|
|
|
|
|
VĂN HỌC |
GIAI THOẠI | TIỂU LUÂN | THƠ | TRUYỆN | THỜI LUẬN | NHÂN VẬT | ÂM NHẠC | HỘI HỌA | KHOA HỌC | GIẢI TRÍ | TIỂU SỬ |
Thơ Văn Trần Y. Hoa & Bằng hữu
Thơ Văn Trần Yên Hoà & Bằng hữu
Nhà thơ Vũ Hữu Định thời trẻ
Với chiều cao khoảng một thước sáu nhưng có bề ngang, cộng với dáng đi chữ bát, cộng thêm lối ăn vận lè phè, nhà thơ Vũ Hữu Ðịnh trông gần như hơi thấp. Anh không có khuôn mặt đẹp trai, nhưng nhìn rất bắt mắt. Nụ cười xuề xoà luôn luôn đi trước giọng nói dí dỏm, bộc trực đã thắp sáng khuôn mặt ngả màu nâu sậm của nhà thơ miền Trung ra đời vào năm 1942 tại Huế với tên thật Lê Quang Trung.
Năm 1970, năm tôi không may mắn phải giã từ rừng núi và phố chợ Quảng Ngãi để trở về với Ðà Nẵng, tôi đã gặp và quen nhà thơ Vũ Hữu Ðịnh. Lúc đó hình như anh đang mặc áo cán bộ xây dựng nông thôn. Ðịa bàn công tác của anh lòng vòng ven rìa thành phố như Thanh Khê, Hà Khê, An Hải, Sơn Trà... Anh chợt đi, chợt về. Ðặc biệt là lúc nào cũng có vẻ thong dong, giàu có thời giờ phất phơ phố xá. Anh làm thơ nhiều trong giai đoạn này. Thơ của anh hầu hết được đăng trên các tạp chí văn chương tại thủ đô Sài gòn. Bài "phố núi cao ...phố núi đầy sương...", một bài thơ viết về thị trấn Pleiku, một phố thị miền núi của cao nguyên Việt Nam, với đầy đủ nét hoang sơ, lạnh lùng, đã được nhìn, được vẽ bởi một nhà thơ hết lòng yêu thiên nhiên, nên vô cùng linh động, thân mật. Trời đất và con người như một khối đồng nhất, thở chung một nhịp. Tất cả đều có thật, ngoại trừ nhân vật chính, người đã khai mở, dẫn dắt thi tứ của chàng thi sĩ dừng chân ở một nơi "đi dăm phút trở về chốn cũ."
Trong cái hạn hẹp của một không gian hoang vắng, trước cái trống lạnh của tâm hồn, Vũ Hữu Ðịnh chợt thấy trên đường anh đang đi "may mà có em đời còn dễ thương." Và anh đã chân thành "cảm ơn thành phố có em", một thành phố núi đã ưu ái cho đời anh "còn một chút gì để nhớ, còn một chút gì để thương." Người em tuyệt vời kia, cái ngôi sao lấp lánh, thắp sáng cho cảnh sắc Pleiku quần tụ chung quanh, trong một cuộc nhúng lời vào rượu, Vũ Hữu Ðịnh đã tiết lộ cùng tôi, em chỉ là vóc dáng tưởng tượng mà anh đã nhặt ra trong những giờ phút trôi nổi linh hiển nhất của anh: làm thơ.
Mặc dù người đẹp của Vũ Hữu Ðịnh không hiển hiện bằng xương thịt như anh đã bày tỏ, nhưng nàng đã thở vào thơ anh làn hơi ấm áp tình người đủ để ngôn ngữ anh tác thành bài thơ lộng lẫỵ Và may mắn hơn nữa bài thơ đã được nhạc sĩ Phạm Duy, một nhạc sĩ tài hoa, chắp thêm cho đôi cánh vàng, nên sức bay của nó càng lên cao, thêm xa, sống còn đến ngày nay trong lòng người thưởng ngoạn.
Thơ Vũ Hữu Ðịnh giống như bản tính của anh: yêu đời, thong dong, cởi mở. Ngoài thơ và rượu, giao du với bạn bè cũng là cái thú lớn của anh. Người bạn thân của anh thời sau 1975 có lẽ là anh Ðoàn Huy Giao, một cựu nhân viên nhà in Da Vàng của anh Hoàng Công Khanh, bạn tôi.(Khanh chính là người bưng đi mất một trong những cụm hoa Thu, Đông, Xuân... trước ty thông tin Đà Nẵng).
