1. Head_
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Tại Sao Tôi Làm Ký Giả Thể Thao...? (Huyền Vũ)

      26-6-2014 | VĂN HỌC

      Tại Sao Tôi Làm Ký Giả Thể Thao Rồi Trực Tiếp Truyền Thanh?

       HUYỀN VŨ

      "Nhà Báo Nói" Huyền Vũ (Ký giả Lô Răng)
      Ký Giả Huyền Vũ Với Người Sài Gòn (Văn Quang)
      Huyền Vũ: Tiếng Nói Của Bóng Đá Việt Nam Đã Tắt (Phạm Trần)


           Ký giả Huyền Vũ (1914-2005)

      LTS - MỘT số anh em làm báo, viết văn trên vùng Hoa Thịnh Đốn tổ chức "Ngày Huyền Vũ" vào ngày 28-8-99 nhằm nhắc lại những công lao của lão ký giả Huyền Vũ đối với nền thể thao miền Nam trước đây nói chung và bộ môn bóng tròn nói riêng... nhất là qua bao năm làm công việc trực tiếp truyền thanh các trận túc cầu làm say mê đồng bào miền Nam ra cả ngoài Bắc (nghe lén).

      Nhân dịp này, để gửi lời chào mừng của toàn ban Biên tập Ngày Nay đến "lão huynh" Huyền Vũ, nay đã 84 tuổi(*), hiện cư ngụ trên vùng Virginia, Ngày Nay xin đăng tải một số bài viết của các thân hữu cũng như đăng lại một số kỷ niệm xưa do chính ông viết trong hồi ký "Tôi Làm Ký Giả Thể Thao" do Hoa Thịnh Đốn xuất bản năm 1987.

      I. Tập tễnh vào làng báo


      Chúng tôi không hiểu tại sao chúng tôi lại thích viết báo. Và chúng tôi đã bắt đầu viết những tin nho nhỏ tại địa phương cho một vài nhật báo ở Saigon.


      Cũng nên nói rõ hơn, năm đó là năm 1936 và địa phương là Phan Thiết, một thành phố trù phú miền Trung về phía cực Nam, tiếp giáp với miền Nam (Xuân Lộc, Biên Hòa rồi Saigon).


      Phan Thiết là thị xã của tỉnh Bình Thuận (sau này cộng sản đổi lại là Thuận Hải) mà nguồn lợi chánh là hải sản và nghề làm nước mắm. Nước mắm Phan Thiết phải biết là nổi tiếng, nhứt là nước mắm nhỉ có "óc trâu" (như cuộn chỉ nhỏ màu xa cừ, chứng tỏ có nhiều chất cá).


      Thời ấy tại Việt Nam chưa có trường dạy làm báo. Người ký giả bước vào nghề bằng lối cửa của chính mình, nghĩa là tự mình trao dồi lấy để thăng tiến. Vì làm ký giả lúc ấy không đòi hỏi tiêu chuẩn, do đó đã có những người không xứng đáng phần tài đức làm hoen ố ngành làm báo, ngành được kính nể.


      Thông tín viên địa phương được đánh giá bằng tấm thẻ có dán ảnh do nhà báo cấp, sau thời gian cộng tác, để từ đó có thể trở thành ký giả chuyên nghiệp.


      Chúng tôi bắt đầu bằng cộng tác với tờ Zân Báo của anh Võ Khắc Thiệu, tờ Trung Lập của anh Bùi Thế Mỹ. Nhưng sau thời gian làm "ký giả tài tử" qua nhiều biến cố, mãi đến năm 1950 chúng tôi mới thật sự sống về nghề viết lách.


      Chọn bút hiệu


      Tên thật của chúng tôi là Nguyễn Ngọc Nhung. Tuổi: sinh năm Ất Mão (1915).


      Từ Cao Miên về vào năm 1948 để lo cho phần học vấn của các con, năm 1950 chúng tôi và một nhóm bạn trẻ khác trong số có Lê Văn Sâm cây viết chuyện ngắn nổi tiếng miền Nam thời ấy - Hoàng Tấn, Việt Quang... viết cho nhà xuất bản Nam Việt của anh Đinh Xuân Hòa. Chúng tôi chia nhau viết loại chuyện vừa vừa đăng trọn một tập sách nhỏ kiểu như loại "Sách Hồng" của Pháp.


