|
|
|
|
|
VĂN HỌC |
GIAI THOẠI | TIỂU LUÂN | THƠ | TRUYỆN | THỜI LUẬN | NHÂN VẬT | ÂM NHẠC | HỘI HỌA | KHOA HỌC | GIẢI TRÍ | TIỂU SỬ |
Thơ Văn Trần Y. Hoa & Bằng hữu
Thơ Văn Trần Yên Hoà & Bằng hữu

Trước đây, tôi chưa bao giờ thấy hoặc nghe ai nói có một dòng sông chết. Trong quyển Sài Gòn năm xưa của cụ Vương Hồng Sển có một chương viết về những dòng sông đổi dòng, những con rạch bị lấp. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có một bản nhạc mang tên “Có một dòng sông đã qua đời”, nghĩa là có một dòng sông đã chết.
Mười năm xưa đứng bên bờ dậu
Đường xanh hoa muối bay rì rào
Có người lòng như khăn mới thêu
Mười năm sau áo bay đường chiều
Bàn chân trong phố xa lạ nhiều
Có người lòng như nắng qua đèo
Tóc người như dòng sông xưa ấy đã phai
Đã lênh đênh biển khơi
Có lần bàn chân qua phố
Thấy người sóng lao xao bờ tôi
Mười năm chân bước trên đường dài
Gặp nhau không nói không nụ cười
Chút tình dường như hiu hắt bay
Mười năm khi phố khi vùng đồi
Nhìn nhau ôi cũng như mọi người
Có một dòng sông đã qua đời
Trả lời phỏng vấn, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho biết về sự ra đời của bài “Có một dòng sông đã qua đời” như sau:
Trong tình yêu có nhiều cách đau khổ vì yêu. Yêu người này thì đau khổ cách này. Yêu người kia thì đau khổ cách kia. Có một dòng sông đã qua đời là một truyện tình có thật. Hôm đó, tôi đi qua cầu bắc ngang Hồ Xuân Hương. Tôi thấy người tình cũ đi với người yêu. Tôi cảm thấy một mất mát quá lớn. Tôi đi qua cầu, nhìn dòng nước chảy, tôi không chỉ mất mát người đó thôi mà mất cả dòng nước kia. Mất tất cả. Mất mát tưởng là nhỏ, nhưng cuối cùng rất lớn. Có một dòng sông đã qua đời không phải chỉ là ví von. Người tình đi giống như dòng sông mất đi. Nàng đi qua dòng sông và tôi mất nàng và mất cả dòng sông. Lúc đó dòng sông không có ý nghĩa gì cả. Trước kia nó đẹp vô cùng, nhưng từ phút đó không có ý nghĩa gì cả. Nó đem đến nỗi buồn giống như mất mát kia. Vì vậy mà có bài “Có một dòng sông đã qua đời”.
Như vậy “dòng sông đã qua đời” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là không có thật, bài hát chỉ kể lại một truyện tình có thật.
Tại thành phố Renton, nơi tôi đang cư trú có một dòng sông không còn nữa: Dòng sông Black River. Dòng sông mang tên định mệnh Black nên số phận của nó hẩm hiu, buồn thảm.
Black River
Sông Black River đã có từ hàng ngàn năm. Nhìn những bức ảnh đen trắng chụp vào đầu thế kỷ 19 mờ mờ, ảo ảo cho ta thấy cảnh hoang sơ của thời kỳ vắng bóng người. Một dòng sông thường bắt nguồn từ miền cao nguyên hoặc từ vùng núi cao, nhưng sông Black River bắt nguồn từ một hồ lớn mang tên Washington.