Vũ Hữu Ðịnh lang thang suốt ngày chỉ với hai bàn chân, không phương tiện gì khác. Chúng tôi thường gặp nhau ở quán cà phê Lộng Ngọc của hoạ sĩ Lâm Quang Phước (con nhà thầu khoán Lâm Quang Tự, tốt nghiệp cùng vợ - Trinh - tại Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế, sau 1975, bỏ mình trong một cuộc vượt biển) hoặc tại một căn nhà trong con hẻm trên đường Nguyễn Hoàng, tổ ấm của đám thiếu nhi bụi đời sống ngoài hè phố. Vũ Hữu Ðịnh đảm nhiệm một phần công tác dìu dắt tinh thần các em ở đâỵ Nhìn anh trò chyện vui chơi với đám trẻ vô gia cư, ngoài việc bắt gặp nét hồn nhiên của anh, thỉnh thoảng tôi còn thấy thấp thoáng trong niềm vui của anh vướng mắc một cái gì thật man mác ngậm ngùi.

Vũ Hữu Ðịnh có một đời sống vật chất không mấy khả quan. Quen biết nhau khá lâu nhưng anh từ chối không thuận cho tôi đến nhà chơi, cũng không hề đề cập đến gia cảnh của anh. Biết anh có vợ, có con nhưng mãi về sau này tôi mới tình cờ được gặp trong một hoàn cảnh thật buồn. Mặc dù nghèo nhưng Vũ Hữu Ðịnh vẫn thong thả rong chơi. Cảm mến bản tính của anh, trong một bài thơ nhắc đến bạn bè, bài “Trên Vuông Chiếu Ðời Ta” in trong tập Rượu Hồng Ðã Rót xuất bản năm 1974, tôi đã viết về Vũ Hữu Ðịnh như sau:
“bỗng muốn như thằng Vũ Hữu Định / càng nghèo càng đói càng rong chơi / lang thang với lũ-con-hè-phố/ còn có ai hơn ? họa có trời / vá víu lòng sầu hoa với gạo / chẻ tình nhau buộc lại tao nôi / hát ca thay thế lời cầu nguyện / Thượng đế quên nhìn lũ bỏ rơi” (RHĐR-LH- 1974)
Biến cố của đất nước năm 1975 đã làm đảo lộn cuộc sống của chúng tôi. Nhưng phải thành thật mà nói, tôi và Vũ Hữu Ðịnh được may mắn, rất may mắn hơn nhiều người. Sau thời gian cải tạo ngắn ngày tại trại Ngô Văn Sở (trong thành phần sĩ quan đã giải ngũ), tôi được trở về công việc cũ nhờ có chút nghiệp vụ kế toán ngân hàng mà chính phủ mới đang cần. Trong lúc đó Vũ Hữu Ðịnh hình như đang còn bị cải tạo vì hai tội danh: cán bộ xây dựng nông thôn, tình nghi hoạt động cho CIA vì có chân trong tổ chức nuôi dưỡng đám thiếu nhi vô gia cư. Bỗng một đêm sau khi cửa hàng bán quạt máy cũ và phụ tùng của vợ tôi đã đóng cửa, chúng tôi đã ăn tối xong ngồi xớ rớ đợi điện đỏ lại, thường thường vào lúc chín giờ, thì có tiếng gõ cửa sau. Vũ Hữu Ðịnh bất ngờ đến thăm dẫn theo một người đàn ông trung niên. Người đàn ông với áo quần mặt mũi thơm tho hương đất Bắc, một mùi hương tôi đang rất sợ. Vũ Hữu Ðịnh vẫn cởi mở, vui vẻ như ngày nào. Anh không chậm trễ giới thiệu: nhà thơ Phùng Quán. Thật ngỡ ngàng xúc động. Trong niềm vui được gặp một nhà thơ từ lâu mình ưa thích, không hiểu sao tôi vẫn có chút lo sợ vơ vẩn. Vũ Hữu Ðịnh im lặng trong lúc anh Phùng Quán chăm chú đọc bài thơ đầu trong tập Rượu Hồng Ðã Rót của tôi.
"Thơ đúng là thơ!" Anh Phùng Quán chợt nói. Tôi liếc qua, không thấy anh Quán nhìn lại tôi, nhưng tôi đã cảm thấy yên tâm. Dĩ nhiên sau đó chúng tôi trò chuyện, tán gẫu về văn nghệ. Tiếc rằng ngày nay cả hai anh Phùng Quán và Vũ Hữu Ðịnh đều đã ra người thiên cổ nên tôi không dám kể lể nhiều ở đây.
