1. Head_

    Hoàng Trọng

    (.0.1922 - 16.7.1998)
    Ad-25-TSu-2301360532 Ad-25-TSu-2301360532

     

     

    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Trò chuyện cùng nhà thơ & dịch giả Thiếu Khanh - Người miệt mài thủy chung cùng chữ nghĩa (Triều Hoa Đại) Ad-25-TSu-2301360532 Ad-25-TSu-2301360532

      14-7-2026 | VĂN HỌC

      Trò chuyện cùng nhà thơ & dịch giả Thiếu Khanh - Người miệt mài thủy chung cùng chữ nghĩa

        TRIỀU HOA ĐẠI
      Share File.php Share File
          

       

      (đối thoại văn học do Triều Hoa Đại thực hiện)

      Nhà thơ và cũng là dịch giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng mà mọi người đã biết, chúng tôi rất vui mừng được tiếp xúc, chuyện trò cùng ông hôm nay, đó là: THIẾU KHANH, một người đã sống và “lăn lộn” ở trường văn, trận bút trên sáu mươi năm (60) có lẻ. Nhớ lại ngày ấy, một ngày đã xa, đã lùi khuất theo bóng nắng của thời gian, những bài thơ hay của ông mà chúng tôi đã được đọc ở tạp chí Thời Nay, và những bài thơ tình tôi viết cho Thu mối tình đầu cất dấu cũng thường xuyên xuất hiện ở tạp chí này lúc đó người phụ trách trang văn học là nhà thơ Hoài Thương anh vợ của thi sĩ Phạm Thiên Thư.


      Thế rồi, bẵng đi một thời gian xa khuất lạc mất nhau và giờ đây cũng nhờ vào cái duyên của chữ nghĩa chúng tôi lại được gặp nhau qua những dòng chữ này.


      Để bắt đầu cho câu chuyện xin dịch giả & nhà thơ Thiếu Khanh giới thiệu đôi chút về thân thế cũng như sự nghiệp của anh.


      Thiếu Khanh: Thưa anh Triều Hoa Đại. Cám ơn anh và tạp chí Ngôn Ngữ đã có nhã ý dành cho hai chúng ta cuộc trò chuyện này. Nhưng nói về “thân thế và sự nghiệp” thì nghe lớn lao quá. Thực ra tôi chưa làm được điều gì đặc biệt hay đáng kể để khoe với anh. Cho đến nay, có lẽ điều tôi có được nhiều nhất là... số tuổi. Tôi tuổi Nhâm Ngọ (1942), nhưng hồi nhỏ ở nhà quê loạn lạc trẻ con đi học trễ nên làm giấy Thế vì khai sanh ghi sụt một tuổi, 1943, để thi vào trường công lập. Quê tôi là Làng Bình Thạnh (có tên cổ thường gọi là La Gàn - có lẽ phiên âm của một từ gì đó tiếng Chiêm Thành chăng?) huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận cũ. Hiện nay tuy có hộ khẩu thường trú ở Quận 1, Sài Gòn, song gia đình tôi đang có một ngôi nhà nhỏ, tạm trú tại huyện Hóc Môn, vùng đất lịch sử của 18 Thôn Vườn Trầu xưa.


      Không kể Khơi Dòng, tập thơ in chung của ba tác giả: Thiếu Khanh, Thu Lâm và Nguyễn Thị Sinh, tại Canada năm 1968, tôi có in riêng được hai tập thơ, cách nhau gần 50 năm. Tác phẩm đầu tiên là Trong Cơn Thao Thức (nxb Da Vàng, Đà Nẵng, 1971), và tác phẩm thứ hai, Tình Ca Thiếu Khanh (nxb Nhân Ảnh, Hoa Kỳ, 2020.)


      Tôi cũng có dịch được một số tác phẩm thuộc nhiều thể loại từ tiếng Việt sang tiếng Anh và ngược lại, trong đó gồm thi phẩm của một số nhà thơ, và các tác phẩm fictionnon-fiction, cho một số nhà xuất bản trong nước. (Riêng với Công ty truyền thông Nhã Nam là nhiều nhứt, với 10 tựa sách).


      Ngoài ra, tôi có soạn một cuốn Từ Điển Cụm Từ Việt Anh (Vietnamese - English Phrase Dictionary) do nxb Trẻ xuất bản và giữ bản quyền (2005), và hiện nay sắp xong một cuốn Từ điển khác Từ Điển Phiên Dịch Việt Anh  - Vietnamese-English Translating Dictionary.


      Triều Hoa Đại: Theo tôi biết, trước khi là một dịch giả anh là một nhà thơ. Có người nói: “Thi sĩ là người quan sát thời gian, chiêm nghiệm bản ngã, đối thoại với đời và chính mình.” Theo anh điều đó có đúng không? Anh có ý kiến gì để bổ túc?


      TK: Thưa anh, dường như lời phát biểu trên thường được cho là của nhà thơ Nguyễn Duy trong nước, nhân ông đàm luận với bằng hữu trong những cuộc trà dư tửu hậu, và được bộc lộ nhiều trong tập thơ “Về” (1989) của tác giả. Không biết có phải không. Lời phát biểu của ông (nếu đúng vậy) là những nhận thức cá nhân của một thi sĩ đóng góp thêm vào lãnh vực này: xác định vai trò và trách nhiệm của thi sĩ trong cuộc sống. Vì từ hàng ngàn năm nay, sự hiện hữu của các thi sĩ và vai trò của họ đã được rất nhiều nhà tư tưởng, văn nhân, thi sĩ nổi tiếng trên khắp thế giới nhận định hoặc định nghĩa rất khác nhau.