Trong bài viết “Requiem for A River” trên tuần báo The Weekly ngày 10/16–2/22/85, ông David M. Buerge cho biết về sự hình thành của sông Black River như sau: 5700 năm trước một trận địa chấn lớn xẩy ra. Tiếp theo đó, ngọn của núi Rainier bị sụp đổ. Một trận bão gồm bùn, đá, băng ầm ầm đổ xuống sườn núi phía bắc. Bùn, đá, băng đổ vào các thung lũng của vùng cổ xưa Puyallup và White River, rồi tràn vào vịnh Puget Sound. Ở vào thời điểm đó, vịnh Puget Sound vươn tới phía đông của con kênh hiện tại và chiếm cả vùng đầm của thung lũng Green River và hồ Washington. Suối bùn và đá hợp với phù sa của những dòng sông đã đẩy lùi vịnh Puget Sound về biên giới hiện nay. Phù sa bồi vào đồi Earlington thuộc thị trấn Renton, nằm phía nam của đồi Beacon thuộc thành phố Seattle, đã ngăn nước chảy vào hồ Washington. Những con rạch cạn dần, không còn nước chẩy vào hồ. Sự kiện địa chấn xảy ra, nước hồ Washington và sông Cedar đã phối hợp để tạo thành một dòng sông đổ vào sông White River và chẩy ra vịnh Puget Sound. Dòng sông ấy mang tên Black River.
Sông Black River là con sông kỳ lạ. Nó còn có tên khác là Sông Hai Cửa Khẩu – Two Mouth, một cửa chẩy vô sông White River nay có tên là Green River. Đến mùa xuân, Black River có một cửa khẩu khác. Ông David M. Buerge giải thích: Cánh đồng chứa nước lụt của sông Black River quá phẳng đến nỗi mỗi năm vào mùa xuân, nước sông White River tràn vào cánh đồng chứa nước lụt của Black River và đẩy ngược dòng nước chẩy ngược lại vào hồ Washington. Hồ Washington là cửa khẩu thứ hai trong những trận lụt mùa xuân. Sư kiện này chỉ kéo dài khoảng một tháng.
Black River là dòng sông êm đềm, không rộng và ngắn, chỉ dài chừng hơn mười cây số. Ông Clarence Dullahaut đến cư trú tại Renton năm 1903 trả lời phỏng vấn được ghi lại trong bài viết A River Forgotten của ông Louis T. Corsaletti, ông nói: “Black River là con sông đẹp, dễ thương và êm đềm. Tôi vẫn nhớ những ngày hạnh phúc được bơi lội trong thời niên thiếu. Có khúc sông rộng dành cho thanh niên và khúc sông nhỏ hơn dành cho thiếu niên. Trẻ thơ thì tắm ở khúc sông ngày nay là đại lộ số 2.”
Black River là dòng sông ngắn, không rộng, nhưng Black River và lòng chảo đã cung cấp tài nguyên, thực phẩm, đất đai mầu mỡ và phương tiện chuyển vận hàng hóa cho con người không phải là nhỏ.
Cư dân của sông Black River
Những con vật đến dòng sông Black River trước con người. Cá Hồi là loài cá được biết đến nhiều nhất tại sông Black River và hầu hết những con sông tại miền Tây Bắc Hoa Kỳ. Cá Hồi trở về nơi chào đời từ vịnh Puget Sound của biển Thái Bình Dương để sinh nở. Một luồng đi ngược dồng White River nay đổi tên là Green River. Một nguồn rẽ vào sông Black River để đến hồ Washington hoặc ngược dòng sông Cedar River.
Có cá thì có những con vật ăn cá. Chim Heron, cư dân bên bờ sông Black River, còn tồn tại đến ngày nay và đang được thành phố bảo vệ như một loài chim quí hiếm.
Sau cá và chim, tiếp đến là con người. Đầu tiên là những người da đỏ bản xứ, thuộc bộ tộc Duwamish, đến định cư hai bên bờ sông Black River và Cedar River. Họ bắt cá, trồng khoai, hái trái blackberry để ăn và phơi khô làm bánh. Người da đỏ đã đến cư ngụ bên bờ sông Black River hơn 1400 năm. Năm 1916 họ vẫn còn sinh sống bên bờ Black River.