Lần gặp gỡ anh Phùng Quán đó là lần đầu và cũng là lần cuối. Cũng may tôi đã ghi lại ít dòng thơ để kỷ niệm. Bài thơ có tên Mừng Gặp Người Bạn Thơ được in trong tập “Hơi Thở Việt Nam” do Sông Thu và Nhân Văn xuất bản tại Hoa kỳ năm 1986. Tôi xin phép được trích dẫn hai đoạn cuối của bài thơ đó:
....
“bạn có nhớ không lời mẹ dặn
hoang vu nằm dưới những gót giày
ta mơ trời sáng ngồi chép lại
thơ bạn run lên những ngón tay
giờ chừ đãi bạn không còn rượu
chan chứa còn đôi giọt mực này
và đây khói thuốc ngày gặp gỡ
đóm lửa lòe lên được mấy giây “
(Hơi Thở Việt Nam, trang 83)
Bài thơ này tôi chưa có dịp gửi đến anh Phùng Quán và chắc chắn bạn đọc cũng rất khó phát giác tôi viết để tặng anh. Bởi lẽ ba chữ Lời Mẹ Dặn tôi cố tình cho in bình thường không viết hoa. Vũ Hữu Ðịnh cũng chưa đọc qua bài thơ này, kể cả nhiều bài khác tôi viết sau năm 1975. Tôi ngại cho anh đọc bởi vì anh có tính thích bốc thơm bạn bè lại không được kín miệng khi đã say chuyện văn nghệ. Thời điểm này Vũ Hữu Ðịnh cũng làm thơ nhiều, mỗi lần ghé tôi chơi anh đều đọc cho tôi nghe những sáng tác mới. Tiếc rằng trí nhớ của tôi rất tồi tệ và thú thật tôi đã rất lơ đãng trước nhiệt tình của anh. Tôi sợ. Không phải sợ Vũ Hữu Ðịnh mà sợ những ông bạn văn mới có, cũ có đang quây quần bên anh.
Trước khi tôi xin nghỉ việc để lo giấy tờ xuất cảnh, Vũ Hữu Ðịnh còn tạo cho chúng tôi một kỷ niệm khó quên. Lúc đó không hiểu vì lý do nào, và từ bao giờ Vũ Hữu Ðịnh được vào làm việc tại Nhà Ðèn Ðà Nẵng. Anh còn tạo được uy tín trong đám công nhân cùng sở. Họ đã ủy thác cho anh làm đại diện đến ngân hàng để xin rút số tiền bị thu đổi còn quản lý. Danh sách công nhân quá đông. Theo quy chế ngân hàng chỉ duyệt chi cho mỗi cá nhân một số nhất định. Vũ Hữu Ðịnh đã thuyết phục tôi lợi dụng sự ưu ái của người kế toán trưởng đối với cá nhân tôi, duyệt chi cho anh và tất cả bạn anh toàn bộ số tiền. Tôi thật vui khi hoàn thành được công việc nàỵ Nhưng chưa đầy một tháng sau, tôi lo sợ biết được cả số tiền đó Vũ Hữu Ðịnh đã thua trong một cuộc cá độ bóng tròn trước sân Chi Lăng. Tôi chờ đợi sự rắc rối đến với người kế toán trưởng và chắc chắn có ảnh hưởng đến tôi khi có người đến khiếu nại sự duyệt chi. Nhưng rồi mọi sự cũng qua. Gặp Ðịnh, vẫn với nụ cười đi tiên phong, anh đã hạ ngay những bực mình cố hữu của tôi. Tôi cũng là một người mê bóng tròn nên thời gian cùng Ðịnh đứng tán dóc trước sân Chi Lăng không phải là ít.
Một hôm đang ngồi với họa sĩ Hoàng Trọng Bân trong một quán cà phê vỉa hè ở Saigon, tôi bàng hoàng nhận được tin Vũ Hữu Ðịnh đã mất qua một người quen vừa từ Ðà Nẵng vào. Người bạn đó kể lại anh nghe đồn có hai nguồn tin về cái chết đáng tiếc này. Thứ nhất, Vũ Hữu Ðịnh đến chơi nhà một người bạn văn bên An Hải (bên kia sông Hàn) và vì nhậu quá say, trong lúc tìm nơi tiểu tiện đã ngã xuống từ trên gác lửng bỏ mạng. Thứ hai, Vũ Hữu Ðịnh được một số đông bạn văn mời nhậu, tất cả cùng quá chén và trong cái say hương rượu nội địa đó có người đã cố tình xô ngã Vũ Hữu Ðịnh vào cửa tử.