      Cách nay gần một thế kỷ, vào khoảng đầu những năm 1930, thời kỳ Tự Lực Văn Đoàn ở nước ta ra đời, nhà thơ Xuân Diệu đã “định nghĩa”: “Là thi sĩ nghĩa là ru với gió / Mơ theo trăng và vơ vẫn cùng mây...” Nhưng ý tưởng này sau đó, vào khoảng đầu thập niên 1940, đã bị ông Sóng Hồng (tức Trường Chinh, về sau là Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam) gạt bỏ trong bài thơ “Là Thi sĩ" của ông ta, và gán cho thi sĩ một ý nghĩa tích cực hơn:


      (...)

      Là thi sĩ phải là hồn cao khiết,

      Chí kiên cường và sứ mệnh cao siêu;

      Ca tự do, tiến bộ với tình yêu

      - Yêu nhân loại, hòa bình và công lý -

      (...)


      Từ hàng ngàn năm trước, theo lời Plato, nhà tư tưởng nền tảng của truyền thống triết học phương Tây, ghi lại trong cuốn Apology, Socrates, nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã phát biểu: “Tôi đã quan sát các thi sĩ và nhận thấy họ là những người có tài năng làm kinh ngạc cả bản thân lẫn kẻ khác; họ tỏ ra thông thái và được người đời coi là thông thái, trong khi thực chất họ chẳng có gì là thông thái cá." (I examined the poets, and I look on them as people whose talent overawes both themselves and others; people who present themselves as wise men and are taken as such, when they are nothing of the sort.) Và bản thân Plato, người học trò của Socrates, dù rất ngưỡng mộ các thi sĩ, nhưng đã coi họ là những “người sáng tạo nguy hiểm của sự bắt chước” (dangerous creators of imitation), những kẻ chỉ chú trọng về mặt cảm xúc hơn là sự thật (focused more on emotions than on truth). Ông cho rằng thơ ca làm tha hóa tâm hồn, xuyên tạc các vị thần và cách xa thực tại ba bậc (that poetry corrupted the soul, distorted the gods, and was three steps away from reality.) Theo ông, nhà thơ chỉ là những kẻ si tình. “Khi tình yêu chạm đến, ai cũng trở thành thi sĩ” (At the touch of love everyone becomes a poet.) Và Plato thẳng tay xua đuổi các thi sĩ ra khỏi cái thành bang lý tưởng (ideal city-state) mà ông sáng tạo trong tác phẩm The Republic.


      Gần hai thế kỷ trước, Søren Aabye Kierkegaard (1813– 1855), nhà thần học, triết gia, thi sĩ, người Đan Mạch, được nhiều người coi là triết gia hiện sinh đầu tiên, thì hỏi: “Thi sĩ là gì?” và ông tự trả lời: “(Đó là) một người bất hạnh, giấu kín nỗi đau đớn sâu sắc trong lòng, nhưng đôi môi lại được tạo hình sao cho khi tiếng thở dài và tiếng khóc thoát ra, vang lên như một bản nhạc tuyệt vời.” ("What is a poet? An unhappy man who hides deep anguish in his heart, but whose lips are so formed that when the sigh and cry pass through them, it sounds like lovely music....")


      Dưới mắt William Shakespeare, thi sĩ, kịch tác gia vĩ đại của Văn học Anh thế kỷ 15, thi sĩ chỉ được xếp ngang hàng với kẻ điên, Thi ông nói: “Kẻ điên, người si tình và thi sĩ, tất cả đều được gói gọn trong trí tưởng tượng." (The lunatic, the lover, and the poet, are of imagination all compact) Chính Shakespeare cũng là một thi sĩ!

       

      Còn Gregory (Dale) Bear (1951 -2022), nhà văn viết tiểu thuyết khoa học giả tưởng người Mỹ, cho rằng: "Có thời, các thi sĩ là những pháp sư. Các thi sĩ mạnh mẽ, mạnh hơn cả chiến binh hay vua chúa — mạnh hơn cả những vị thần thiếu may mắn xưa kia.” (Once, poets were magicians. Poets were strong, stronger than warriors or kings - stronger than old hapless gods.)


      Theo Allen Ginsberg, nhà thơ và nhà văn người Mỹ (1926–1997): “Các thi sĩ bị người ta nguyền rủa... nhưng lại nhìn (mọi vật) bằng con mắt của các thiên thần.” (Poets are damned... but see with the eyes of angels.)

      Vân vân...


      Nhưng có người quan niệm thi sĩ là người có vai trò cực kỳ quan trọng. Trong một bức thư gởi cho người Thầy là Paul Demeny vào ngày 15 tháng 5 năm 1871, nhà thơ Pháp Arthur Rimbaud đã viết: "Le poète est donc vraiment voleur de feu." (Do đó, thi sĩ thực sự là kẻ trộm lửa.) Đây là sự liên tưởng trực tiếp đến hình tượng thần thoại Prometheus, người đã đánh cắp lửa (tức tri thức) của các vị thần để trao cho nhân loại.