Di dân da trắng đến vùng Tây Bắc Hoa Kỳ từ đầu năm 1800. Người da trắng đầu tiên tới định cư và lập nghiệp bên dòng sông Black River là ông Henry Tobin. Năm 1853 ông chèo thuyền cùng với vợ bà Diana Tobin ngược dòng sông Duwamish và Black River. Ông bà Tobin lập ra một trại mộc bên bờ sông Black River. Rừng cây phong phú, sum suê và sức nước để chạy máy xưởng cưa đã giúp ông Tobin có phương tiện khai thác gỗ và đem những sản phẩm của ông đến thị trường Seattle.
Sự thành công của ông bà Tobin đã quyến rũ những di dân da trắng đến vùng này. Năm 1854, Dr. R.H. Bigelow, người Hàng xóm của ông Tobin, tìm thấy quặng than trong trang trại của ông. Những năm sau đó, người ta tìm thấy những mỏ than ở vùng đồi quanh Renton. Người da trắng đến vùng Black River và Cedar River càng ngày càng đông. Người thành công nhất là Captain William Renton. Ông Renton là người kinh doanh ngành gỗ nổi tiếng, ông đã mua những mỏ than của ông Smithers và thành lập Renton Coal Company. Năm 1875, người da trắng thành lập tại vùng này một thành phố. Người ta đã lấy tên của ông Captain William Renton để đặt tên cho thành phố: RENTON.
Chiến Tranh Giữa Người Bản Xứ Da Đỏ Và Di Dân Da Trắng
Lịch sử kể lại rằng những năm đầu tiên, người di dân da trắng đến vùng Tây Bắc Hoa Kỳ, sự giao thiệp của họ với người da đỏ bản xứ là bình thường. Người da đỏ trong vùng rất thích những dụng cụ của người da trắng đem đến cho họ. Người da đỏ cảm thấy thoải mái với nhóm người da trắng ít ỏi. Những năm sau đó, người da trắng đến vùng này càng ngày càng đông thì quan hệ của họ với người da đỏ bản xứ cũng thay đổi. Sự kiện gia tăng đông đảo người da trắng trong vùng đã quấy nhiễu đời sống cổ truyền của người dân bản xứ. Người da trắng thèm muốn đất đai của dân bản xứ để khai thác tài nguyên, lập nhà máy. Chiến tranh giữa dân bản xứ và di dân da trắng là điều không thể tránh khỏi. Chiến tranh đã xẩy ra vào năm 1855. Trong trận chiến tranh lâu dài, người da đỏ đã tiêu hủy nhà máy của ông Tobin. Ông bà Tobin phải chạy trốn đến nơi an toàn. Nhưng tất cả công nhân của ông không chạy kịp đều bị người da đỏ giết chết. Ông Tobin chết bệnh năm 1857.
Người da đỏ thua trận và phải ký một thỏa ước với chính quyền Hoa Kỳ. Theo thỏa ước, người da đỏ phải miễn cưỡng sống trong những vùng tập trung do người da trắng chỉ định. Người da trắng theo chân đoàn quân chiến thắng đến cư ngụ càng ngày càng đông. Người da đỏ bản xứ trở thành thiểu số và cam chịu sống trong những khu tập trung.
Nguyên Nhân Dẫn Đến Cái Chết Của Sông Black River
Không có quyển sách nào viết về dòng sông Black River, chỉ có vài bài viết hiếm hoi viết về con sông này mà tôi tìm kiếm được trên các mạng internet và trong thư viện Renton. Tất cả các bài viết đều nói nguyên nhân cái chết của dòng sông Black River là sự hoàn thành con kênh đào Lake Washington Ship Canal. Theo tôi còn có một nguyên nhân khác đã gây ra cái chết của dòng sông Black River.