Giữa thời cái ác lấn cái thiện, mạng sống con người rẻ hơn phân bón, trước cái chết của một người từng được gán nhãn hiệu ngụy quyền, ngụy dân, ai hơi đâu phí công điều tra, tìm hiểu. Tôi nhức đầu liền mấy ngày trước tin Vũ Hữu Ðịnh mất. Tôi không hề tin anh bị mưu sát, nhưng lạ thật, trong lòng cứ băn khoăn.
Hôm nay, ngồi trên đất người, tự cho phép mình về hưu non, nhớ, viết về đám bạn già cũ trong những ngày ngồi chờ ăn cháo lú cũng là một cái thú. Và khi viết về Vũ Hữu Ðịnh, nỗi băn khoăn của tôi vẫn còn thao thức. Tôi hy vọng sẽ có một ngày nhận được từ đâu đó trong đám bạn bè cũ của chúng tôi, cho tôi biết thật chính xác về cái chết của Vũ Hữu Ðịnh. Dĩ nhiên biết chỉ để mà biết. Quả là một trong những cái lẩm cẩm của một con người đang ở vào giai đoạn nuôi mạng sống mình bằng hai thành phần thực phẩm: kỷ niệm nhiều hơn chất đạm
Viết về Vũ Hữu Ðịnh mà không nhớ, không tìm ra đôi bài thơ của anh để gởi đến bạn đọc cùng thưởng thức thì thật là thiếu sót. Ðã thế, vì kỷ niệm, tôi đã tham lam trích dẫn ít dòng thơ của tôi và cuối bài viết này tôi cũng không thể không liều lĩnh trích thêm bốn câu nữa trong thi tập “Nuôi Thơm Chùm Kỷ Niệm Xanh” (xuất bản năm 1994) đã dành cho Vũ Hữu Ðịnh như một nén nhang:
“Gặp nhau giữa đám bụi đời / Trải lòng mà rước nhau ngồi với thơ / Mày theo Lý Bạch, bất ngờ / Nhói lòng ta rắc rượu vào ánh trăng”
Xin vĩnh biệt người bạn thơ đã để lại trong tôi rất nhiều điều để nhớ, rất nhiều điều để thương.
(Tạp Chí Văn số 163, tháng 12-1996, California, Hoa Kỳ)
Đoạn trên được viết vào năm 1995, tạp chí Văn tại Hoa Kỳ đăng trong số 163 tháng 12 năm 1996. Trước khi in, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Văn, có than phiền qua điện thoại với nhà văn Song Thao: “Viết về Vũ Hữu Định, nhưng ông ấy (LH) không trích câu thơ nào của Định, mà toàn trích thơ của ông ta (LH)...” Anh Hoàng chỉ trích rất đúng. Tuy nhiên vào thời đó tại hải ngoại (có thể chỉ tại Montréal Canada) không tìm ra bài thơ nào của Định. Kể cả tại thư viện Côte des Neiges hay thư viện Mile End rất giàu sách Việt ngữ, trên đường Avenue du Parc. Tôi là người cả đời không hề thuộc hoàn hảo một bài thơ nào, kể cả thơ của mình. Bài Còn Một Chút Gì Để Nhớ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, tôi cũng không thuộc và cũng không tin bài này được phổ đúng nguyên tác một trăm phần trăm. Biết thiếu sót nhưng tôi không thể làm gì hơn. Hơn nữa bài viết của tôi không có mục đích bình giảng, giới thiệu về thơ. Nó chỉ có mục đích gợi lại một vài nét kỷ niệm với tác giả. Và đã là kỷ niệm thì việc tôi đã làm thơ về tác giả đó không thể không nhắc đến, không minh chứng. Anh Nguyễn Xuân Hoàng tuy chỉ trích nhưng vẫn cho “đi” bài. Có lẽ anh cũng đã nhận thấy điểm này. Cũng như anh, tôi rất tiếc đã không có thơ của Định để giới thiệu với bạn đọc. Rất may, cũng vào năm 1996, tại quốc nội, một số bạn văn, đã góp tay, góp tài chánh để thực hiện tập thơ của Vũ Hữu Định. Tập thơ hoàn tất hình như có gởi ra hải ngoại. Họa sĩ Đinh Cường, định cư tại Virginia Hoa Kỳ, có nhận được một bản. Anh Cường có điện thoại tin cho tôi, và khi biết tôi chưa có thi phẩm quí này, Đinh Cường gởi cho tôi một tập photocopie. Sau đó tôi nhận được bản chính gởi tặng bởi nhà thơ Thành Tôn. Có bản chính, tôi được biết những bạn văn có lòng in thơ cho Vũ Hữu Định gồm có:
Trần Dzạ Lữ, Nguyễn Tịnh Đông, Cung Tích Biền, Hạc Thành Hoa, Trần Từ Duy, Phạm Thanh Chương, Đoàn Thạch Biên, Mường Mán, Võ Chân Cửu, Đỗ Trung Quân, Lê Nhược Thủy, Trần Phá Nhạc, Vũ Trọng Quang, Nguyễn Đạt, Ngô Nguyên Nghiễm, Trương Đình Quế, Phạm Chu Sa, Nguyễn Tiến Toàn, Phạm Triều, Huy Tưởng, Vũ Đức Sao Biển, Phan Bá Chức, Khiêm Lê Trung, Nguyễn Lương Vy, Nguyễn Công Khế, Lê Văn Đồng, Vĩnh Cửu, Huỳnh Văn Dung, Huỳnh Ngọc Chênh, Lữ Quỳnh, Đinh Trầm Ca, Vân Khanh, Phạm Mạnh Hiên, Ý Nhi, Lê Triều Điển, Trịnh Bửu Hoài, Nguyễn Nhật Ánh, Bùi Chí Vinh, Phạm Văn Hạnh, Lê Xuân Tiến, Ngô Thị Kim Cúc, Hồ Thi Ca, Lê Minh Quốc, Kim Tuấn, Hà Nguyên Thạch, Nguyễn Miên Thảo, Trần Xuân An, Lê Khắc Cường, Trần Thanh Quang, Nguyễn Tam Phù Sa, Đặng Trọng Dũng, Bùi Đức Long, Nguyên Minh, Lê Thánh Thư, Nguyễn Tấn Phát, Nguyễn Việt Hải, Trần Quang Lộc, Nguyễn Hữu Phước, Trương Văn Ngọc, Hàn Tấn Quang.
Tổ chức thực hiện thi phẩm này do anh Trần Từ Duy, một cây bút của báo Cười ở Sài Gòn.
Danh sách này, tôi chép nguyên văn trong thi phẩm Còn Một Chút Gì Để Nhớ...của Vũ Hữu Định, ở 4 trang đầu, không đánh số. Tôi không rõ danh sách được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên nào hay không, có lẽ đây chỉ là là tùy hứng của người đánh máy.
Tập thơ của Vũ Hữu Định được nhà xuất bản Trẻ tại thành phố HCM ấn hành. Bìa được trình bày rất trang nhã. Và trang cuối sách có ghi rõ (sao nguyên văn):
“Chịu trách nhiệm xuất bản: Lê Hoàng, Biên tập: Chinh Văn. Ảnh bìa 1: Thu Thủy. Trình bày: Nguyễn Việt Hải. Phụ bản: Nguyễn Trung, Đỗ Hoàng Tường, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Việt Hải. Chữa bản in: Phan Ngọc. In 1000 cuốn, khổ 14 x 20, tại xí nghiệp in Tuần báo Văn Nghệ TP.HCM. Số đăng ký kế hoạch xuất bản 666/185 do cục Xuất bản cấp ngày 28.11.1994 và quyết định xuất bản số 634 TN/95 do Nhà xuất bản Trẻ cấp ngày 30.5.1996. In xong và nộp lưu chiếu tháng 6 năm 1996.”
Qua những thông tin trên cho thấy, việc in một tập thơ tại Việt Nam vẫn còn khá nhiều giai đoạn rắc rối trong thời điểm 1996. Dù sao cũng đáng mừng, một nhà thơ ở miền đất phương nam cũ đã có thể trình làng những gì họ đã viết.
Tập Còn Một Chút Gì Để Nhớ...có 91 trang thơ kể cả 8 trang phụ bản. Số thơ của Vũ Hữu Định được sưu tập giới thiệu trong tập này được xếp theo mục lục: Còn một chút gì để nhớ (trang 7), Những ngày long đong (8), Tới Đại Ninh tìm nhà bạn (10), Bến Cũ (11), Tưởng tượng (12), Một ngày của gã thất tình (14), Màu trời cũ (16), Quê rượu (17), Màu núi vẫn xanh (18), Những cánh bèo trên sông Đại Ninh (19), Luận với đàn bà (20), Thấy gái luận với mình (21), Luận với anh bạn già (22), Đứng ở bờ sông thấy cá nhảy lên bờ luận với mình (25), Bất sá nhớ thằng bạn xa quê (28), Đêm nghe còi tàu (31), Lúc em khóc (32), Mỏi mòn sức lực (33), Gãy chiếc cầu tre (34), Cũng có khi nào (36), Năm xưa (38), Tưởng niệm Đỗ Công Tráng (41), Đêm mưa thiếu rượu , nhớ Lý Hạ (42), Anh đang còn thở (44), Kỷ niệm (46), Ngày xuân ở quán (48), Quán cô hồn (51), Mù mù mờ mờ (52), Rừng, chim (54), Thượng nguồn (56), Chim sáo sang sông (58), Tiếng dội của sương chiều (60), Hoa (65), Gởi chút tình thân (66), Thời tiết (68), Khúc hát người lỡ vận (72), Kẻ ở lại (74), Đứng giữa đồng không (76), Bình minh trong núi (77), Về một chỗ nào (78), Đời vẫn có em (80), Ngậm ngùi (82), Cũng phải nói một lần (85), Bài thơ năm bốn mươi (87). Tổng cộng 41 bài với đủ thể loại thông dụng.