      Trước đây từng có người nhận xét mỗi người Việt Nam là một thi sĩ, và hiện nay, có người nói Việt Nam là một “cường quốc thơ” nhưng từ sau khi đất nước thống nhứt, thi sĩ của cả hai phe thắng cuộc và thua cuộc đều hụt hẫng, ngơ ngác, khiến ta liên tưởng hình bóng hiu hắt của thi sĩ Tô Thùy Yên:


      Ta về một bóng trên đường lớn

      Thơ chẳng ai đề vạt áo phai.


      Triều Hoa Đại: Chuyện sinh hoạt văn học trong nước ngày nay thế nào? Tôi muốn nói đến sách, báo có được nhà nước cho phép phổ biến, in ấn có tự do. Nếu như có được thì cũng là điều nên làm bởi vì chúng ta ta đâu chỉ sống bằng cơm gạo, áo quần mà còn phải cần đến đời sống tâm linh, chữ nghĩa nếu không có văn chương đi cùng thì có khác gì con người chỉ là cái giá để mắc áo và cái bụng để đựng cơm anh nghĩ thế nào, và chính quyền theo anh họ có nghĩ như chúng ta không?


      TK: Thưa anh, mình không thể nói được Chánh quyền có nghĩ như mình hay không. Nhưng theo thông tin trên mạng Internet, chánh quyền có khoảng tám trăm tờ báo và các đài phát thanh, truyền hình khắp nước trong đó không có một tờ báo hay đài phát thanh hoặc truyền hình nào của tư nhân. Nắm trong tay một số lớn báo chí trên toàn quốc như vậy cho nên chánh quyền hoàn toàn có tự do báo chí. Chính quyền địa phương mỗi tỉnh hoặc thành phố đều có ít nhứt một nhà xuất bản. Và không có nhà xuất bản tư nhân nào. Tức là trong nước, chánh quyền tuyệt đối có tự do ngôn luận.


      Về phía người dân, họ chỉ có internet và các mạng xã hội. Đó là những ô cửa tinh thần mở ra thế giới, qua đó họ có được sự tự do tương đối nhìn ra và nhìn thấy thế giới bên ngoài. Chỉ là tương đối thôi, vì cả mạng Internet và các mạng xã hội, dù xuất phát từ các nước tự do, đều được theo dõi và kiểm soát cách này hay cách khác.

       

      Triều Hoa Đại: Lúc còn sinh thời nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có đưa ra ý kiến như thế này: "cần có thêm văn học trong nước, và văn giới hai nơi cần liên hệ gần gũi, trao đổi với nhau” anh có đồng ý như vậy không. Và, tại sao vì lý do gì mà văn giới chúng ta phải chờ đợi lâu và rồi còn phải chờ đợi thêm bao lâu nữa, nhà nước kêu gọi “hoà hợp, hoà giải” vậy nghĩa của “hoà hợp, hoà giải “ theo anh hiểu là gì?

       

      TK: Thưa anh Triều Hoa Đại, một ý kiến như thế không chỉ một nhà văn Nguyễn Huy Thiệp nêu ra. Hầu như không một người cầm bút nào có tâm huyết với nền văn học nước nhà mà không nghĩ tới. Nghĩ tới, hoặc có khát vọng là chuyện của người cầm bút trong và ngoài nước. Nhưng đã hơn 50 năm rồi mà “người bên ngoài” vẫn còn mơ chuyện “hòa hợp hòa giải” thì liệu có... lỗi thời không! Xin lỗi anh. Hơn nửa thế kỷ rồi. “Bên thắng cuộc” không chỉ đã thắng trên mặt trận quân sự, “đánh cho Mỹ cút ngụy nhào,” mà họ còn thắng thêm nữa về mặt văn hóa nghệ thuật: phát triển các mặt văn hóa nghệ thuật theo đường lối của Đảng mà không cần phải kêu gọi hòa hợp hòa giải gì cả. Vì biết thời gian đứng về phía mình, chánh quyền đã đủng đỉnh chờ... thời gian sẽ kéo “những người bên kia” về “hòa hợp” với họ mà bản thân họ không cần phải hòa hợp hòa giải với ai cả. Ai cần hòa hợp hòa giải với họ thì...về.


      Cỡ...phó tổng thống như Nguyễn Cao Kỳ đã xun xoe về với họ, thì họ còn cần phải hòa hợp hòa giải gì nữa, và với ai nũa? Những năm gần đây, giới biểu diễn giải trí hải ngoại đã lần lượt “hàng Tào."


      Từ cỡ đại thụ như Phạm Duy đến những ca sĩ kịch sĩ tầm tầm hay nổi tiếng khác. Đừng nói đó là những kẻ “xướng ca...” Đợt tị nạn Fº đã quá già, không còn được mấy người. Đợt F1 lớn lên đã hòa nhập vào văn hóa của cuộc sống mới, không còn hứng thú với “gu” thưởng ngoạn văn hóa của lớp cha mẹ. Càng ngày, thời gian kéo dài ra, giới nghệ sĩ càng không còn khán giả. Nghệ sĩ cũng cần ăn để sống như mọi người. Thực tế cuộc sống xô đẩy họ về nước kiếm ăn. Những anh chị nào không về hay chưa về chắc phải cảm thấy thời gian của mình sắp hết. Họ về để tự mình “hòa hợp và hòa giải” với chánh quyền. Nhưng quyền...được hòa giải hay không thì không nằm trong tay họ. Giới cầm bút hải ngoại chưa thấy mình sắp hết độc giả vì tác phẩm văn học không cần sân khấu chăng? Dù các anh chưa thấy hay không muốn thấy sự “phản bội” của thời gian, nhưng chánh quyền trong nước đã thấy từ lâu. Thế thì sao họ phải “hòa hợp hòa giải” với các anh chị cầm bút ở nước ngoài?