- Nguyên nhân thứ nhất:
Năm 1911, thành phố Renton xẩy ra một trận lụt lớn. Nắng sớm Chủ Nhật, ngày 11 tháng 11, năm 1911, đập rộng 11 square miles trên thượng nguồn sông Cedar River bị vỡ một phần. Khi được tin đập bị vỡ, chuông nhà thờ khắp vùng đã đổ liên hồi và còi báo động ở vùng mỏ than hụ vang làm mọi người dựng tóc gáy. Người ta không biết chính xác nguyên nhân gây lụt. Người ta chỉ đoán rằng trận lụt do những trận tuyết lớn của năm trước và mưa nhiều trong năm 1911. Bài báo cũng không nói đến sự thiệt hại về nhân mạng và vật chất do trận lụt gây ra. Nhìn những tấm hình chụp cảnh lụt lội năm 1911 tại Renton cho thấy trận lụt chẳng to lớn gì so với những trận lụt tại miền Trung, Việt Nam năm 1950, 1964. Tôi chắc chắn không có thiệt hại nhân mạng. Trận lụt tại Renton chỉ gây thiệt hại không đáng kể về vật chất. Trong một bản tin nói rằng: Trận lụt năm 1911 đã gây hư hại cho đường ống dẫn nước uống từ thượng nguồn Cedar River về Seattle trong khoảng một tuần khiến cho cư dân Seattle thiếu nước sạch để uống và nấu ăn. Bọn con buôn đã bán nước uống với giá 5 cent một gallon. Nhiều gia đình đã phải hứng nước mưa từ máng xối và đun sôi để uống. Một gia đình cần khoảng năm gallon nước uống một ngày thì số tiền 5 cents một gallon không lớn với ngày nay, nhưng vào năm 1911 tốn 25 cents một ngày cho nước uống là một khoản tiền lớn. Năm 1912 thị trấn Renton đào một con kênh dài 2000 feet, rộng 80 feet để thay đổi dòng chảy của sông Cedar River đi về phía bắc và chẩy thẳng vào hồ Washington thay vì chảy vào sông Black River với hy vọng tránh được nạn lụt xẩy ra trong tương lai. Từ đấy sông Black River mất nguồn cung cấp nước của sông Cedar. Đó là nguyên nhân thứ nhất khiến dòng sông Black qua đời.
- Nguyên nhân thứ hai:
Lý do chính làm chết sông Black River là do người ta đào con kinh Lake Washington Ship Canal. Thomas Mercer là người đầu tiên thấy được sự cần thiết có con đường thủy nối liền hồ Washington với vịnh Puget South của biển Thái Bình. Sau nhiều thập niên thảo luận, bàn cãi và tiếp theo sau nhiều kế hoạch của tư nhân thất bại, tướng Hiram M. Chittenden của US Army Corps of Engineers tiến hành thực hiện chương trình đào kênh và tên ông sau đó được đặt cho những cửa nối vịnh Puget Sound và Salmon Bay tại Ballard. Để hoàn thành con kênh Lake Washington Ship Canal, người ta phải đào hai con kênh: Một con kênh nối liền Salmon Bay và hồ Lake Union tại Fremont và một con kênh nối liền hồ Lake Union và hồ Washington tại Montlake. Người ta cũng phải xây bốn cầu cất tại Fremont, Ballard, University District và Montlake. Tàu lớn được phép đi qua kênh vào ngày mùng 4 tháng 7 năm 1917, tới năm 1934 kênh mới được chính thức công bố hoàn thành. Ngày 21 tháng mười năm 1916 là ngày con kênh được đào xong. Hồ Washington và vịnh Puget Sound đã được nối liền. Mực nước hồ Washington thấp xuống 9 feet. Sông Black không còn được hồ Washington cung cấp nước. Sông cạn dần trong vài ngày. Sông Black River qua đời vào mùa thu năm 1916.
Những Ngày Cuối Cùng Của Sông Black River
Ông Dullahant kể lại những ngày cuối cùng của sông Black River như sau: Mực nước hồ Washington xuống thấp vào mùa thu năm 1916, cá Hồi chạy trốn. Hàng ngàn cá Hồi bị kẹt lại trong những vũng nước còn lại của lòng sông Black River. Ông Joseph Moses, một thổ dân da đỏ Duwamish đã kể lại trong cuộc phỏng vấn với David Buerge rằng: Đó là một ngày buồn thảm cho người da trắng. Nước cạn dàn, can dần cho đến khi những chiếc ca nô nằm phơi trên đất khô và không còn dòng sông Black River nữa. Dĩ nhiên, chỉ còn những vũng nước và những con cá bị kẹt lại vì không chạy thoát kịp ra sông Duwamish. Dân chúng sống xa hàng dậm đổ xô về sông Black River. Họ cười, reo hò và bắt cá. Những túi của họ đều đầy ắp cá.
