1. Head_

    Nguyễn Duy Cần

    (15.7.1907 - 5.9.1998)
    Ad-25-TSu-2301360532 Ad-25-TSu-2301360532

     

     

    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Trần Đức Thảo, từ đỉnh tháp ngà xuống đất đỏ (Lưu Văn Vịnh) Ad-25-TSu-2301360532 Ad-25-TSu-2301360532

      30-8-2026 | VĂN HỌC

      Trần Đức Thảo, từ đỉnh tháp ngà xuống đất đỏ

        LƯU VĂN VỊNH
      Share File.php Share File
          

       


          Triết gia Trần Đức Thảo

      Khoảng 1959-60, giáo sư Trần Bích Lan, tức thi sĩ Nguyên Sa, ở Pháp về, ông kể: cuốn Phénoménologie et Matérialisme Dialectique - Hiện Tượng Luận và Duy vật Biện chứng- của Trần Đức Thảo là cuốn kinh điển, classique, được dùng ở Collège de France (1), hơn cả Sartre !


      Thời ấy, ảnh hưởng văn học Pháp còn sâu đậm ở VN, các vị tốt nghiệp từ các trường lớn bên Pháp, như Sư phạm Normale, Bách khoa Polytechnique, Cầu Cống Pont et Chaussée... cỡ Phạm Duy Khiêm, Hoàng Xuân Hãn, Trần Đức Thảo...được xã hội văn hiến VN tôn vinh đặc biệt như những ông Trạng tân học !


      Đấy là những trường lớn - Grandes Écoles, lựa chọn sinh viên xuất sắc, thường là Tú Tài Ưu hạng, thi vào rất khó, học 3-4 năm, với 1-2 năm dự bị, đậu từ Normale ra với bằng Thạc sĩ Agrégé, được dạy học cấp Trung học. Từ Agrégé mang nghĩa sư phạm, không phải học vị trên tiến sĩ như ngành y, luật... Trần Đức Thảo cũng đã ghi danh ở Sorbonne, đậu cao học DES Triết (luận văn về Hegel), ra trường hạng đầu (2 người đồng bảng) năm 1943 với luận văn về Husserl. Sự lựa chọn triết học lúc đó chỉ là do tính kiêu ngạo bồng bột của tuổi trẻ, muốn được mọi người nể phục như chính ông nói. Thật ra, nếu Toán học là vua của khoa học lý hoá thì Triết là vua của văn chương nhân văn, không có khiếu thì khó mà đạt thành, nhất là từ phương Đông sang học giới Tây phương


      Tuy mâu thuẫn với J.P.Sartre, Sartre nối Hiện sinh với Mác, Trần Đức Thảo nối Hiện tượng luận của Husserl với Duy vật Biện chứng, như thể cả hai đều đi vào Mác xít. Hai người bút chiến với nhau: Sartre và Merleau-Ponty cho rằng Marx chỉ quan trọng trong lĩnh vực xã hội chính trị, hiện sinh, existentialisme, mới là triết lý nhân bản chính. Trần Đức Thảo bắt bẻ Sartre: chính Mác-xít là triết lý nhân sinh, dẫn lối xã hội và chính trị vì Marx có luận giải về tương quan Ý thức và Vật chất (Conscience –Matière).


      Sau này, Trần Đức Thảo bỏ cả Hiện tượng luận Husserl lẫn Duy lý Duy tâm Hégel, vì cả hai đều mang hình thức lý tưởng duy tâm (idealistic) và yếu tố siêu hình . Cả Husserl lẫn Heidegger đều đi tới hư vô (nihilism), hiện hữu đi tới chết (being unto death). TĐ Thảo dùng duy vật biện chứng để tìm hiểu ngọn ngành của ý thức. Ông cho rằng phải chỉnh lý hiện tượng học-vốn không chú trọng tới Ý thức- bằng Marx qua xã hội và lao động của con người, nghĩa là qua kinh nghiệm sống.


      Năm 1973, Trần Đức Thảo ra một cuốn sách khác, khá có tiếng ở thời điểm ấy, Nghiên Cứu về Tiếng Nói và Ý thức (Recherches sur l'Origine du Langage et de la Conscience), tìm tòi tương quan sinh học và lý trí (materialist biological and cognitive) của con người. Ý thức là do sự phát triển của tiếng nói, mà tiếng nói thành hình qua hoạt động của con người trong những điều kiện vật chất. Trước đó, năm 1971, ông còn viết về hiện tượng học tâm trí và nội dung đích thực của nó (The phenomenology of mind and its real content). Về sau, ông còn bàn rộng thêm về hiện tại sống của Husserl qua bài viết về Le Présent Vivant, thời gian tính, về chuyển động lịch sử, thay vì bản chất thường hằng trong Hiện tượng luận Husserl.