      Còn nhớ, các bạn khác chỉ cần viết mỗi tháng ba tập ($500x3=l.500$ thời bấy giờ) là đủ cho cuộc sống độc thân. Chúng tôi vì có gia đình nên phải viết nhiều hơn, những 6 tập (tức 3.000$). Ngoài những chuyện thường, dưới bút hiệu Xuyên Sơn (Sông, Núi), chúng tôi còn viết những chuyện về trinh thám và lấy bút hiệu HUYỀN VŨ. Đây cũng là bút hiệu chúng tôi dùng để ký cho những kịch vui ngắn đăng hằng tuần trên báo Saigòn Mới (của anh chị Bút Trà) và tuần báo Tiếng Chuông (của anh Đinh Văn Khai).


      Vấn đề chọn bút hiệu, thời ấy, hầu như dã thành cái "Mốt" cho phần dông các ký giả và văn gia. Không muốn cho người khác biết mình là ai-có khi vì cái tên "cúng cơm" không được vừa ý lắm mà bút hiệu có vẻ "óng chuốt" hơn lại khơi được sự hiếu kỳ của người đọc để tìm biết tác giả- nên ký giả và nhà văn ký bằng bút hiệu được chọn.


      Có bút hiệu lạ lùng không có trong quốc ngữ Việt như TCHYA, về sau được biết là lối ghép những chữ đầu cửa "Tôi Chưa Hề Yêu Ai". Có bút hiệu ghép tên sông núi của địa phương mình đã sinh ra như của anh Nguyễn Đức Nhuận, chủ nhiệm nhật báo Saigon Mới. Anh Nhuận sinh ra ở Quảng Ngãi. Tỉnh của anh có núi, sông nổi tiếng. Núi là núi Thiên Bút, sông là sông Trà Khúc, nên anh chọn bút hiệu Bút-Trà.


      Chúng tôi sinh ra tại Phan Thiết. Tỉnh Bình Thuận của chúng tôi nằm về phần cuối của dãy Trường Sơn, cũng có sông, có núi. Nhưng sông, núi nơi chúng tôi sinh ra mang những tên không óng chuốt lắm. Sông có tên là sông Cà Ty -trên bản đồ là Sông Mương Mán- núi là núi Tà Cú ở phía Nam và Tà Vôn ở phía Bắc (đường đi Di Linh). Tên của sông núi này ghép lại không làm đẹp cho bút hiệu, nên chúng tôi chọn Xuyên Sơn (cũng sông, núi chứ không phải là Xuyên Sơn Thử hay Xuyên Sơn Giáp) làm bút hiệu.


      Nhiều bạn hỏi lý do nào khiến chúng tôi chọn bút hiệu Huyền Vũ. Chúng tôi cho biết đó là tên một vì sao trong số 28 vì sao chánh, đi đến đâu là có sự đổi mới đến đó. Thích nên chúng tôi chọn bút hiệu này.


      Khi trở thành ký giả thể thao, để phong phú hóa ngữ vựng thể thao chúng tôi đã dịch và đem dùng trong văn chương thể thao Việt Nam những danh từ thể thao của Pháp như "cơ hội bằng vàng", "mở tỷ số", "trong mấy phút phù du", "quân bình tỷ số", "san bằng cách biệt", "chạm trán", v.v... và những từ ngữ về chiến tranh để thêm phần dũng mãnh.


      Căn cứ vào bút hiệu Huyền Vũ, một hôm anh giám đốc hãng xe hơi Kim Long, trong một bữa ăn gia đình tại biệt thự của anh, chị Trần Giáp (một thể thao gia đất Thần kinh) đã hỏi:

      - Có phải anh là Bắc kỳ cũ?


      Chúng tôi ngạc nhiên, hỏi lại:

      - Tại sao?

      - Tại người miền Nam không dùng chữ Vũ (thường dùng chữ Võ) và giọng đọc của anh trên đài cả lối dùng chữ, người Nam nghe cũng hiểu, người Bắc nghe cũng hiểu.


      Chúng tôi cười:

      - Tôi không là Bắc kỳ cũ, cũng không phải hoàn toàn người Nam. Tôi là người Trung, người Phan Thiết, tóm lại là người Việt Nam.


      Năm 1937, chúng tôi có viết một chuyện dài trinh thám dưới bút hiệu Xuyên Sơn -nay không còn nhớ nhan đề là gì nữa!- cho nhà xuất bản Tân Việt ở Hà Nội. Quyển chuyện trinh thám này có đoạn đã nói đến "Lầu Ông Hoàng" ở Phan Thiết. Đây là một dinh thự đầy đủ tiện nghi tân thời do công tước De Montpensier của Pháp xây cất thời đệ nhất thế chiến trên một đỉnh đồi lộng gió ở Phú Hài, nhìn ra biển Nam Hải. Nhà xuất bản này nhờ chúng tôi viết giúp mỗi tháng một quyển với số tiền bản quyền là hai mươi đồng. Nhận thấy thù lao không xứng với công nên chúng tôi từ chối.