Những Gì Còn Lại Sau Khi Dòng Sông Black Qua Đời
Hằng năm vào tháng 8, Thị trấn Renton tổ chức một ngày hội có tên là RENTON RIVER DAYS. Ngày hội không phải để tưởng nhớ con sông Black River như tôi nghĩ. Bà Quản Thủ Thư Viện Renton nói với tôi: “Năm 1935, thị trấn Renton tổ chức ngày hội RENTON AIR FAIR để kỷ niệm một sự kiện lịch sử: Trong năm 1935 ông Wiley Post và ông Will Rogers đã hạ cánh chiếc thủy phi cơ xuống cuối phi trường Renton trên Lake Washington. Sau đó, hai ông cất cánh từ hồ để bay tới Alaska và không bao giờ người ta thấy hai ông nữa. Năm 1986 trong một cuộc thăm dò ý kiến đã cho thấy rằng: Người dân Renton muốn một tên khác cho ngày hội của thành phố. Thời gian đó thành phố hoàn thành Coulon Beach Park và Cedar River Trail. Lễ hội thành phố được tổ chức tại Liberty Park trên bờ dòng sông Cedar. Người dân Renton đã nói rằng: Tại sao không gọi lễ hội của chúng ta là RENTON RIVER DAYS để khẳng định rằng Renton là một cộng đồng gia đình tốt đẹp. Từ năm 1986 RENTON RIVER DAYS đã thay tên RENTON AIR FAIR. Ngày nay rất ít người còn nhớ đến con sông Black River. Những dấu vết còn lại của sông Black River ở Renton và trong con người Renton không nhiều.
Black River đã qua đời gần một thế kỷ. Những gì còn sót lại sau đây gợi nhớ lại trước đây có một dòng sông tên Black River tại Renton.
1. Black River Riparian Forest là khu rừng được thành lập vào năm 1985 để bảo vệ những tổ chim blue heron. Khu rừng rộng 93 mẫu. Giữa khu rừng có một lạch nhỏ, di tích cuối cùng còn lại của con sông Black River. Theo ông Hamilton, kỹ sư Boeing hồi hưu và nhiếp ảnh gia về chim, nói rằng: “Tôi chưa thấy một khu rừng dành cho chim Heron nào ở miền Tây Bắc Hoa Kỳ và Vancouver BC lớn và giá trị như Black River Riparian Forest. Đây là nơi lý tưởng để nhìn cảnh tượng nguyên thủy và sự xoay vần của đời sống. Đây là nơi thật thanh tịnh. Tôi có cảm tưởng rằng tôi đã gắn liền với chim Heron.” Ông Hamilton cho biết chim Heron trở về rừng Black River Riparian giữa tháng ba. Heron làm tổ trên ngọn cây Birch.