      Trước khi mất, ông để lại ba tiểu luận cho Herman, gs Triết Western Florida Uni.. Tiểu luận về logic biện chứng đối lập với logic hình thức cứng đọng. Husserl đã viết Vận động của khoảnh khắc trong cái Hiện tại sống động, hiện tại sống động, cá nhân tính, trong cả sinh học khoa học, xây dựng lịch sử qua nhân tính sống thực chứ không phải lịch sử trừu tương . Ông triển khai Husserl và phê phán lời nói của Aristote “ khoa học chỉ đề cập cái tổng quát, sự tồn tại chỉ đề cập tới cái riêng.” là sai.


      Sartre đi thăm Nga năm 1950, ra về vỡ mộng nhưng chưa dứt hẳn mộng! Trần Đức Thảo đi xe lửa từ Nga, qua Tàu, về với VMCS 1951, tháp ngà cũng xụp đổ dần dần, ông phải đóng vai Tôn Tẫn giả điên 40 năm mới thoát chết, mà cũng là nhờ nhóm Sartre luôn thăm hỏi nên mạng sống của Thảo mới không thành cỏ dại trong Địa ngục đỏ từ 1951-1991! Ông vội về VN với hoài bão kháng chiến xây dựng Mác-xít đúng nghĩa như ông đã học và hiểu. Nghe nói ông từng phát biểu: các anh chẳng hiểu Mác gì cả, để tôi dậy cho! Nhưng rồi “ Chúng nó đã không tin tôi...chúng lo sợ đầu óc tôi có dịp bung ra phê phán cách mạng của chúng... ông mơ tưởng: xây dựng ở nước ta một mô hình cách mạng hoàn chỉnh, trong sáng và nhân đạo mà cả loài người chờ đợi..." (tr 83-84)


      NHỮNG PHÂN TÍCH VĂN HOÁ XÃ HỘI GIÁ TRỊ


      Con người tri thức thuần thành Trần Đức Thảo đã có nhữ kinh nghiệm sống và để lại những nhận xét tinh tế. Ông được Nguyễn Tuân dẫn ông vào thú ăn chơi một thời vang bóng: ông dự buổi hát ả đào chui với Nguyễn Tuân trên vùng núi rừng Tuyên Quang. Ông giật mình: hát ả đào vừa trữ tình, vừa huyền bí thiêng liêng như của tôn giáo. Nghe mà rợn cả người, như lạc vào cõi thiệu thai...tâm tư u buồn...hát opéra của Tây thì dùng sức buồng phổi đấy làn hơi qua thanh quản để đưa nốt nhạc vọt lên chót vót như thi tài với tiếng đàn... Ả đào thì ca nương phải kiềm chế làn hơi, rồi từ từ vừa đẩy, vừa níu lại làn hơi qua họng để uốn nắn âm thanh qua thanh quản, làm nó uyển chuyển, luyến láy, nghẹn ngào, như than van, nức nở, để bày tỏ nỗi niềm, Nguyễn Tuân bàn giải thêm: ca trù thẩm thấu tâm can vì nó chuyên chở âm điệu nuối tiếc, tình hận, chí cả sinh bất phùng thời của những kẻ bất mãn, bất đắc chí như anh đấy... ...Chúng ta là bọn Giang châu Tư mã đang bị giông bão thời cuộc đánh trôi dạt về cái bến Tầm Dương rừng rú này. Buồn lắm, thảm lắm anh ơi! (tr 91-95)


      Ông kể chuyện hồi VMCS mới tiếp thu Hà Nội 1954: một cặp tình nhân đang ngồi ngắm trăng bên Bờ Hồ Hoàn Kiếm bị Công An tới hỏi giấy giá thú! Với giọng nói đặc sệt các địa phương xa xôi, không mang chính giọng và chính tả ( từ cách viết tới phát âm).