      Loại sách nhỏ của nhà xuất bản Nam Việt thọ không lâu nên năm 1951 khi Bộ Quốc Phòng (ở số 63 đường Gia Long) cần một chủ bút cho bán nguyệt san Chiến Sĩ, chúng tôi được Đại tá Nguyễn Văn Ra mời vào cộng tác với cấp bực chuẩn uý đồng hóa. Hai năm sau chúng tôi sang hiện dịch.


      Trong sự "trả giá" để vào phục vụ trong quân đội, với tư cách một ký giả, chúng tôi đã yêu cầu được đồng hóa với cấp bực thiếu uý, và không phải mặc quân phục khi làm việc. Đại tá Ra chấp nhận điều sau và cho biết quyền hạn của ông chỉ được tuyển dụng với cấp bực, tối cao là chuẩn uý. Và ông đã dành cho chúng tôi mức tối đa này. Chúng tôi đành bằng lòng. Nhưng rồi về sau, điều thứ nhì đã được chấp nhận vẫn không giữ được. Vì đã là "lính" là phải mặc "nhung y".


      Lúc ấy Trung uý Cao Văn Viên phục vụ ở phòng Tư Bộ Quốc Phòng (sau này là đại tướng), Thiếu uý Nguyễn Hữu Có vừa tốt nghiệp trường Võ bị Đà Lạt về (sau này là đại tướng), Thiếu úy Ngô Đức Khắc ở phòng Báo chí (sau này là đại tá).


      Ngẫu nhiên cùng hôm chúng tôi "Vào Lính" tại Bộ Quốc phòng còn có chuẩn uý khác là Đặng Trần Lợi, Phan Quang Bổng và Trần Quang Nghĩa, bộ tư chúng tôi gồm hai Trung, hai Bắc. Bổng người Quảng Ngãi, chúng tôi người Phan Thiết, Lợi và Nghĩa người miền Bắc.


      Lợi cùng chúng tôi đặc trách nguyệt san Chiến Sĩ. Về sau, Bổng giải ngũ, sang làm Giám đốc Thông tin. Nghĩa chọn việc đi đánh trận, và đã hy sinh trên chiến trường Hưng Yên.


      Tờ Chiến Sĩ phát hành mỗi tháng hai số, phát không trong quân đội. Lợi (sau này là Trung tá Quân nhu) làm quản lý trông nom việc ấn loát và phát hành. Chúng tôi lo phần bài vở và nội dung tờ báo. Trung uý Lân (sau là Chuẩn tướng) là cộng sự viên đắc lực của bán nguyệt san Chiến Sĩ. Ông thường dịch thuật các tài liệu về công binh.


      Về cuộc đời quân ngũ của chúng tôi, có một sự kiện làm chúng tôi ghi nhớ mãi. Thời ấy các cấp bực trong quân đội quốc gia còn dùng cấp hiệu của quân đội Pháp. Quân nhân nào mang lon lên cầu vai là được gọi bằng "quan". Từ thượng sĩ đã là "quan" rồi.


      Lon chuẩn uý là một gạch vàng như của thiếu uý, song ở hai đầu có thêm hai lằn chỉ đen để phân biệt. Tuy chuẩn uý là cấp bậc cao nhất về hạ sĩ quan, nhưng vẫn còn là hạ sĩ quan dù trong ngôn từ Pháp vẫn được gọi tâng lên là Trung úy.


      Lúc ấy Bác sĩ Phan Huy Quát làm Tổng trưởng Quốc phòng. Một hôm ông Tổng trưởng đi thăm các nha, sở trong Bộ. Cùng đi có sĩ quan tùy viên, Thiếu úy Đỗ Cao Trí. Đến phòng Báo chí, ông Tổng trưởng bắt tay từng sĩ quan trong phòng. Nhưng khi nhìn thấy lon trên vai chúng tôi là chuẩn uý, ông Tổng trưởng không bắt tay và bỏ đi sang bắt tay người khác. Chúng tôi hiểu chúng tôi chỉ là hạ sĩ quan, không đáng được ông Tổng trưởng bắt tay.


      II. Làm ký giả Thể thao


      Bản tính thích thể thao từ nhỏ, chúng tôi thích đọc sách, báo về thể thao khoa học và du hành (Science et Voyage) và tiểu thuyết trinh thám của Simenon (Pháp) lúc ấy chúng tôi là trọng tài của Tổng cuộc Túc cầu Nam Việt. Nếu tiếp tục nghề này chúng tôi đã được đề nghị trọng tài quốc tế một lượt với Trương Văn Ký, trọng tài quốc tế Việt Nam đầu tiên.