Chim rời rừng để di chuyển về phương Nam, khi những con chim Heron con có khả năng bay xa. Chim Heron rời rừng Black River Riparian từ cuối tháng năm đến cuối tháng tám và trở lại rừng mùa xuân năm sau. Năm 1985, năm thành lập rừng, chỉ có ba tổ chim Heron. Từ năm 2002 đến năm 2006 có 135 tổ. Năm nay có 80 tổ. Với một tố hai con thì năm nay, 2008, có 160 con chim Heron trong rừng Black River Riparian. Bà Suzanne Krom, một chuyên gia bảo vệ môi trường, đã theo dõi chim Heron từ ngày thành lập rừng Black River Riparian. Bà Krom nói rằng không có gì bảo đảm rằng chim Heron sẽ trở về rừng. Bà khám phá ra nhiều chim Heron không trở lại rừng. Bà thấy nhiều chim Heron tụ tập ở ven biển vùng South King County. Bà Krom kết luận rằng: “Điều đó chứng tỏ rằng chim Heron đang tìm kiếm những nơi khác để làm tổ”. Bà Krom, ông Hamilton và các chuyên gia của State Department of Fish and Wildlife cho biết có hai sự kiện đã đe dọa chim Heron. Thứ nhất là những con chim Bald Eagle. Người ta nhìn thấy tổ của hai con chim Eagle chỉ cách 400 yards phía đông của khu rừng. Chim Eagle ít khi tấn công chim Heron lớn. Chim Eagle ăn trứng và chim Heron con. Năm 2007 người ta chứng kiến một cặp chim Eagle tàn sát trứng và chim Heron con. Ông Halmilton đã giận dữ nói: “Những gì để lại sau cuộc thảm sát thật khủng khiếp. Chỉ còn những xương của chim Heron con. The Eagle stuff is brutal, just bone chilling”. Đe dọa thứ hai là những công trình xây dựng nhà cửa. Năm 2000 Oakesdale Office Complex đã chiếm một phần của khu rừng. Phần rừng này, trước đây được dùng vào mục đích để bảo vệ tổ chim Heron. Năm 2006, chủ đất của 26 mẫu đất ở sườn đồi nằm cạnh rừng Black River Reparian, gia đình Merlino, đã thuê nhà thầu Sunset Bluff xây 65 căn nhà. Chín mẫu cũng cùng trên sườn đồi đó, nhà nước xây single-family housing. Những người sáng lập khu rừng cho rằng việc xây nhà sẽ đe dọa những tổ chim Blue Heron. Thành phố và những công ty xây dựng thì cho rằng việc xây dựng không đe dọa gì đến những tổ chim Blue Heron. Vụ tranh chấp đến nay chưa được giải quyết. Nhưng theo bà Krom thì mùa hè năm nay 2008, những công trình sẽ được tiến hành và chịu những điều kiện hạn chế nào đó để thỏa mãn phần nào đòi hỏi của những nhà hoạt động bảo vệ môi trường đưa ra: Xây một tường cao ít nhất 6 feet chung quanh khu nhà, nhà ở và khu giải trí phải xa Black River Riparian Forest ít nhất 100 feet.
Tôi tới thăm khu rừng. Khu rừng không lớn như tôi tưởng. Khu vực chim làm tổ cách đường xe chạy chỉ khoảng 200 mét. Quả đồi cao cạnh rừng đã có những xe ủi đất làm việc. Nhưng cảnh tượng ở đây rất đẹp và nơi đây vẫn còn một cảnh hoang dã của thời nguyên sinh. Con sông Black River đã chết, thành phố đã dùng phần còn sót lại của sông Black làm nơi thoát nước của hai con sông Green River và Duwamish. Nhìn 80 tổ chim làm tổ trên những ngọn cây không cách xa nhau.
Những con chim Heron bố đang giang cánh rộng, chân duỗi thẳng, miệng ngậm cành củi khô hoặc cái gì đó có thể là thức ăn cho chim Heron mẹ và Heron con, tôi không thấy rõ vì tôi không có viễn vọng kính. Cảnh tượng đẹp đó cũng toát ra tình cảm ấm áp và cảm động của một tập thể 80 gia đình gắn bó. Tới thăm khu rừng, tôi thấy không phải chỉ có hai đe dọa tập thể chim Heron được nêu trên. Nhìn lạch nước, di tích còn lại của sông Black River, và nhiều con vịt, ngỗng trời đang bơi trên lạch, tôi nghĩ cá, ếch, nhái, chuột có đủ cho 160 heron lớn và đàn con sắp ra đời không? Thực phẩm cũng là lý do để chim Heron tìm nơi cụ ngụ khác? Nhìn những tổ chim cao cách mặt đất khoảng hơn ba mươi mét, trên đỉnh của cây Birch chỉ có lá non mới nhú, mắt thường thì là cây trơ trụi không lá. Một trận gió mạnh, một cơn bão nhỏ liệu những tổ chim đơn sơ làm bằng những cành cây khô có đủ giữ được những quả trứng không rơi xuống đất? Trời sinh trời dưỡng. Hy vọng mọi điều tốt đẹp cho khu rừng Black River Riparian như ông Hamilton nói: “Năm nay chim Heron trở về. Tôi chắc chắn chim Heron sẽ có một mùa thành công khác. Một sự khởi đầu tốt hơn mong ước của chúng ta. Tương lai tốt đẹp ở trước mặt.”