      Triều Hoa Đại: Đến đây tôi muốn hỏi anh về chuyện hội nhà văn ở trong nước anh có tham gia trong hội này không? nghe nói muốn được kết nạp vào hội thì khó như lên trời, có phải vậy không? Có người cho biết tỷ lệ được vào hội nhà văn Việt Nam nếu đem so sánh với một trường đại học danh tiếng như Cornell thì cũng chẳng khác gì bằng chứng là trong năm qua có chín trăm (900) đơn xin vào hội nhưng số nhà văn được kết nạp chỉ có sáu mươi ba (63) được nhận, nhưng trong số những “nhà văn” được hội kết nạp có những hội viên độc giả chẳng biết họ là ai, tài giỏi đến mức độ nào. Vậy theo anh cứ như cái đà này thì văn chương Việt Nam bao lâu nữa sẽ đi cùng và ngang bằng với văn chương thế giới? Và rồi văn chương Việt Nam sẽ đi đến đâu và về đâu?


      TK: Thưa anh Triều Hoa Đại, thực ra suốt 50 năm qua tôi chưa hề quan tâm đến chuyện này, nên không biết gì về các hoạt động của Hội nhà văn Việt Nam, dù 15 năm trước, có lần, hai lần, tôi được Hội Nhà Văn ở Hà Nội mời tham dự hai sự kiện quan trọng của họ, tuy tôi không phải là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, cũng không là hội viên của Hội Văn học Nghệ thuật Thành phố nơi gia đình tôi sinh sống. Lần đầu, năm 2010, với tư cách dịch giả tham dự một hội nghị quốc tế về quảng bá Văn học Việt Nam. Lần thứ hai, năm 2012, tham dự một Festival Thơ quốc tế. Cả hai lần đều tại Hà Nội. Sau hai lần đó, tôi không được mời nữa. Mà tôi cũng không có mong muốn trở thành một hội viên Hội nhà văn. Mọi hội đoàn đều là các tổ chức do nhà nước “nắm” để kiểm soát. Sao phải chui đầu vào làm gì?

       

      Tôi thấy trên mạng xã hội Facebook người ta nói có không ít kẻ tìm mọi cách chạy chọt thế nào đó để có được cái thẻ hội viên Hội nhà văn. Lại nghe nói có người đặt cái thẻ hội viên lên kiệu để rước về làng. Rồi, thậm chí họ còn làm tiệc lớn để khao cái thẻ đó. Những cách “hội viên hóa”...phi văn học như thế không biết để làm gì.


      Còn có người khác, tôi nghe nói, “nếu ai gợi ý ông ta xin vào Hội nhà văn ắt bị ông ta...mắng cho rát mặt.” Thì thôi, chín người mười ý vậy.


      Nền văn học Việt Nam có ngang bằng với văn học thế giới hay không, hay sẽ đi đến đâu, về đâu, đều không liên quan gì đến chuyện người viết có vào Hội nhà văn hay không.


      Triều Hoa Đại: Cũng vẫn chuyện dài về hội nhà văn nhiều người đưa ra quan niệm:” Đừng quan tâm đến chuyện được kết nạp vào hội mà hãy nên xem thơ văn của mình có được độc giả đón nhận, đánh giá chất lượng của tác phẩm, chứ không phải cái danh là hội NHÀ VĂN. Ý kiến của anh?


      TK: Thưa anh, đúng thế. Đâu phải người cầm bút phải vào Hội nhà văn mới sáng tác được, hoặc tác phẩm mới được bảo đảm giá trị. Anh muốn viết, chỉ cần trải giấy ra, cầm bút lên là viết được thôi. Dù bây giờ có thể không dùng giấy bút nữa mà dùng máy tính thì máy tính cũng không đòi hỏi phải có hội đoàn.


      Cái làm nên nhà văn là tác phẩm, chớ đâu phải cái thẻ hội viên Hội nhà văn! Tôi có biết một số nhà văn cứ lặng lẽ sáng tác và tự xuất bản theo cách của mình mà không cần phải là hội viên gì cả. Nhà văn Nguyễn Viện, chẳng hạn, nghe nói năm năm qua anh viết và tự in đều đều mỗi năm một tiểu thuyết. Dường như chưa có một hội viên Hội nhà văn nào có được bút lực như vậy.


      Thời Liên xô các nhà văn có samizdat (tiếng Nga, hình thức tự xuất bản). Ngày nay, nếu không in được trong nước, vẫn có thiếu gì cách để xuất bản tác phẩm của mình ở nước ngoài. Không phải ngay từ thời đó, Bác sĩ Zhivago của Boris Pasternak được in ngoài nước Nga – ngoài Liên xô - và được trao giải Nobel Văn chương đó sao?