      Cũng năm 1951, ký giả Lê Tân (một đồng hương) vì nhận làm thơ ký tòa soạn cho nhật báo Thời Đại của Nguyễn Kiên Giang (tức Lý Chánh Cần) nên khi được sự đồng ý của chúng tôi, đã giới thiệu chúng tôi vào thay ban viết và đọc tin thể thao cho đài phát thanh Pháp Á (radio France-Asie). Chúng tôi bắt đầu làm ký giả thể thao từ đó.

      Và khi đã làm ký giả, chúng tôi phải rời bỏ nghiệp trọng tài để ngòi viết của mình được vô tư hơn.


      Viết thể thao cho đài Pháp Á (góc đường Công Lý và Hàm Nghi) ngoài những tin tức hàng ngày -nếu có- chúng tôi còn phụ trách mục thể thao hàng tuần vào mỗi tối Chúa Nhật. Phần Việt ngữ đài Pháp Á lúc ấy do anh Hoàng Nguyên làm giám đốc. Cũng nên biết rõ là có hai anh Hoàng Nguyên. Anh Ở đài Pháp Á cũng người Bác song vóc dáng rất thư sinh. Anh giám đốc báo chí ở Bộ Thông Tin cũng nguời miền Bắc nhưng lại là một người khác (thân sinh của Đông Duy).


      Đài Saigon thuở ấy do Đại úy An giám đốc. Đại úy An là sĩ quan trong quân đội Pháp.

      Một năm sau đài phát thanh quốc gia mời chúng tôi về cộng tác, cũng trông nom tin tức thể thao hàng ngày và mục thể thao hàng tuần. Chúng tôi xin nghỉ việc ở đài Pháp Á.


      Ở mục thể thao hàng tuần, ngoài phần tin tức còn có bình luận hay quan điểm. Phần này được giới trẻ theo dõi và ưa thích vì chúng tôi rất vô tư. Sự vô tư ấy không ngờ đã đem đền cho chúng tôi phiền toái lớn đầu tiên trong nghiệp dĩ ký giả thể thao. Điều này được ghi lại trong đoạn sau.


      Ngoài ra chúng tôi còn đảm trách việc trực tiếp truyền thanh các trận túc cầu quan trọng như tranh chung kết giải vô địch hoặc các trận quốc tế tại Saigon.

      ......


      V. Trực tiếp truyền thanh


      Trong đời ký giả thể thao, nếu chúng tôi được nhiều người biết đến là qua các làn sóng điện của đài phát thanh Saigon, theo với các buổi trực tiếp truyền thanh các trận túc cầu tranh vô địch và nhất là các trận quốc tế, giữa hội tuyển nhà và các hội tuyển khách hoặc những đoàn danh cầu ngoại quốc.


      Người mộ điệu ở tỉnh, hoặc ở ngay Saigon mà không thể lấy được vé, đành mở máy thu thanh nghe trực tiếp truyền thanh theo dõi trận đấu cho đỡ... ghiền. Đó cũng là lối chúng tôi thường dùng (lúc chưa là ký giả thể thao) khi còn sống ở Cao Miên. Thuở ấy lúc nào có trận túc cầu quan trọng ở Sàigon được trực tiếp truyền thanh là chúng tôi nhờ người bạn ở phòng điện thoại mở máy thu thanh áp sát vào bộ phận liên hợp để bên này đầu giây chúng tôi nghe mà theo dõi trận đấu, thường vào giờ chưa tan sở.


      Người phụ trách về trực tiếp truyền thanh lúc ấy là bạn Nguyễn Huỳnh (bút hiệu của Nguyễn Huỳnh Phước). Tuy nhiều lúc có khoản trống dài, song biết được tin tức của trận đấu cùng lúc với tại Saigon vẫn là nổi thích thú của kẻ ở xa hướng về quê nhà. Lúc ấy vào thập niên 1940.

      Trước đó, người trực tiếp truyền thanh là bậc đàn anh Trần Đình Khiêm, nhưng chúng tôi chưa được nghe anh Khiêm.


      Khi đảm trách phần thể thao cho đài Pháp Á, chúng tôi đã bắt đầu trực tiếp truyền thanh nhưng là một trận đấu bóng rổ. Chúng tôi cùng chia máy với một phóng viên người Pháp. Người này nói tiếng Pháp, chúng tôi nói tiếng Việt.


      Chân ướt, chân ráo vào nghề lại phải trực tiếp trận bóng rổ quả thật chúng tôi đã bối rối như thuyền gặp gió ngược. Khi về hợp tác với đài Saigon, chúng tôi cũng đảm trách phần trực tiếp truyền thanh, phần nhiều là những trận túc cầu.