Thay vì viết những dòng nhận xét về thơ, tôi đã làm một việc ngớ ngẩn là liệt kê những điều bên lề của cuốn sách, bời vì tôi biết được khả năng của mình, không thể “tán hươu tán vượn”. Hơn nữa, chép lại những đề bài cũng chưa chắc là vô ích. Việc tôi làm có thể nói lên sự thiếu sót những sáng tác của tác giả Vũ Hữu Đinh, đồng thời đề bài sẽ giúp người sưu tập khỏi phải tìm lại những bài đã có. Dĩ nhiên, có đến chín mươi phần trăm, tôi chỉ ngụy biện.
Tháng 7 năm 1997 nhà thơ Đynh Trầm Ca, một người bạn chí thân của Vũ Hữu Định, ở Sài Gòn, có viết bài: Thơ, Rượu và Sự Cứu Rỗi . Bài viết của anh Đynh Trầm Ca được đăng trên đặc san Quảng Đà số xuân Mậu Dần, 1998 của vợ chồng Ái Cầm, Thái Tú Hạp, thực hiện tại California, Hoa Kỳ. Qua bài viết này, tôi được biết thêm về Vũ Hữu Định đôi điều.
Vũ Hữu Định bắt đầu làm thơ từ đầu thập niên 60, với bút hiệu đầu tiên Hàn Phong Lệ, và theo thời gian cùng sự chiếu cố của các tạp chí, anh thay đổi nhiều bút danh khác nữa. Bản tính của Định qua nhận xét của Đynh Trầm Ca: thích giang hồ, vui tính, thường tạo cơ hội gặp gỡ vui chơi cho nhiều người khác, thích tụ tập, nhiệt tình đề cao bạn bè mình quen với người khác. Nhưng hơi thiếu trách nhiệm với gia đình, nhất là với Vân, người vợ hiền, một đời chăm lo mẫu thân đau yếu của Định. Về tài năng, Đinh trầm Ca nhận xét, Vũ Hữu Định có thể sử dụng đàn Tây ban cầm và giọng hát rất tốt, đã từng mượn quán của ca sĩ Khánh Ly ở Sài Gòn để ca hát cùng nhạc sĩ Trần Quang Lộc. Đynh Trầm Ca cũng cho biết, Vũ Hữu Định còn có một tập bản thảo thơ, chép tay, lấy tên là Năm Năm. Bản thảo này từng được Vũ Hữu Định bỏ lại tại nhà Đynh Trầm Ca. Ông Đynh Trầm Ca, tác giả ca khúc Sông Quê, đọc được nhiều bài thơ hay trong bản thảo Năm Năm, sau đó đem giao bản thảo lại cho Lê Quang Tấn, em ruột Vũ Hữu Định. Đynh Trầm Ca cũng không quên ao ước, trong tương lai sẽ có thêm một Trần Từ Duy khác lo liệu tiếp việc in ấn thơ cho Vũ Hữu Định.
