không kỳ thị so với nhiều nước khác trên thế giới. Vậy thì chúng ta, cùng tiếng nói, cùng chữ viết, cùng văn hóa sao không gắn kết được? Ý thức hệ đâu có làm cho nền văn hóa dân tộc lớn mạnh, mà chính bản sắc gốc rễ của chúng ta mới là cốt lõi. Những ai không biết cách dung nạp, trao đổi. Vì lý do nào đó chỉ khiến cho văn học Việt Nam tụt hậu mà thôi.
Thđại: Chị thường hay đọc những tác giả nào trong nước. Và những tác giả nào ở bên ngoài Tổ quốc?
KH: Thật ra, với các tác giả bên ngoài Tổ quốc, tôi không đọc nhiều vì không mua được sách, chỉ đọc một số truyện của họ đăng rải rác trên các trang web tôi quen, không chủ tâm cho một tác giả nào.
Đó cũng là cái thiếu của tôi, nhưng lực bất tòng tâm. Còn ở trong nước, tôi thích Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư, Ngô Phan Lưu, Nguyễn Thu Trân, v.v... và một số tác giả trẻ có lối viết hiện đại, ý tưởng thoáng.
Không biết các bạn cùng trang lứa thế nào, nhưng việc đọc của tôi thay đổi xoành xoạch. Bây giờ, khi tuổi cao, tôi dành nhiều thời gian để đọc các truyện viễn tưởng và rất say mê...
Thđại: Chị vừa đề cập đến nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, vậy chị nghĩ sao khi ông Thiệp phát biểu: “Ở Việt Nam, người đánh cá khi gặp nhau không bao giờ bàn về chuyện đánh cá”? Chuyện giao tình giữa chị và bạn văn?
KH: Tôi được cái may mắn là đã chọn văn học thiếu nhi để viết nên không giao tiếp nhiều với các nhà văn “lớn”. Trong thời buổi này, chúng tôi, những người viết cho thiếu nhi, thường nói đùa là mình chỉ là nhà văn hạng hai, chiếu dưới, nên muốn bàn chuyện đánh cá cũng chẳng có cơ hội. Viết cho thiếu nhi khá cô đơn hơn các nhà văn khác vì người chuyên viết thiếu nhi chỉ đếm trên đầu ngón tay. Thời sôi động nhất, tỷ lệ các nhà văn viết cho tuổi trẻ phân bổ khoảng 50- 50, nghĩa là một nửa những nhà văn trước 75 ở miền Nam, nên chúng tôi nói chuyện với nhau thoải mái hơn.
Thđại: Những tác giả ngoại quốc chị có thích ai không?
KH: Tôi rất thích Kafka, Haruki Murakami và dành ưu ái cho Lưu Từ Hân và Pierce Brown.
Thđại: Nếu được yêu cầu giúp đỡ để tìm đọc những nhà văn trong nước về tất cả các bộ môn văn chương nghệ thuật từ: thơ, văn, biên khảo và phê bình, v.v..., chị có sẵn lòng giúp đỡ; và vậy thì những tác giả nào ở các bộ môn vừa kể mà chị sẽ giới thiệu với họ?
KH: Như anh đã biết, tôi viết cho thiếu nhi, và sự giao tiếp hạn chế, không bác học đến độ gì cũng biết, gì cũng thông và có thể làm mọi việc. Hơn nữa, trong thời đại công nghệ này, sự quảng bá đôi khi bị thổi phồng gian dối và những ý kiến có thể bị bóp méo vì mục đích riêng. Hôm nay, tác phẩm này, nhà văn này được tâng bốc lên tận mây xanh, nhưng sau đó lại khác. Hôm nay, tác phẩm biên khảo này được đánh giá xuất sắc, nhưng sau đó bị vạch trần là do AI hoặc được copy từ một luận văn nào đó. Thật hư lẫn lộn... Phải đãi cát tìm vàng... Khó.
Thđại: Theo chỗ tôi được biết thì hiện nay dân số nước ta vào khoảng trên dưới một trăm (100) triệu người, vậy chuyện đọc và viết cũng như số lượng sách xuất bản và phát hành cũng như tiêu thụ ra sao?
KH: Thật đau đầu, anh ạ. Tôi chỉ nói về sách thiếu nhi để anh và các bạn có thể hình dung.