      Phải thành thật thú nhận, Ở lần "trực tiếp" đầu tiên chúng tôi đã không tránh khỏi bối rối không kém khi trực tiếp truyền thanh bóng rổ. Mấy hôm sau chúng tôi nhận được một bức thư của một thính giả ở Bến Tre phê bình kỹ thuật "trực tiếp" của chúng tôi. Vị thính giả này là một sinh viên du học bên Pháp về, đã so sánh cuộc "trực tiếp" của chúng tôi với kỹ thuật của phóng viên Pháp tại Ba Lê. Dĩ nhiên sự phê phán đã rất thẳng thắn, xây dựng.


      Bức thư đã làm cho chúng tôi suy nghĩ rất nhiều. Buồn là lẽ tự nhiên, nhưng chúng tôi không chán nản. Chúng tôi lấy đó làm bài học tốt để sửa chữa vì biết con đường của chúng tôi đi còn dài. Làm "báo viết" -đứng đắn với thiên chức đã khó, thì làm "báo nói" đâu có dễ. Huống chi không có thầy, chưa có dịp ra nước ngoài, xem thể thức trực tiếp truyền thanh của các nước tiền tiến để học hỏi, chúng tôi nghĩ đến cách phác họa cho mình một đường lối để cải thiện. Vào thời ấy cũng chưa có sách nào, theo chỗ chúng tôi biết, dạy "trực tiếp truyền thanh".


      Kỹ thuật nói vào máy vi âm trên đài phát thanh cũng đã đặt thành vấn đề cho người xướng ngôn rồi. Nói cho nhiều người nghe mà mình không thấy mặt nhưng tưởng tượng lúc nào cũng có rất nhiều con mắt nhìn chầm chập vào mình, người xướng ngôn cũng cảm thấy... khớp, lưỡi đã muốn líu lại.


      Kinh nghiệm bản thân của chúng tôi cho thấy một xướng ngôn viên truyền thanh (hay truyền hình cũng thế) phải:


      - Dò đọc bản tin trước để nếu cần, sửa chữa những chữ khó đọc hoặc sai. Phân đoạn đúng để câu văn không mất ý nghĩa theo với dấu phẩy, hay chấm để không làm cho người nghe khó chịu.


      - Trước khi đọc, đè nén xúc động, nên hít thở mấy hơi thật dài chầm chậm, trấn tĩnh nhíp đập của tim (ảnh hường đến lối phát âm suông sẻ) lấy tự tin và bình tĩnh. Đọc nhẩm lại những chữ khó đọc, nhất là tên riêng của người hay địa danh để tránh vấp váp.


      - Trước khi đọc thật sự, phải thử giọng vào máy vi âm để lấy đúng khoảng cách giữa miệng mình và máy.


      - Trong khi đọc phải chú ý lắng nghe giọng của chính mình. Nếu cảm thấy có phần trầm xuống là lập tức thay đổi ngay để giọng đọc lúc nào cũng tươi tắn, rõ ràng, hấp dẫn.


      Về trực tiếp truyền thanh, các diều kiện cần thiết có phần tương đối rộng rãi hơn. Người xướng ngôn viên nói lên những gì mình thấy đang diễn ra. Càng nói được nhiều chi tiết càng tốt. Điều quan trọng là làm sao nói lên cách suông sẻ những gì mình thấy, vẫn không phải dễ.


      Chúng tôi đã phải dùng nhiều thì giờ để tìm sẵn những chữ đồng nghĩa để nói về một hiện trạng, một động tác, hoặc một sự kiện nào đó v.v... Như thể để không phải lập đi lập lại nhiều lần một danh từ làm thính giả nhàm chán. Chúng tôi cũng đã tìm sẵn các danh từ chính xác vừa linh động nói về một động tác hoặc một diễn biến nào đó trên sân để khi nghe đến là thính giả hình dung ngay được sự việc và chính chúng tôi tránh khỏi vấp váp.


      Khi đã có một số ngữ vựng tương đối đầy đủ cho địa hạt của mình, chúng tôi không còn cảm thấy lúng túng nữa. Chúng tôi có thể nói suông sẻ phần lớn những diễn biến trên sân nhiều lúc tuôn chảy như một dòng thác mà ít khi bị ngắt quãng.


      Về sau, khi chúng tôi không còn phụ trách "trực tiếp" nữa. Các bạn tiếp nối chúng tôi vẫn dùng ngữ vựng đã có sẵn của chúng tôi.


