|
|
|
|
|
VĂN HỌC |
GIAI THOẠI | TIỂU LUÂN | THƠ | TRUYỆN | THỜI LUẬN | NHÂN VẬT | ÂM NHẠC | HỘI HỌA | KHOA HỌC | GIẢI TRÍ | TIỂU SỬ |
Thơ Văn Trần Y. Hoa & Bằng hữu
Thơ Văn Trần Yên Hoà & Bằng hữu

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, đồng dao là một miền ký ức đặc biệt, nơi tiếng hát trẻ thơ cất lên mộc mạc mà bền sâu như hơi thở của làng quê Việt từ bao đời. Không cầu kỳ về câu chữ, không dụng công về cấu tứ, đồng dao hiện diện tự nhiên như tiếng nói đầu đời của trẻ nhỏ, như nhịp võng đưa, như tiếng chân trần chạy trên sân đất, như tiếng cười giòn tan dưới mái đình, sân cỏ. Những câu hát như “Chi chi chành chành”, “Dung dăng dung dẻ”, “Rồng rắn lên mây”, “Nu na nu nống” đã đi qua nhiều thế hệ, không chỉ như trò chơi tuổi nhỏ mà như một phần ký ức văn hóa dân tộc. Đồng dao vì thế không chỉ là tiếng hát của trẻ em, mà còn là một hình thức lưu giữ ngôn ngữ, phong tục, nếp sống và tâm hồn Việt Nam ở dạng hồn nhiên, nguyên sơ nhất.
Đồng dao, hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, là những bài hát dân gian truyền miệng của trẻ em, thường ngắn gọn, có nhịp điệu đơn giản, dễ nhớ, dễ thuộc và dễ hát. Đồng dao thường gắn với trò chơi, với sinh hoạt tập thể, với những quan sát đầu tiên của trẻ nhỏ về thế giới xung quanh. Nếu ca dao là tiếng lòng của người lớn, thường nghiêng về tâm tình, thân phận, đạo lý và triết lý sống, thì đồng dao lại thuộc về một thế giới khác: thế giới của âm thanh, nhịp điệu, vận động và trực giác. Trẻ em chưa biết chữ vẫn có thể thuộc đồng dao; chưa hiểu hết nghĩa vẫn có thể cảm được cái vui, cái nhịp,cái ngân nga trong từng câu hát. Chính sự giản dị ấy khiến đồng dao trở thành chiếc nôi đầu tiên nuôi dưỡng tiếng Việt trong tâm hồn con trẻ.
Điều nổi bật nhất của đồng dao là tính nhạc. Đồng dao trước hết là trò chơi của âm thanh. Những câu như:
“Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa đứt cương
Ba vương ngũ đế
Bắt dế đi tìm
Ù à ù ập"
nghe qua tưởng như ngẫu hứng, rời rạc, thậm chí vô nghĩa, nhưng lại có sức hấp dẫn rất lớn đối với trẻ nhỏ bởi nhịp điệu nhanh, âm thanh vui tai, tiết tấu dồn dập và lối lặp âm giàu tính ngân vang. Cũng vậy, bài:
“Nu na nu nống
Cái cống nằm trong
Cái ong nằm ngoài
Củ khoai chấm mật
Phật ngồi Phật khóc
Con cóc nhảy ra
Con gà ú òa”
gần như không cần giải thích mà vẫn sống mãi trong ký ức tuổi thơ nhiều thế hệ. Ở đây, điều hấp dẫn trẻ nhỏ không phải là ý nghĩa luận lý, mà là sự rung động đầu tiên của ngôn ngữ. Đồng dao giúp trẻ học nói bằng nhịp điệu, học nhớ bằng âm thanh, học cảm thế giới bằng tiết tấu ngân nga của tiếng mẹ đẻ.
Đồng dao không chỉ là lời hát, mà còn là trò chơi. Khác với nhiều thế loại văn học chỉ tồn tại bằng ngôn từ, đồng dao thường gắn liền với vận động cơ thể và sinh hoạt cộng đồng.