      Ông kể súng SKZ của Trần Đại Nghĩa (trong nhóm sinh viên theo về VN từ 1946) chỉ thấy trên ảnh chứ không thường thấy trên trận đia (tr.281)


      Rất may, sau năm 1975, hai ông CS gộc, Trần Văn Giầu và Trần Bạch Đằng, đã ra Hà Nội, khẩn khoản khuyên ông vào miền Nam để sinh sống và làm việc trong những điều kiện thông thoáng hơn, tiện nghi hơn. Vào Sài Gòn năm 1987, ông kinh ngạc, tuy chưa khóc như Dương Thu Hương, nhưng ông cũng thấy ngay sự thật: miền Nam giải phóng miền Bắc chứ không phải ngược lại ! Ông thán phục lời ca Trịnh Công Sơn, cám ơn lệnh buông súng của DVMinh vì; nó giải thoát hàng vạn thanh niên miền Bắc ra khỏi rừng núi đầy bom đạn và muỗi mòng... tôi được vào sống ở SG chịu ảnh hưởng của người Saigòn (tr.341).


      Ở Sài Gòn, ông được giới trí thức miền Nam tấp nập tới thăm, ông hoàn thành một tập sách nhỏ: Con người và chủ nghĩa lý luận không có con người. chỉ trích lối lý luận giáo điều xơ cứng, coi con người chỉ là dụng cụ...đưa tới bế tắc tư tưởng (tr. 219). Ông quan sát xã hội đổi mới: Đi với đồng đôla Mỹ mà không có tự do dân chủ thì chỉ có đường làm đày tớ cho nó thôi...thế lực tư bản man rợ dật dây... mặt kinh tế thì buông thả để tư bản nước ngoài tung hoành lũng đoạn, vì tư bản nước ngoài sẽ là nguồn lực chính giúp Đảng và chế độ sống còn (tr.227)


      Ông diễn dịch súc tích: VĂN HÓA CHIẾN TRANH tồn đọng làm con người trở thành hung bạo hơn, gian xảo hơn, tàn nhẫn hơn trong suy nghĩ, hành động, nếp sống... Phong ba bão táp, không bằng ngữ pháp VN (dùng hiệp định để chuẩn bị mở rộng chiến tranh - tr.362).)


      NHỮNG CÂU TRIẾT LÝ THÂM THUÝ



             Đọc trên FLIPHTML5

      Qua hơn 400 trang sách Trần ĐứcThảo - Những lời Trăng Trối- của Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê do Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông HK - 2014, người đọc có thể rút tỉa ra những lời nói sâu sắc của triết gia Thảo:

      Khai gian (lý lịch) là làm triết gian triết đối rồi, còn gì là triết học nữa...


      Nếu ai cũng thỏa hiệp với dối trá và tội ác, thì dân còn hy vọng vào đâu, vào ai ? tr.238


      Những tư tưởng đúng với lương tri, thấm nhuần thực tại đều có sức mạnh của sự thật sẽ bung nở xoá đi gian trá và bạo lực- tr.239

      Riêng tư là một bản chất, một bản năng tự nhiên- tr.173!


      Giáo dục CS như vậy là dạy cách mài con dao cho sắc chứ không dạy cách dùng con dao -tr.178


      Trí tuệ là cách thay ác bằng thiện, mưu trí, mưu thần chước quỷ khác với trí tuệ Đưa Triết học vào cuộc sống -tr.197


      Tôi cũng bị, như cuồng vọng làm lãnh tụ của ông Cụ, cuồng vọng đi tìm một một mẫu mực cách mạng nhân bản trong sáng


      Sùng bái vì sợ hãi đã dẫn con người tới ngu tín-obscurantisme, và cuồng tín fanatisme, .thành nô lệ của những tín điều hoang tưởng - tr.198


      Ba cái sai sinh tử: Chọn chủ nghĩa xã hội Marx, chọn chiến tranh xoá bỏ hiệp định hoà bình, để bành trướng xh chủ nghĩa và thống nhất đất nước, chọn Mao và đảng CSTQ làm đồng minh đồng chí - tr.361

      Ta đã trồng cây tư tưởng của Marx, và cho tới nay thì cây đó vẫn cho toàn quả đắng- tr.69


      Không một ai muốn phấn đấu để trở thành con người vô sản - tr.380


      Chế độ Khmer đỏ của Pol Pot là chế độ diệt chủng đẫm máu. Dù sao đấy cũng là chế độ vô sản duy nhất đã thành hình trên trái đất. tr 378 Không có một thứ lý luận biện chứng nào có thể chứng minh rằng một xh đầy đen tối, đầy dối trá, độc ác, quỷ quyệt, đầy hận thù, tranh chấp, đầy chia rẽ và tham nhũng của hôm nay sẽ đẻ ra một thế giới đại đồng chân thật, đoàn kết, thương yêu, tốt đẹp cho nhân loại ...  tung tích của thủ phạm đưa tới sai lầm cơ bản của cách mạng là: sự thiếu vắng của thực tế hiện tại trong lý luận - tr.207.