      Chúng tôi cũng đã ngầm hỏi ý kiến thính giả và được biết phần đông thích nghe gọi tên cầu thủ hơn là đọc số lưng hoặc gọi vai tuồng vị trí của họ (thí dụ: tả nội, hữu biên, trung vệ hay thủ môn, v.v...). Về điểm này với đấu thủ nhà (Việt Nam) không khó khăn lắm cho người xướng ngôn vì rất quen tên, quen mặt.

      Nhưng với cầu thủ ngoại quốc thì sao? Đó là vấn đề từ trước đã được nhiều người nêu lên thành câu hỏi và chúng tôi đã giải thích với một số bạn bè.


      - Chúng tôi đã nghĩ ra phương thức đặc biệt cho riêng mình. Phương thức đó là mỗi khi có đoàn cầu ngoại quốc đến là chúng tôi đến để phỏng vấn từ nhà dìu dắt đến cầu thủ, nhất là những hảo thủ khách. Mục đích: cung cấp nhiều chi tiết cho độc giả và thính giả (cho báo chúng tôi cộng tác và đài phát thanh). Chúng tôi kéo dài thời gian trò chuyện với các cầu thủ, quan sát và ghi nhận những điểm riêng biệt về thể chất của họ (chiều cao, dáng vóc, lối cắt tóc, lối để râu v.v...)


      Trước khi trực tiếp truyền thanh, chúng tôi còn có thành phần cầu thủ đôi bên, với số lưng của họ ghi trên mảnh giãy, sắp theo vị trí. Lúc "trực tiếp" mắt chúng tôi theo dõi các hoạt động trên sân song khi cần vẫn kiểm soát lại trên bản thành phần. Chúng tôi căn cứ vào những đặc điểm để nhận diện đấu thủ ăn khớp với số lưng của họ, để không sai lệch. Dĩ nhiên không sao tránh khỏi một đôi lúc nhầm lẫn song nhầm lẫn nào được phát hiện là sữa chữa ngay.

      Có bạn hỏi có phải chúng tôi đã dùng ống dòm (viễn vọng kính) lúc "trực tiếp" chăng?


      Chúng tôi chỉ dùng đôi mắt, được may mắn nhìn xa rất rõ của chính mình. Vì ống dòm chỉ thấy được trong một phạm vi hạn chế, không thể bao quát cả sân cầu được. Huống chi dùng ống dòm lỉnh kỉnh có thể gây trở ngại.


      Những kỷ niệm khó quên


      Về trực tiếp truyền thanh các trận cầu, đài phát thanh thường quảng bá trước một vài hôm để thính giả đón nghe. Và khi nghe đoạn nhạc mở đầu sôi động, vui tươi, dòn dã là thính giả biết cuộc "trực tiếp" sắp bắt đầu.


      Đoạn nhạc này do anh Nhơn, một nhạc sĩ giúp việc tại đài, đã chọn làm nhạc mở đầu cho phần "trực tiếp".


      Việc trực tiếp truyền thanh khởi sự trước n.hất trên sân "Xẹt" (C.S.S. tên tắt của "Cercle Sportif Saigonais": Câu lạc bộ Thể thao Saigon) sau này gọi là sân Tao Đàn.


      Chúng tôi thường ngồi chung với khán giả ở cánh trái lộ thiên của khán đài trung ương, nơi có đường giây ăn về đài. Vì xứ nghèo và chậm tiến nên không có phòng riêng cho báo chí và đài phát thanh như ở các nước khác.


      Một hôm khi "trực tiếp" xong một trận cầu, chúng tôi định đến tòa soạn Saigon Mới để viết bài tường thuật kịp cho số báo phát hành vào đêm hôm sau, bỗng có bàn tay đặt lên vai chúng tôi và có lời nói:

      - Chào ông.


      Chúng tôi ngạc nhiên quay nhìn lại, nhận ra người đối thoại là một ông cụ mà búi tóc và chòm râu dài đã điểm sương. Ông cụ chỉ vào hai vị cao niên khác bên cạnh, nói tiếp:


      - Anh em chúng tôi ở vùng Thất Sơn, thường nghe ông "trực tiếp" qua máy ra-đi-ô chạy "pin". Hôm nay có dịp lên Saigon nhằm có "trực tiếp" nên chúng tôi mua vé vào xem, cố tìm gặp cho biết ông. Chúng tôi đã lựa chỗ ngồi ngay sau lưng ông.


      Cảm động vì mối tình của thính giả ở xa dành cho, chúng tôi ngỏ lời cảm tạ, nhưng cuộc đối thoại đã không thể kéo dài, chúng tôi buộc lòng phải kiếu từ vì anh em thợ nhà in đang đợi bài. Chúng tôi rất tiếc song đành chịu.