“Rồng rắn lên mây
Có cây lúc lắc
Hỏi thăm thầy thuốc
Có nhà hay không?”
không chỉ là một bài hát mà còn là một trò chơi tập thể, nơi trẻ em nối đuôi nhau thành hàng dài, vừa chạy vừa hát, vừa chơi vừa nhập vai.
“Dung dăng dung dẻ
Dắt trẻ đi chơi
Đến ngõ nhà trời
Lạy cậu lạy mợ
Cho cháu về quê
Cho dê đi học
Cho cóc ở nhà
Cho gà bới bếp
Xì xà xì xụp
Ngồi thụp xuống đây”
là bài hát gắn với bước chân, với vòng tròn, với nhịp di chuyển và tiếng cười cộng đồng.
“Tập tầm vông
Tay không tay có
Tập tầm vó
Tay có tay không”
lại là trò chơi đoán tay, luyện phản xạ, phán đoán và sự chú ý. Trong đồng dao, ngôn ngữ không đứng riêng mà hòa cùng vận động, nhịp chân, tiếng cười và luật chơi. Đó là một hình thức diễn xướng dân gian nguyên hợp, nơi trẻ em học ngôn ngữ bằng cả thân thể.
Đồng dao còn là thế giới đầu tiên của trí tưởng tượng. Trong đồng dao, mọi vật đều có linh hồn, mọi con vật đều có thể nói, có thể nghĩ, có thể sống như con người.
“Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo”
là một thế giới nhân hóa đầy hóm hỉnh, nơi mèo và chuột không còn là kẻ thù mà trở thành những nhân vật có quan hệ xã hội.
"Con công hay múa
Nó mùa làm sao?
Nó rụt cổ vào
Nó xòe cánh ra"
hay
“Kìa con bướm vàng
Xòe đôi cánh
Bươm bướm bay la la đà
Em ngồi xem”
là những quan sát đầu đời của trẻ về thế giới tự nhiên được chuyển hóa thành nhịp thơ trong trẻo. Thế giới đồng dao vừa thực vừa mơ, vừa gần gũi vừa lung linh, đúng với cấu trúc tâm hồn trẻ nhỏ: nhìn sự vật bằng ánh mắt ngạc nhiên, nhân hậu và tưởng tượng.
Tuy hồn nhiên và vui nhộn, đồng dao không tách rời đời sống thực mà trái lại phản chiếu rất rõ đời sống nông thôn Việt Nam xưa. Qua đồng dao, ta bắt gặp cả một không gian văn minh lúa nước: ruộng đồng, con trâu, cái cày, giếng nước, bờ ao, rau cà, nong nia, khung cửi, lũy tre, sân đình.
“Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công”
không chỉ là lời gọi trâu mà còn là một bức tranh mộc mạc của đời sống nông nghiệp.
“Dích dắc dích dắc
Khung cửi mắc vô
Kéo tơ cho khéo
Dệt lụa cho đều”
phản ánh nhịp sống thủ công của làng quê xưa. Hay như:
“Gánh nước tưới cà
Gánh ra tưới cải
Gánh về tưới rau
Rau xanh cải tốt
Mẹ nấu canh ngọt
Cho bé ăn no”
vừa là lời hát, vừa là một bức tranh sinh hoạt gia đình đầy chất quê. Qua lời đồng dao, trẻ em học gọi tên cây cỏ, con vật, học nhịp lao động và học cách nhìn thế giới bằng những hình ảnh gần gũi nhất.