      Thoát khỏi bế tắc, giáo điều, bảo thủ ấy, phải vận dụng lý luận vừa hình thức, vừa biện chứng thì sẽ thống nhất được lý luận với hành động, lý thuyết với thực hành, chính sách với sự thật. (tr.220)


      Từ trong lâu đài của Marx, khi bước ra, họ đã trở thành ác quỷ.

      Tìm tự do hạnh phúc ở nơi không có con quỷ quyền lực và con quỷ chiến tranh nó ám ...phải biết rằng chỉ có con quỷ mới kiêu căng, mới vui khi làm khổ, làm nhục con người. Quỷ ấy là thứ đầu óc đầy ý đồ gian xảo, hung bạo của quyền lực. Quỷ ấy là ý thức đấu tranh giai cấp, là thứ cuồng tín của bạo lực và hận thù - Chính trị và chiến tranh cách mạng là cơ hội thao túng của quỷ (tr.342-344)

      TRỞ LẠI THÁP NGÀ PARIS VỚI NHỮNG TOAN TÍNH TRIẾT HỌC LỚN!


      Có lẽ thấy ảnh hưởng của triết gia bắt đầu lan rộng, họ muốn ông đi cho khuất mắt, một ông quản giáo, Sông Trường, từ hồi ngoài Bắc, nay vào Nam, 1987, xếp đặt cho Trần Đức Thảo sang Pháp, ông cán bộ (từng làm việc cho Trường Chinh) nói một câu, có lẽ thành thật: ông ở đây mãi với lũ gà, chưa chán sao ?, anh sang Pháp đi, vì nếu anh ở lại Hà Nội hay Sài gòn thì cũng phí phạm thời gian của anh thôi...anh đi sẽ như đại bàng bay trở lại vùng trời cao... nó sẽ có thể làm được nhiều chuyện phi thường, khác với lúc nó bị nhốt trong chuồng, cho dù cái chuồng ấy tốt đẹp đến đâu nhưng vẫn phải sống với đàn gà... anh chưa chán cảnh phượng hoàng phải sống chung với đàn gà à ? đây phải chăng là lời nói rất thành thực của một quản giáo bắt đầu phản tỉnh, từng hiện diện trong buổi TĐThảo, chủ hoà, đấu với Trường Chinh (2), chủ chiến thời 1955 (tr.234-235)


      Dù cây tùng không chịu bật gốc, rút cục ông cũng trở lại Pháp năm 1991, chết bất đắc kỳ tử 1993, trong 2 năm, ông vẫn chịu sự quản chế, nhưng đại bàng trở lại vùng trời cao, đã diễn thuyết, đã suy tư, đã sám hối, cố tìm ra cách... xây dựng một lâu đài triết học, phá tan Tâm Hégel với Vật Marx, nhằm mang lại hạnh phúc cho nhân loại hoà bình khai phóng...


      Lưu Văn Vịnh

      Nguồn: Ngôn Ngữ số 44 | 1 Tháng 7 Năm 2026
      Tạp Chí Văn Học Nghệ Thuật

      Ad-22-A_Newest-Feb25-2022 Ad-22-A_Newest-Feb25-2022


      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Trần Đức Thảo, từ đỉnh tháp ngà xuống đất đỏ Lưu Văn Vịnh Nhận định

      - Văn Hóa Nam Bộ Là Tương Lai Của Việt Nam Lưu Văn Vịnh Nhận định

      - Nhà Giáo Xưa Lưu Văn Vịnh Nhận định

      - Việt Nam 200 Năm Chuyển Hóa Đất Nước Và Phân Hóa Dân Tộc Lưu Văn Vịnh Biên khảo

      - Từ Bãi Tắm Khỏa Thân Đến Chiêc Giường Của Chu Mạnh Trinh Lưu Văn Vịnh Tham luận

      - Âm Thanh Từ Một Bọc Trứng Lưu Văn Vịnh Nhận định

      - Nhất Linh người định nghĩa sống và định nghĩa chết Lưu Văn Vịnh Khảo luận

    3. Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam (Trong Nước) Ad-31 Ad-31 = QC_250-250 (Học Xá)