      Một nhân tố quan trọng giúp khẳng định sự có mặt của một nhà văn là số độc giả của họ. Văn hay đương nhiên là có người đọc, nhưng dù sao giữa nhà văn và người đọc cũng cần có một chiếc cầu nối chớ không thể theo lẽ nhà văn cứ “hữu xạ” thì “tự nhiên hương.” Chiếc cầu nối đó là giới phê bình văn học. Nhưng trên diễn đàn văn học Việt Nam trong nhiều thập niên qua dường như chưa hề có một nền phê bình văn học đúng nghĩa. Có lẽ chỉ có những người giám sát, mà từ cũ gọi là “ngự sử văn đàn” canh giữ sao cho mọi tác phẩm văn học luôn nằm dưới một lằn ranh đỏ nào đó. Thỉnh thoảng có tác giả nào cố gắng vươn tới (cái gọi là) “gần sự thật” một chút, lập tức bị nhiều người xúm vào “đánh hội đồng” cho tơi tả. Bảo Ninh với tiểu thuyết Nỗi Buồn Chiến Tranh là một ví dụ, dù trong đó tác giả có vẻ “lấy lòng phe ta,” vẽ ra cảnh “lính ngụy ăn thịt người.”


      Dường như sự vắng mặt các nhà phê bình văn học là một trong số các nguyên nhân khiến nhiều người Việt Nam không thích đọc sách. Họ không được kích thích để đọc. Thấy tin trên báo nói trung bình mỗi người Việt một năm đọc 4 cuốn sách mà 2,8 cuốn trong đó là sách giáo khoa. Lại có một thống kê nào đó nói một người Việt Nam mỗi năm đọc 0,5 cuốn sách văn học. Điều này có lẽ phản ảnh trong số lượng bản in của tác phẩm. Thường thì một tác phẩm được in ra vài trăm bản, một số dành tặng thân hữu. Có lẽ họa hoằn lắm mới có một tác phẩm có được tirage 1000 bản. In ít nên giá thành cuốn sách tăng cao quá, càng không khuyến khích người đọc. Không khí văn học cứ bình bình. Và người ta đang trông chờ một giải Nobel văn chương.


      Nhưng trên đây chỉ phản ảnh sự hiểu biết rất hạn chế và có thể nông cạn của một người “ngoại đạo” - một dịch giả, không phải trong giới sáng tác văn học.


      Triều Hoa Đại: Những lúc gần đây trong họ ngoài làng xôn xao về chuyện AI viết văn, làm thơ như vậy trong tương lai gần các nhà văn, nhà thơ của chúng ta hoá ra bỗng dưng trở thành thất nghiệp, anh có cho rằng đấy là một vấn nạn?


      TK: Thưa anh, gần đây tôi cũng nghe chuyện có tác phẩm của một tác giả được giải thưởng, và độc giả phát hiện tác phẩm được viết bằng Al. Tôi rất ngạc nhiên. Bởi tôi rất bận với công việc của mình, không có nhu cầu và trải nghiệm với AI, nên rất mù mờ về chuyện này. Không ngờ khoa học đã (?) có thể thay thế hẳn hoạt động của trí óc con người. Tuy vậy, tôi không băn khoăn việc “nhà văn nhà thơ chúng ta bỗng dưng (có thể) trở thành thất nghiệp,” mà có nỗi lo khác. Nếu khoa học tiến nhanh và xa như thế, chẳng mấy chốc nữa trí khôn nhân tạo sẽ vượt qua trí óc con người. Không chỉ việc nhân loại có thể bị máy móc thống trị mà, cái đáng sợ hơn, trong tương lai rất gần, con người sẽ có thể sử dụng các sản phẩm AI ghê gớm để thống trị và kiểm soát đồng loại gắt gao hơn.


      Triều Hoa Đại: Chắc anh thường xuyên theo dõi “bước chân” của anh, chị em viết văn và làm thơ ở trong nước và hải ngoại vậy anh đã đọc những ai ở trong nước và những tác giả nào ở bên ngoài tổ quốc? Và vì lẽ gì mà anh lại đọc họ? Và nhận xét của anh?


      TK: Thưa anh Triều Hoa Đại, tôi thật xấu hổ thú nhận rằng do một hoàn cảnh riêng, từ nhiều năm nay tôi chỉ chúi đầu vào công việc kiếm sống, nên ngoài những nguồn tư liệu tham khảo cụ thể cần cho công việc, tôi không đọc được gì nhiều về tác phẩm sáng tác văn học, cả trong và ngoài nước; hoặc tôi chỉ đọc được rất lõm lõm. Vì vậy, tôi xin phép không dám nói gì về chuyện này. Tôi nhận được rất nhiều sách biếu của bằng hữu – hầu hết từ trong nước, vì thuận tiện hơn. Tôi rất cảm kích nhã tình của các bạn, nhưng đã phải nhiều lần tạ lỗi vì rất phụ lòng yêu mến của người tặng sách.


      Về tác phẩm của các nhà văn sống ở nước ngoài, tôi chỉ thấy được tên sách của họ trên mạng Internet.