Không chỉ nuôi dưỡng ngôn ngữ và trí tưởng tượng, đồng dao còn nuôi dưỡng tâm hồn. Đồng dao dạy trẻ cách hòa nhập cộng đồng, chơi cùng nhau, hát cùng nhau, chia sẻ niềm vui và học luật chơi tập thể. Trong tiếng hát trẻ thơ ấy, những hạt mầm đầu tiên của tình cảm, của sẻ chia và của nếp sống cộng đồng được gieo xuống một cách tự nhiên. Trẻ nhỏ chưa hiểu hết ý nghĩa của đoàn kết, của yêu thương, nhưng qua việc nắm tay nhau thành vòng tròn, cùng hát, cùng chơi, cùng chờ đến lượt mình, các em đã bắt đầu học cách sống với người khác, học tinh thần cộng đồng từ những điều giản dị nhất. Đồng dao không trực tiếp giảng giải đạo lý như ca dao, nhưng nó bồi đắp nền tảng đầu tiên để đứa trẻ lớn lên biết lắng nghe, biết hòa đồng, biết sẻ chia và biết yêu tiếng nói của chính dân tộc mình
Giá trị lớn nhất của đồng dao không nằm ở chỗ nó là nhi câu hát trẻ con, mà ở chỗ nó là tiếng nói đầu đời của văn hóa dân tộc. Trong đồng dao có tiếng Việt ở dạng tinh khôi nhất, có trí tưởng tượng dân gian ở dạng hồn nhiên nhất, có ký ức làng quê ở dạng nguyên sơ nhất, và có những mầm sống đầu tiên của tâm hồn Việt. Đồng dao là nơi đứa trẻ Việt Nam học nói, học chơi, học nhớ, học thương và học sống cùng người khác.
Ngày nay, giữa đời sống hiện đại, khi sân đình dần vắng, khi trò chơi dân gian nhường chỗ cho màn hình điện tử, đồng dao cũng dần lùi xa khỏi đời sống thường nhật. Nhưng mất đồng dao không chỉ là mất vài câu hát cũ, mà là mất đi một phần ký ức văn hóa dân tộc. Bởi trong đồng dao có tiếng nói của tổ tiên, có nhịp sống của làng quê, có tuổi thơ của nhiều thế hệ người Việt. Giữ gìn đồng dao vì thế không chỉ là lưu lại vài văn bản cổ, mà là giữ lấy một phần căn cốt tinh thần dân tộc, là giữ tiếng Việt từ buổi đầu cất tiếng của tuổi thơ trong trẻo nhất.
- Đồng Dao Việt Nam - Tiếng Hát Đầu Đời Của Tâm Hồn Dân Tộc Vũ Khắc Tế Nhận định
- Nhà văn Đặng Thơ Thơ, một tiếng nói nữ quyền - diễn ngôn trong văn chương Việt hải ngoại đương đại Vũ Khắc Tế Nhận định
- Nguyễn Kiến Thiết - Nguời Giữ Ngọn Lửa Tri Thức Nam Bộ Vũ Khắc Tế Nhận định
- Ký Ức Mùa Xuân - Bảy Mươi Năm Đã Trôi Qua Vũ Khắc Tế Tản mạn
• Đồng Dao Việt Nam - Tiếng Hát Đầu Đời Của Tâm Hồn Dân Tộc (Vũ Khắc Tế)
• Vũ Thất & Đời Thủy Thủ (Trần Thị Nguyệt Mai)
• Trần Đức Thảo, từ đỉnh tháp ngà xuống đất đỏ (Lưu Văn Vịnh)
• Vũ Hoàng Chương: Ta Còn Để Lại Gì Không - Cuộc Đời & Những tác phẩm tiêu biểu (Văn Học Press)
• Vũ Hoàng Chương: Ta Còn Để Lại Gì Không - Cuộc Đời & Những tác phẩm tiêu biểu - Lời Mở Đầu (Trần Huy Bích)![]()
Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)
Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng, Quyển Hạ
Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)
Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)
Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)
Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)
Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):
Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)
Sách Xưa (Quán Ven Đường)
Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)
(Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)
Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)
Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)
Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?
(Trùng Dương)
Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)
Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục
Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến
Đặng Tiến
20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975
Nguyễn Văn Lục
Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)
Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)
Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)
Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)
Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)
Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)
Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)
Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)
Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)
Dương Quảng Hàm (Viên Linh)
Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)
Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)
Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)
Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)
Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)
Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)
Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn
Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)
Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)
Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)
Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)
Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)
Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)
Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh
(Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)
Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)
Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn
Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)
Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An
Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)
|
© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com) |