       

      Văn Học Nghệ Thuật Trong Nước

        Cùng Chỉ Số (Link)

      Văn Cao (Hoàng Văn Chí)

      Tiễn Thâm Tâm (Tuệ Sỹ)

      Thân phận trí thức trong xã hội cộng sản (Đọc “Tuỳ Tưởng Lục” của Ba Kim) (Vũ Thư Hiên)

      Tuyên bố của Ban Vận động Văn đoàn Độc lập Việt Nam về Giải Văn Việt lần thứ Ba (Văn Đoàn Độc Lập)

      Phê Bình Văn Học Hôm Nay: Phê Phán Nhiều, Sáng Tạo Ít (Vũ Tú Nam)

      Hà Minh Tuân: Giữa hai trận tuyến ngu ngơ

      (Lê Xuân Quang)

      Trần Đĩnh - Đèn Cù, Số Phận Việt Nam Dưới Chế Độ Cộng Sản (Diễn Đàn Thế Kỷ)

      Nghi Án 60 Năm (Trần Gia Phụng)

      Nhận Diện Chân Dung Nhà Văn: Quang Dũng, ... (Lý Hồng Xuân)

      Thụy Khuê với Nhân Văn Giai Phẩm (Hồ Trường An)

      Ghi (1954 - 1960) (Trần Dần)

      Thụy An (1916-1989) (Thụy Khuê)

      Về Kinh Bắc (Hoàng Cầm)

      Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt (Lưu Quang Vũ)

      Đêm Giữa Ban Ngày (Vũ Thư Hiên)

      Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất (Nguyễn Khải)

      Chuyện Kể Năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn)

      Hậu Chuyện Kể Năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn)

      Ba Người Khác (Tô Hoài)

      Đèn Cù - I (Trần Đĩnh)

      Đèn Cù - II (Trần Đĩnh)

      Thời Của Thánh Thần (Hoàng Minh Tường)

      Trần Đức Thảo - Những Lời Trăng Trối

      (Tri Vũ - Phan NGọc Khuê)

      Chế độ kiểm duyệt sách báo tại Việt Nam

       (Nguyễn Hưng Quốc)

      Phong Trào Nhân Văn Giai Phẩm (Thuỵ Khuê)

      Thụy Khuê và Nhân Văn Giai Phẩm (VietNam Film Club)

       

      Phim tài liệu (VietNam Film Club, 2013):

      Tập I:  Nhân Văn Giai Phẩm

      Tập II: Cải Cách Ruộng Đất

       

      Tác Giả

       

      Danh Mục Tác Giả: Cùng Chỉ Số (Link-2) Bùi Ngọc Tấn,  Hà Minh Tuân,  Hoài Thanh,  Hoàng Cầm,  Hữu Loan,  Lưu Hữu Phước,  Lưu Quang Vũ,  Nguyễn Công Hoan,  Nguyễn Khải,  Nguyễn Mạnh Tường,  Nguyên Ngọc,  Nguyễn Tuân,  Nguyễn Xuân Khoát,  Phan Khôi,  Phùng Cung,  

       

      Bài Viết về Văn Học (Học Xá)

       

      Bài viết về Văn Học

        Cùng Mục (Link)

      Đời Thủy Thủ 3: Chương 3: Từ An Thới Qua Hòn Đốc (Vũ Thất)

      Nguyễn Thị Khánh Minh: Lang Thang Nghìn Dặm Tập 2 (Văn Học Press)

      Nguyễn Thị Khánh Minh: Lang Thang Nghìn Dặm Tập 2 - Lời Giới Thiệu (Phan Tấn Hải)

      Đời Thủy Thủ 3: Chương 2: Tiếp Nhận Quyền Chỉ Huy (Vũ Thất)

      Đồng Dao Việt Nam - Tiếng Hát Đầu Đời Của Tâm Hồn Dân Tộc (Vũ Khắc Tế)


       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

       

      Văn Học (Học Xá)

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Danh Mục Tác Giả: Cùng Chỉ Số (Link-2) Aí Điểu,  An Khê,  Andrew Lâm,  Andrew X. Phạm,  Au Thị Phục An,  Bà Bút Trà,  Bà Tùng Long,  Bắc Phong,  Bàng Bá Lân,  Bảo Vân,  Bích Huyền,  Bích Khê,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Bích Hà,  

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)