Cách đây 15 năm, mỗi lần xuất bản nhiều nhất là 5 ngàn bản, ít nhất là 3 ngàn bản, rồi sau đó in nối, đến lần thứ tư, thứ năm. Có những trường hợp đặc biệt như truyện tranh Doraemon, in từ 50 ngàn bản trở lên, hoặc bộ sách Kính Vạn Hoa của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh in từ 20 ngàn bản. Đó là giai đoạn hưng thịnh. Nhưng bây giờ mỗi cuốn, nhà xuất bản chỉ in dè dặt 2 ngàn bản là tối đa. Đối với tác phẩm tự in còn tệ hơn, các tác giả chỉ in khoảng 500 bản là nhiều, đủ để trả chi phí in ấn và tặng bạn bè là chính. Vậy các độc giả đã đi đâu về đâu? Xin thưa, giờ các em suốt ngày xem điện thoại, truyền hình, youtube, không màng đọc sách bởi muốn xem gì có ngay và ngôn ngữ CNTT không những đơn giản, dễ hiểu mà còn hấp dẫn. Cũng xin thưa rằng văn học không còn quyến rũ các em vì từ những năm học đầu đời, các chương trình văn, tiếng Việt khô cứng, giáo điều, khiến các em không tìm thấy niềm vui trong văn chương thì làm sao nuôi dưỡng thói quen đọc sách của các em. Không đọc thì không mua. Hệ lụy này kéo dài qua nhiều thế hệ. Bây giờ, ai cũng thấy được hậu quả này và cố tìm cách thay đổi, khuyến khích các em đọc sách, nhưng rất khó...
Thđại: Nói về chuyện đọc sách báo ở nước ngoài để tôi kể chị nghe câu chuyện giữa nhà phê bình văn học Đoàn Nhã Văn và chúng tôi. Cũng nhân một buổi trò chuyện văn chương như thế này, ông ấy bảo: “Văn chương Việt Nam không đi cùng, mà đi sau một khoảng cách xa lắm, đi sau không phải chỉ tài năng của người cầm bút, mà một phần không nhỏ còn ở người đọc”. Chị có ý kiến gì không về chuyện ĐỌC và VIẾT của dân tộc chúng ta?
KH: Quá đúng. Không nuôi thì làm sao lớn được. Không dưỡng làm sao khỏe mãi.
Thđại: Thưa chị, tôi nghĩ mình đã làm phiền rất nhiều những giờ phút quý báu của chị, vậy có lẽ xin phép được dừng buổi chuyện trò này nơi đây. Trước khi chào từ giã nhà văn, chị có điều gì cần bổ túc và cần nói với độc giả đã cùng chúng ta tham dự buổi trò chuyện này?
KH: Rất cảm ơn anh Triều Hoa Đại đã kết nối. Cảm ơn tạp chí Ngôn Ngữ đã dành đất cho tôi được nói lên tiếng lòng mình và vô cùng cảm ơn các bạn đọc đã lắng nghe.
Thđại: Cảm ơn nhà văn Kim Hài, quý độc giả và quý văn hữu đã theo dõi buổi nói chuyện này. Mong bình an, hạnh phúc mãi mãi ở cùng chúng ta.
Triều Hoa Đại
thực hiện
- Trò chuyện với nhà văn Kim Hài - Người gieo trồng những hạt mầm thiện lương, nhân ái và yêu thương Triều Hoa Đại Phỏng vấn
- Trò chuyện cùng nhà thơ & dịch giả Thiếu Khanh - Người miệt mài thủy chung cùng chữ nghĩa Triều Hoa Đại Phỏng vấn
- Trò Chuyện Với Nhà Văn Đặng Mai Lan: Người Lạ Người Quen Triều Hoa Đại Phỏng vấn
- Phạm Hiền Mây: Như Mây Bay Đi Triều Hoa Đại Phỏng vấn
- Nhà văn Ngự Thuyết - Đến với văn chương trễ nhưng không chậm Triều Hoa Đại Phỏng vấn
- Lưu Diệu Vân: “Kẻ phản giáo bất đắc dĩ” Triều Hoa Đại Phỏng vấn
- Chuyện Vãn Với Nhà Báo, Nhà Văn Vương Trùng Dương Triều Hoa Đại Phỏng vấn
- Thử Tìm Hiểu Văn Học Từ Bên Trong Và Bên Ngoài Tổ Quốc! Triều Hoa Đại Phỏng vấn
• Trò chuyện với nhà văn Kim Hài - Người gieo trồng những hạt mầm thiện lương, nhân ái và yêu thương (Triều Hoa Đại)
• Bùi Vĩnh Phúc - Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương: Mục Lục (Học Xá)
• Bùi Vĩnh Phúc: Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương - Vài nét về tác giả & tác phẩm (Ngôn Ngữ)
• Bùi-Vĩnh-Phúc-Thơ — Từ Thủ Pháp Đến Cảm Xúc (Trần C. Trí)
• Trò chuyện cùng nhà thơ & dịch giả Thiếu Khanh - Người miệt mài thủy chung cùng chữ nghĩa (Triều Hoa Đại)![]()
Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)
Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng, Quyển Hạ
Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)
Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)
Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)
Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)
Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):
Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)
Sách Xưa (Quán Ven Đường)
Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)
(Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)
Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)
Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)
Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?
(Trùng Dương)
Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)
Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục
Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến
Đặng Tiến
20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975
Nguyễn Văn Lục
Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)
Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)
Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)
Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)
Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)
Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)
Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)
Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)
Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)
Dương Quảng Hàm (Viên Linh)
Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)
Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)
Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)
Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)
Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)
Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)
Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn
Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)
Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)
Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)
Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)
Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)
Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)
Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh
(Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)
Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)
Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn
Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)
Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An
Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)
|
© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com) |