      Dịp khác, một quân nhân đã thân mật:

      - Ở rừng đã không có gì giải trí, nên lúc hành quân tuần tiễu mà nghe trực tiếp truyền thanh là tụi tôi cho dừng lại theo dõi đến hết trận cầu.


      Ở Huế, cạnh chợ Đông Ba có quán Lạc Sơn của các anh Ngô Văn Đệ và Ưng Lão được xem như nhà hàng Thanh Thế tại Saigon, là nơi anh em thể thao gặp gỡ nhau, nhất là vào những sáng cuối tuần. Dịp chúng tôi ra cố đô, đến gặp anh em tại Lạc Sơn, chủ nhân vừa cười vừa nói với chúngtôi:


      - Phải bắt đền anh mới được. Vì mỗi lần anh trực tiếp truyền thanh là anh em tựu lại nghe, giựt chân, giựt tay đá gãy cả ghế của quán tôi.


      *


      Dưới thời đệ nhị cộng hòa, đồng bào vượt tuyến thường được đưa đi viếng các cơ quan của chánh phủ. Một hôm phái đoàn đến thăm đài phát thanh Saigon, được hỏi đồng bào miền Bắc vĩ tuyến 17 thích nghe chương trình nào của Saigon nhất. Phái đoàn đã đáp:

      - Chúng tôi chỉ nghe lén và thích nhất là chương trình cải lương mỗi tối thứ bảy và trực tiếp truyền thanh các trận cầu quốc tế.


      Cũng được biết là nhiều người không mấy thích về thể thao, song đã không bỏ sót buổi trực tiếp truyền thanh nào về túc cầu. Mỗi khi nghe nhà bên cạnh có nhạc mở đầu cho buổi "trực tiếp" là vội mở máy nhà mình.


      Nhiều khán giả các trận cầu được "trực tiếp", dù dự khán tận mắt vẫn mang máy thu thanh theo để vừa xem vừa nghe trực tiếp. Lý do: có khi ngồi xa không thấy rõ, khán giả theo dõi cuộc "trực tiếp" để biết tên cầu thủ trong động tác vừa diễn ra.


      Đồng bào thích túc cầu ở tỉnh, được hỏi ý kiến, đã cho biết là rất tán thưởng những buổi "trực tiếp" vì đài đã giúp đồng bào theo dõi cuộc thư hùng khi đồng bào thiếu phương tiện để có mặt ở cầu trường.


      Các buổi "trực tiếp" do đó đã làm cho phong trào túc cầu trong xứ sôi động hơn và phát triển mạnh thêm để giữ vững ngôi vị "Thể thao Vua".


      *


      Một đêm, chúng tôi cùng vài người bạn ký giả thể thao khác lên Biên Hòa dự khán cuộc tranh giải bóng bàn do địa phương tổ chức vào một dịp lễ. Trước giờ tranh giải tại một địa điểm khác, tại rạp Biên Hùng có tổ chức trình diễn văn nghệ.


      Các bạn ký giả và chúng tôi được mời ngồi ở hàng ghế đầu. Trên sân khấu, nghệ sĩ Hoàng Liêm trình diễn màn "Trực tiếp truyền thanh trận cầu quốc tế", mà bạn là... Huyền Vũ.


      Bạn Hoàng Liêm -dùng những danh từ chúng tôi thường dùng- đã thao thao bất tuyệt nói thật nhanh và hấp dẫn vô cùng, hơn hẳn chúng tôi về nhịp độ. Điều ấy cũng dễ hiểu. Vì chúng tôi chỉ nói theo diễn biến đang xảy ra trên sân, mà Hoàng Liêm thì đọc thuộc lòng bài đã viết sẵn.


      Màn trình diễn "trực tiếp" vừa chấm dứt, một bạn ký giả chỉ vào chúng tôi và giới thiệu với Hoàng Liêm:

      - Huyền Vũ đây.

      Bạn Hoàng Liêm nhìn xuống, vẻ rất ngạc nhiên. Bạn không ngờ lại có ngẫu nhiên này.


      *


      Trong số những kỷ niệm cũ và mới về cuộc đời ký giả thể thao của chúng tôi, vài kỷ niệm làm cho chúng tôi ghi nhớ mãi.


      Kỷ niệm thứ nhất là mối cảm tình của cụ Minh Lương Nguyễn Chánh Ngọ, đã ưu ái dành cho một vãn bối chúng tôi. Cụ Minh Lương sinh trưởng ở Rạch Giá, thông suốt Hán văn và Pháp văn là tác giả của ba thi tập: Thượng nguyên Kỳ vọng (ấn hành năm 1932), Thi ca Đồng bái (1951) và Trường ca Hương lý (1962). Tập trường ca này là lời tự thuật của một thiếu nữ con nhà gia giáo ở đồng quê, về mối tình chân thật giữa nàng và chàng trai có học từ thành thị về.