      Triều Hoa Đại: Được biết anh đang thực hiện một cuốn tự điển Việt Anh và cuốn từ điển ấy đã có một độ dày kinh khủng: ba ngàn bẩy trăm trang (3700) thể thì cuốn tự điển ấy khi nào sẽ hoàn thành, cũng tiện đây xin được hỏi anh là anh khởi công biên soạn cuốn tự điển tự khi nào tổng cộng số tháng năm để có cuốn tự điển này?


      TK: Thưa anh, chuyện này là do nhu cầu thực tế của công việc thúc đẩy. Là một dịch giả, thỉnh thoảng tôi đụng đầu với một số khó khăn không có sẵn những từ tương đương và chính xác trong tiếng Anh cho một từ hay một cụm từ (phrase) mô tả một khái niệm nào đó trong tiếng Việt. Một phần là do sự khác biệt văn hóa. Phần khác, có thể những từ đó vốn có trong tiếng Anh mà mình chưa biết. Trước đây có một cô phóng viên đã trực tiếp hỏi tôi, cụ thể những từ tiếng Việt mà tôi bị “bí” khi dịch sang tiếng Anh đó là gì, nhưng nhất thời lúc đó tôi không nhớ. Đó là, ví dụ, những từ “giang hồ,” “bạn giang hồ,” “khách thương hồ,” vân vân.


      Có lần có một dịch giả nổi tiếng trong nước đã dễ dãi dịch từ “bạn giang hồ” là “friends of rivers and lakes” khiến mạng xã hội Facebook xôn xao.


      Lại có người dịch trái thanh long là “dragon fruit,” cây chuối cô đơn là “lonely banana", vân vân, mà không biết rằng các cây trái đó vốn đã có từ tiếng Anh để gọi. Sự “đặt tên mới” như thế không những là không cần thiết mà còn làm rối trí và gây nhận thức sai lạc cho người đọc. Do đó, tôi muốn làm một cuốn từ điển cho chính mình tham khảo khi cần, và giúp những người muốn dịch sang tiếng Anh một cách chính xác theo cách nói/viết của người bản ngữ, chớ không phải mang phong cách tiếng Việt, hay thứ tiếng Anh theo cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt.


      Sau khi nhà xuất bản TRẺ in (và giữ bản quyền) cuốn Từ Điển Cụm Từ Việt Anh của tôi (năm 2005), tôi bắt đầu vừa làm việc dịch thuật hàng ngày, vừa đặt kế hoạch cho một cuốn Từ Điển Phiên Dịch Việt Anh. Từ đó đến nay 21 năm, và cuốn sách với 3700 trang bản thảo trên máy tính đã xong phần soạn thảo. Tôi đang trong giai đoạn đọc lại bản thảo và cố gắng rút ngắn bớt số trang.


      Sở dĩ tôi mất nhiều thời gian như thế là vì tôi làm việc một mình, vừa dịch thuê kiếm sống, về sau vừa chăm sóc nhà tôi điều trị bịnh một thời gian dài nhiều năm. Nhiều lúc tôi phải mang laptop vào bịnh viện để làm việc vào ban đêm vừa tiện chăm sóc nhà tôi.


      Hiện nay nhà tôi đang trong quá trình bình phục, tuy người còn yếu, và vừa trải qua một đột quỵ nhẹ.


      Có người lo lắng cho tôi vì thấy Google Dịch đã khá tốt, e rằng cuốn Từ Điển của tôi sẽ bị ...lỡ tàu mất. Nhưng tôi vẫn lạc quan, vì bản thân tôi trực tiếp tiếp xúc với việc dịch thuật, nhận thấy cho đến nay Google Translate chỉ “xử lý” được những câu văn bình thường, dịch nghĩa của từ, ví dụ Google Translate dịch: “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây" = when eating fruit, remember the one who planted the tree. Cách dịch từ ngữ đó không phù hợp với cách nghĩ và biểu đạt của người Anh-Mỹ, nên “đối tượng” sẽ thấy ngô nghê và không lãnh hội được ý nghĩa thực sự từ ngôn ngữ nguồn. Khi nhu cầu dịch là chuyển được ý của lời tiếng Việt mang tinh thần văn hóa Việt sang tiếng Anh trong tinh thần văn hóa Anh như một người bản ngữ, đó sẽ là chỗ “sở dụng” của Từ Điển Phiên Dịch Việt Anh.


      Triều Hoa Đại: Anh, chị em văn giới nhiều người nói nhỏ với tôi Thiếu Khanh là một người rất đa tài và uyên bác; chẳng thế mà chuyện gì anh cũng chuyên trị được tất tần tật như: làm thơ, tiểu thuyết, dịch thuật, viết sách về y khoa, viết về lịch sử và chính trị ..v..v... Họ gọi anh là ĐẠI GIA bởi vì anh là người có rất nhiều”NHÀ”, nào là nhà thơ, nhà dịch thuật, nhà văn ...v...v... Thế thì trong những “cái nhà” ấy anh tâm đắc nhà nào và anh muốn được gọi anh là nhà gì?