2. Bức hình trên vải treo tại trung tâm thị trấn Renton. Đây là bức hình chụp sông Black River vào năm 1900, bức hình được chụp lại và phóng lớn trên vải dệt bằng sợi ni lông rộng 10 mét, dài 12 mét. Bức hình được treo tại một bức tường của một văn phòng trong thị trấn Renton.
Bức hình được treo ở một nơi không trang trọng, không gắn chặt vào tường, không được che chở để tránh mưa, tránh nắng. Bức hình đã bị phai màu và một góc của bức hình có một mảng rách. Những ngày mưa gió, bức hình dong đưa, chao đảo khiến tôi ái ngại cho số phận của bức hình rồi cũng hẩm hiu như số phận của dòng sông Black River. Đúng như tôi lo âu. Chiều Thứ Bảy ngày 9 tháng 2 năm 2008, tôi đi làm về ngang qua thị trấn Renton. Tôi vẫn thấy bức hình và hàng chữ 1900 2001 THE RIVER FORGOTTEN. Chiều chủ nhật ngày 9 tháng 3 năm 2008, tôi và vợ tôi trên đường về nhà, ngang thị trấn Renton, tôi nghe vợ tôi nói: “Bức hình không còn nữa”. Đêm qua mưa và gió lớn, hôm nay bức hình không còn nữa. Bức hình được chụp năm 1900, được phóng lớn và treo năm 2001. Bức hình sống vỏn vẹn tám năm.
Sau gần một thế kỷ, dòng sông Black River nhỏ bé qua đời, có bao nhiêu người dân Renton còn nhớ sông Black River? Những ngày nắng hiếm hoi ở nơi tôi cư ngụ, người dân Renton cũng rất hiếm hoi được nhìn thấy những con chim Blue Herron và Eagle giang cánh rộng trên bầu trời. Học trò vẫn đến trường Black River. Ít ỏi người dân Renton vẫn tới Black River Community Service Center hoặc ăn tại quán trọ nghèo nàn Black River Inn. Vẫn còn một bóng mờ mờ của nàng công chúa sầu muộn mang tên Black River ở Renton.
- Dòng sông chết Quang Già Cơ Bút ký
- Thần đồng Quang Già Cơ Bút ký
- Hoa Mimosa Quang Già Cơ Bút ký
• Dòng sông chết (Quang Già Cơ)
• Người đàn bà bên bờ vịnh (Thu Hương)
• Võ Phiến Và Tâm Trạng Kẻ Lưu Đày (Liễu Trương)
• AI Và Văn Chương: Tranh Luận Hay Tự Vấn? (Ngu Yên)
• Gửi Cô Trần Hạ Vi, Chung quanh vụ Ái Điểu (Nguyễn Lệ Uyên)![]()
Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)
Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng, Quyển Hạ
Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)
Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)
Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)
Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)
Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):
Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)
Sách Xưa (Quán Ven Đường)
Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)
(Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)
Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)
Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)
Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?
(Trùng Dương)
Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)
Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục
Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến
Đặng Tiến
20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975
Nguyễn Văn Lục
Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)
Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)
Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)
Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)
Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)
Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)
Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)
Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)
Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)
Dương Quảng Hàm (Viên Linh)
Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)
Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)
Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)
Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)
Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)
Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)
Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn
Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)
Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)
Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)
Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)
Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)
Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)
Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh
(Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)
Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)
Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn
Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)
Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An
Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)
|
© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com) |