Hy vọng của Đynh Trầm Ca trở thành hiện thực khi nhóm Thư Ấn Quán của Phạm Văn Nhàn, Trần Hoài Thư tại Hoa Kỳ cho phát hành thi tập Tình Ca Người Lỡ Vận của Vũ Hữu Định. Cũng như những tác phẩm của Nguyễn Bắc Sơn, Y Uyên, Linh Phương... trước đây, Tình Ca Người Lỡ Vận được nhóm chủ trương gởi tặng bạn đọc trong tinh thần “bảo lưu và truyền bá di sản văn học Miền Nam”. Tập thơ được nhà phê bình Đặng Tiến viết lời dẫn nhập. Ông mở đầu bài viết bằng nhận định:
“Văn thơ Miền Nam 1954-1975 được gọi là nền văn học bất hạnh. Vì nó đã bị xuyên tạc, tuyên án, thiêu hủy và bôi xóa ; các tác giả đã bị tù đày, đọa đày và lưu đày. Trong số đó, có nhà thơ Vũ Hữu Định (1941-1981), từ 1972 đã xem mình như một người lỡ vận:
Ta đã hát khúc hát đời lỡ vận
Hát âm u trong đêm tối một mình. (tr. 79)

Kệ sách Học Xá
Sau vài dòng giới thiệu tiểu sử Vũ Hữu Định, cùng nêu rõ việc làm của nhóm Thư Ấn Quán, nhà phê bình Đặng Tiến đưa ra nhận định:
“Thơ Vũ Hữu Định lần này gồm 80 bài – chắc là còn thiếu – là một tập thơ hay, tài hoa, trong sáng, đáp ứng được sở thích đông đảo người đọc; một tác phẩm có giá trị cao về mặt tư tưởng, tình cảm, nghệ thuật, lưu lại tấm lòng của nhà thơ quá cố, ghi tạc niềm thủy chung của bằng hữu, trong một hoàn cảnh lịch sử, xã hội nghiệt ngã và bạc bẽo.
Qua thơ, những đề tài chính của Vũ Hữu Định, được ông Đặng Tiến phân tích rõ, từ cái tôi của tác giả, đến tình bè bạn, tình quê hương và tình yêu.
Với cái tôi, nhà phê bình trích dẫn những bài thơ, những câu sau đây để minh chứng:
bốn mươi tuổi rồi đây
vợ năm con không no không đói
…
bốn mươi tuổi rồi
hai lăm năm uống đắng (giỏi nghề rượu từ thuở mười lăm)
học hành thì lăng nhăng
thân tự lập thân từ năm bảy tuổi
không nhớ hết nghề đã trải
bán báo, đánh giày, ở đợ
đánh trống phòng trà, dạy học, làm thơ
phó giám đốc nuôi trẻ bơ vơ
còn cả chục nghề thôi không kể
ham đọc sách chẳng phải vì ham học
thần thánh trăm ông chẳng phục ông nào
ông nào cũng tốt
ông nào cũng tào lao
có lắm thánh nhân thì đời chỉ rối mù
nhiều triết học thêm tối mù đa sự
…
bốn mươi năm khoảng dăm lần tù
…
(Kiểm điểm, tr.99)
Sinh nhằm tuổi Ngọ, đêm vừa hết..
Mới hai tháng đã biết mùi bom đạn
(Ngựa hí đầu non)
Đã theo mẹ đêm đêm qua xóm
xách đèn rao khoai sắn cầm hơi (tr.80,)
Bảy năm tình chồng vợ
bảy năm em hẩm hiu
lần nào em sinh nở
ta cũng phải vắng nhà
đứa đầu lòng tù tội
đứa thứ hai, đi xa.
(Cảm ơn người vợ, tr.143)
Năm đứa con như năm hạt ngọc
Nếu không có em sao khỏi cát lầm
Còn anh thì cứ lông bông… (tr. 101)
Nợ nần chưa thoát nổi
càng nợ, càng hăng vay
thiếu cái danh, nhưng không thiếu bạn bè
đi đâu cũng có phần rượu tặng. (tr.99)
Với tình bạn, những câu thơ của Vũ Hữu Định, được Ông Đặng Tiến trích dẫn:
“Trên non may có tình bằng hữu
tuổi trẻ đau chung một khúc ca
ôm nhau thức với vầng trăng lạnh
vượt lá tìm sao định hướng nhà.