      TK: Thưa anh, tôi tưởng những từ “nhà thơ” hay “dịch giả” dành cho tôi đã là quá nhiều rồi. Tôi không có học hành hay được đào tạo để làm nhà thơ hay để trở thành dịch giả. Làm thơ là chuyện tình cờ tập tành từ hồi còn trẻ, không qua trường lớp nào. Còn dịch thuật chỉ là do đói thì đầu gối phải bò. Tôi làm công việc dịch thuật này cũng như trước đó, sau năm 1975, tôi đã từng làm nông dân 12 năm trên rừng núi Phương Lâm tỉnh Đồng Nai, rồi bán hàng rong hay dạy học trên cao nguyên Lâm Đồng 12 năm nữa, để nuôi sống bản thân và gia đình. Chẳng qua "gặp thời thế thế thời phải thế.”

       

      Về Y Khoa, tôi chỉ dịch vài cuốn sách thôi, chớ không viết sách trong lãnh vực này. (Có biết gì đâu mà viết!) Đó là khoảng thời gian tối mới đưa gia đình từ trên cao nguyên Lâm Đồng trở về thành phố vào năm 2000, chính thức bắt đầu công việc dịch thuật như một nghề kiếm sống. Anh Vũ Minh Tân, một người làm “làm sách” có tiếng ở Sài Gòn, có biết tôi trước đó, giới thiệu tôi với bác sĩ Lê Hồng Hà, một giảng viên Đại Học Y Dược ở thành phố. Chị Hồng Hà cần tìm một dịch giả giúp chị dịch cuốn sách Essentials of Mechanical Ventilation (Những Vấn Đề Thiết Yếu Trong Thông Khí Cơ Học) của các tác giả tiến sĩ Y Khoa chuyên gia về hô hấp: Dean R. Hess, và Robert M. Kacmarek, (Đại học Harvard, Hoa Kỳ) để làm giáo trình giảng dạy tại Đại học Y khoa. Đó là một cuốn sách về thiết bị hô hấp (máy thở) và quy trình thở máy. Sau khi xem qua cuốn sách dày khoảng 450 trang, tôi nhận lời với điều kiện chị Hà giúp tôi về các danh từ chuyên môn. Đương nhiên không nói chị Hà cũng giành lấy phần đó. Và chị làm thật tốt, khiến các bác sĩ trong ngành đọc cuốn sách dịch không thấy lấn cấn gì. Trong lời giới thiệu cuốn sách dịch, PGS, Tiến sĩ Đặng Vạn Phước, Phó Giám Đốc Bịnh viện Chợ Rẫy, kiêm Khoa Trưởng Khoa Y Đại học Y Dược Tp. HCM viết: “Chúng tôi rất hoan nghênh cố gắng của Bác sĩ Lê Hồng Hà và GV Nguyễn Huỳnh Điệp, đã lựa chọn và biên dịch rất công phu cuốn sách này.”

       

      Thời đó, tôi nghĩ chuyện dịch thuật này là cái “cần câu cơm” nhất thời, không liên quan gì đến văn nghệ văn gừng, nên ký tên thật thay vì bút hiệu TK. Vị Phó giáo sư tưởng tôi cũng là một giảng viên Y Khoa như chị Hồng Hà!


      Khoảng 20 năm sau, anh Vũ Minh Tân tiết lộ trên Facebook: trước tôi, anh ấy đã nhờ vài dịch giả chuyên nghiệp khác, nhưng ai cũng “ngại chuyện y khoa” nên không ai nhận lời. Tôi giật mình: hóa ra mình điếc không sợ súng!


      Ngoài các tác phẩm dịch theo hợp đồng của các nhà xuất bản, trong số những thứ tôi dịch thuê cho những người “thuê miệng” (không hợp đồng) có một cuốn sách y khoa nữa mà một người “bạn mới quen” ở thành phố, thuộc “type” trí thức, chỉ trả cho tôi một triệu rưỡi đồng (= 20% tiền công thỏa thuận), nhưng cuốn sách thì...cha anh ta, một bác sĩ lão thành, “biên tập” và đứng tên mình là dịch giả. Thôi kệ. Nhưng từ đó tôi không gặp anh ta nữa, và quên tên anh ta luôn.


      Triều Hoa Đại: dự tính cho những ngày kề cận ngoài cuốn tự điển VIỆT ANH sắp sửa trình làng anh còn có những tác phẩm nào khác để giới thiệu cùng độc giả và bạn văn?


      TK: Thưa anh, vào những năm tuổi ngoài 70 trước đây, trong bài thơ Trò Chuyện Từ Xa Với Thi Sĩ Luân Hoán, tôi có viết:


      Người xưa bảy chục là hiếm lắm

      Nhiều vị quân vương chỉ hưởng dương

      Chúng mình đang sống phần khuyến mãi

      Dù chẳng là vua cũng chẳng buồn...


      Tôi cùng tuổi Ngựa với anh, anh biết rồi đó. Chúng ta chỉ còn cách mốc giới trăm năm có mười lăm năm nữa thôi. Sau khi xong cuốn Từ Điển này, tôi dành thì giờ còn lại để đọc cho hết số sách bằng hữu đã có hảo ý tặng mình, và chăm sóc nhà tôi, tuổi cũng đã ngoài 80, thật tốt. Hẹn với nhau rằng cô ấy sẽ đi trước, tôi đi sau, để tránh cho cô ấy khỏi đau khổ với cảm giác bị bỏ lại bơ vơ. Dù các con rất yêu mẹ, nhưng vợ chồng mất nhau ở tuổi đó người còn lại dù sống với các con cũng không khỏi cảm thấy lẻ loi và lạc lõng, anh nhỉ.