      Năm xuất bản tập thơ lục bát gồm hơn 750 câu này, tác giả đã 81 tuổi. Tuy tuổi cao nhưng tinh thần của cụ Minh Lương rất sáng suốt, linh hoạt. Cụ rất thích thể thao, nhất là theo dõi những lần trực tiếp truyền thanh các trận túc cầu của chúng tôi.


      Cảm tình nảy sanh nên một hôm cụ mời chúng tôi đến tư thất. Năm ấy chúng tôi 47 tuổi. Hai lứa tuổi gặp nhau nhưng đã không có khoảng cách. Sau buổi chuyện trò thân mật, cụ đã đề tặng chúng tôi thi tập Trường ca Hương lý. Thi tập này cũng như nhiều vật khác, chúng tôi đã phải bỏ lại khi lên đường lưu vong.


      Cụ Minh Lương là thân sinh anh Nguyễn Tấn Trung, Tổng giám đốc Hàng không Việt Nam.


      *


      Kỷ niệm thứ nhì xảy ra trong thời gian sống ở xứ người sau 1975.


      Được bạn Nguyễn Ang Ca cho biết nhà văn Bình Nguyên Lộc đã sang đoàn tụ ở Cali, chúng tôi viết thư liên lạc. Hồi âm cho chúng tôi, trong bức thơ đề ngày 23-3-1986, anh Bình Nguyên Lộc đã viết:

      "Được thư anh tôi mừng quá. Tuy chưa gặp mặt nhau, vì ta định cư cách nhau quá xa, tôi vẫn nghe như được thấy lại Saigon, quê hương của ta.


      Anh đi rồi tụi nó thay anh, nhưng làm dở quá, khiến toàn miền Nam đều nhớ tiếc anh, với những tường thuật tại chỗ vô cùng hào hứng và sôi động... Hiện giờ, có gì hơi trục trặc thì dân Saigon hô lên: Nguy hiểm! Đó là một lối nhắc nhở anh vậy. Hễ ai mà nói: Nguy hiểm! Thì tất cả mọi người nghe đều bùi ngùi vọng tưởng người đi xa. Chẳng có ai đủ khả năng thay thế anh hết. Hùm chết để da, người đi xa để lại danh tiếng.


      Cộng sản cũng rất mê đá banh mà họ gọi là bóng đá, và đa số nằm nhà nghe tường thuật, nhưng những kẻ thay anh, tường thuật dở ẹt, nghe chán quá trời."

      Chúng tôi cảm thấy yên ủi vì giới thể thao miền Nam chưa quên chúng tôi.


      *


      Gia đình chúng tôi lưu vong, Việt cộng dán giấy tại nhà chúng tôi tại cư xá Thanh Bình 2, đường Ngô Tùng Châu (Gia Định) cho gia đình chúng tôi là phản động và phao tin chúng tôi đã chết khi tàu chưa đến đảo Guam.

      Trong thi hài tìm thấy giấy tờ chứng minh là Huyền Vũ. Và cộng sản đã tịch thu nhà chúng tôi, dùng làm nơi bán gạo trong phường. Tin này đã làm cho thân nhân chúng tôi lo âu mãi đến khi nhận được thư chúng tôi gởi về.


      (Trích Hồi Ký "Tôi Làm Ký Giả Thể Thao")


      Huyền Vũ

      Ngày Nay Minnesota số 245, 15-8-1999



      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Tại Sao Tôi Làm Ký Giả Thể Thao Rồi Trực Tiếp Truyền Thanh? Huyền Vũ Hồi ký

      -

      -

      -

    3. Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Những lần gặp (ít ỏi) Du Tử Lê (Trần Yên Hòa)

      - Tiễn Trần Tuấn Kiệt, nhớ chuyện viết văn làm báo (Viên Linh)

      - Du Tử Lê (Nguyễn Vy Khanh)

      - Sa Giang Trần Tuấn Kiệt, người làm thơ lãng tử (Trần Yên Hòa)

      - Viết về Trần Phong Giao qua những sách báo sưu tập (Trần Hoài Thư)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Tạp Văn (Nguyễn Kim Phượng)

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại (Viên Linh)

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975: Nhận Định, Biên Khảo, Thư Tịch (Nguyễn Vy Khanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Bàng Bá Lân,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Vĩnh Phúc,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Tiêu,  Cao Đông Khánh,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Chu Tử,  Diễm Phượng,  Diên Nghị,  Doãn Dân,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)