       

      Triều Hoa Đại: Thưa anh Thiếu Khanh rất vui được cùng anh trò chuyện và cám ơn anh đã dành cho tôi một khoảng thời gian khá dài để hai ta cùng hàn huyên chuyện ngắn, chuyện dài.

      Kính chúc anh chị thân vạn sự CÁT TƯỜNG thân tâm AN LẠC.


      TK: Một lần nữa, tôi cũng cám ơn anh Triều Hoa Đại và tạp chí Ngôn Ngữ cho chúng mình có dịp tâm sự với nhau.

      Kính chúc anh và gia đình, mọi người thường tâm lạc, thân an và mọi điều thuận lợi.


      Thiếu Khanh.

      Triều Hoa Đại thực hiện

      Triều Hoa Đại

      Nguồn: Ngôn Ngữ số 44 | 1 Tháng 7 Năm 2026
      Tạp Chí Văn Học Nghệ Thuật

      Ad-22-A_Newest-Feb25-2022 Ad-22-A_Newest-Feb25-2022


      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Trò chuyện cùng nhà thơ & dịch giả Thiếu Khanh - Người miệt mài thủy chung cùng chữ nghĩa Triều Hoa Đại Phỏng vấn

      - Trò Chuyện Với Nhà Văn Đặng Mai Lan: Người Lạ Người Quen Triều Hoa Đại Phỏng vấn

      - Phạm Hiền Mây: Như Mây Bay Đi Triều Hoa Đại Phỏng vấn

      - Nhà văn Ngự Thuyết - Đến với văn chương trễ nhưng không chậm Triều Hoa Đại Phỏng vấn

      - Lưu Diệu Vân: “Kẻ phản giáo bất đắc dĩ” Triều Hoa Đại Phỏng vấn

      - Chuyện Vãn Với Nhà Báo, Nhà Văn Vương Trùng Dương Triều Hoa Đại Phỏng vấn

      - Thử Tìm Hiểu Văn Học Từ Bên Trong Và Bên Ngoài Tổ Quốc! Triều Hoa Đại Phỏng vấn

    3. Bài viết về nhà văn Thiếu Khanh (Học Xá) Ad-31 Ad-31 = QC_250-250 (Học Xá)

       

      Bài viết về Thiếu Khanh

       
      Cùng Tác Giả (Link-1)

      Trò chuyện cùng nhà thơ & dịch giả Thiếu Khanh - Người miệt mài thủy chung cùng chữ nghĩa (Triều Hoa Đại)

      Thiếu Khanh - Một Bài Thơ Bị-Lãng-Quên (Trần Trung Thuần)

      - Thiếu Khanh qua bà Nguyễn Thị Kim Anh (Vuông Chiếu)

      - Về nhà thơ, dịch giả Thiếu Khanh (Như Không)

      - Bình Thơ Thiếu Khanh (Trần Vấn Lệ)

      - “Tam Khanh” của Bình Thuận (Lê Ngọc Trác)

      - Phỏng vấn Thiếu Khanh (art2all.net)

      - Với nhà thơ, dịch giả Thiếu Khanh (Nguyễn Trọng Tạo)

       

      Tác phẩm của Thiếu Khanh

        Cùng Tác Giả (Link-2)

      Trường Ca Việt Nam (Thiếu Khanh)

      Xúc động đọc "Thưa Mẹ" của Phương Tấn

      (Thiếu Khanh)

      Ưu thế của chữ quốc ngữ đối với chữ vuông biểu ý (Thiếu Khanh)

      Người xưa không cho như thế là “đạo văn”

      (Thiếu Khanh)

      - Bài tình ca Hậu Nghĩa

      - Một Chút Giao Tình Với Trần Công Nghị

      - Lan Man về Từ Kỵ Húy Và Ngôn Ngữ Của Người Nam Bộ

      - Dịch và giới thiệu văn học cổ Việt Nam: Những điều bất cập.

      - Facebook

       

         Bài trên mạng:

      - vietvanmoi.fr

      - vanviet.info      - thivien.net

       

      Bài Viết về Văn Học (Học Xá)

       

      Bài viết về Văn Học

        Cùng Mục (Link)

      Bùi-Vĩnh-Phúc-Thơ — Từ Thủ Pháp Đến Cảm Xúc (Trần C. Trí)

      Trò chuyện cùng nhà thơ & dịch giả Thiếu Khanh - Người miệt mài thủy chung cùng chữ nghĩa (Triều Hoa Đại)

      Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc: Lời Tựa (Hoàng Văn Chí)

      Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc: Muc Lục (Hoàng Văn Chí)

      Giữa Cảm Nhận Và Phê Bình: Khoảng Trống Của Mỹ Học Văn Chương (Uyên Nguyên)


       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

       

      Văn Học Miền Nam (Học Xá) Văn Học (Học Xá)

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Danh Mục Tác Giả: Cùng Chỉ Số (Link-2) Aí Điểu,  An Khê,  Andrew Lâm,  Andrew X. Phạm,  Au Thị Phục An,  Bà Bút Trà,  Bà Tùng Long,  Bắc Phong,  Bàng Bá Lân,  Bảo Vân,  Bích Huyền,  Bích Khê,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Bích Hà,  

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)