có những ngày đi trong núi thẳm
tuổi trẻ nhìn nhau, nhớ xóm thương làng
thở chung một tiếng nghe sầu cháy
tâm sự chuyền nhau điếu thuốc quan san
cám ơn điêu đứng rừng sinh tử
cạm bẫy người giăng để giết người
tuổi trẻ gần nhau trong gió lửa
giữ dùm nhau những tiếng chim cười. (tr.58)
Ngày Huế giải phóng
mày lang thang trong Nam
…
xa nhau càng nghĩ càng thương/
thằng bạn thơ cuộc đời bầm dập/
trốn lính, đi lính, rồi thì học tập/
thương ơi câu nói «ở răng cho vừa đời»
…
nghe nói mày về quê đi bán bánh mì
vợ giặt mướn cho nhà thương đẻ
rồi nghe nói mày đi Nam trở lại
quê không dụng nổi đôi vợ chồng thơ
năm năm rồi mày sống xa quê
ôi cái làng quê Nam Phổ Hạ
một thời chiến tranh mày quay quắt mong về
(tr. 54, bài Chuyện người tuổi trẻ, tặng Trần Dzạ Lữ)
Với quê hương, Ông Đặng Tiến chọn những bài sau:
Mùa lúa năm nay đòng đòng đã trổ
anh yêu mùa yêu đất yêu quê. (tr. 42)
Những con lạch anh chèo ghe thăm lúa
thả lưới giăng câu, mười mấy năm ròng
…
Cau với bưởi bây giờ thơm hương trái
em bên vườn da thịt có thơm không? (tr. 41)
Mây còn bay nên đời còn mộng
tuổi trẻ ra đi sao lại nhớ nhà
ơi người tuổi trẻ sầu trong mắt
đêm trên rừng mộng gởi quê xa.
quê xa ta có em và mẹ,
nhớ ao bèo xanh bông tím thiết tha
nhớ người con gái bên hàng xóm
chiều thả thuyền vớt mộng nở hoa… (tr.57)
nghĩ ra thì ở đâu cũng vậy
ta vẫn là ta khinh bạc đắng cay
có lẽ ta là thằng bất sá
cớ sao ở đâu rồi cũng bằng lòng
thả trôi cái sống cho đời giạt
mẹ buồn ta tóc trắng lưng cong (tr.52)
Hoa dại ven đường gửi lại các em
Tiếng giã gạo gửi cho người mất ngủ
Trăng mười bốn gởi tâm hồn thiếu nữ
Trăng mười lăm gởi những kẻ yêu nhau
Với Tình Yêu, Đặng Tiến trích dẫn thơ Vũ Hữu Định:
Anh đang sống thiếu một phần thân thể
sống thiếu em nên anh thở không đều
thèm ngực trần, môi ngọt với tay yêu
đã trói chặt hồn trăm năm lãng tử
…
đã quen đau nên thấy được mặn mà
của tội lỗi mà anh kêu hạnh phúc
ôi vết chém đã qua thời đau nhức
đâm da non để thành sẹo muôn đời
anh thở đều để sống em ơi. (tr.44)
anh nằm đâu, ngồi đâu
ngó nước nguồn reo vỡ
nước nguồn chảy bao năm
đá núi mòn dấu nhớ
anh nằm đây, ngồi đây
một mình anh vẫn thở
mười năm trong trắc trở
anh thở khác ngày xưa
nghe dội tiếng rừng mưa
nghe vang lời suối nhớ
…
anh nằm nghe lay động
đau của những nhánh cành
anh ngồi trong lá xanh
trên những hồn lá chết
tay anh nắm tha thiết
những chiếc lá còn tươi
thả xuống suối mà chơi
trôi đi còn tiếng dội…
(tr.46, bài Tiếng dội của sương chiều)
Anh đang sống - đang thở đều rất lạ
Thở yêu em yêu đau đớn của đời
Anh cảm được phút của mùa đang đổi
Giây của sông dừng lại đợi chiều trôi
Ở đâu đó rừng của Thu ảm đạm
Uống chút hương hoa của suối mà say
Mây của nghìn năm mây vẫn là mây
Nhưng một buổi lạ như vừa mới có
…
Một ngày nào mặt trời kia rét lạnh
Máu đỏ trùng dương một lần chết cuối cùng
Giấc lạnh vang lời gió nhắn với rừng
Anh hối hả trở về mau cho kịp.
(tr. 95, bài Rừng hương mật đắm đuối)
Sướng quá, nâng ly, khà một tiếng
Mừng rằng sắc núi vẫn màu xanh
Đám mây bay thấp ngang nhà cỏ
Hương rượu nồng hơn mọi thứ tình. (tr.14)
Có lẽ con chim rừng bữa nọ
Hát với anh là chia sẻ ngọn nguồn. (tr.18)
Con chim bỏ đi có bận quay về
Cất tiếng hát chào niềm vui của gió. (tr. 121)
Con chim lạ lùng năm nọ của tôi ơi
Hóa mấy kiếp mà sao tôi vẫn vậy. (tr.123)
Tôi đã vừa copy những chọn lựa, trích dẫn của nhà phê bình văn học Đặng Tiến khi viết về thơ Vũ Hữu Định. Dĩ nhiên ở trước mỗi trích dẫn, nhà phê bình đều đã đưa ra những nhận xét vàng ngọc của ông. Tôi đã ăn cắp phần trích dẫn của ông, nên không thể chép nguyên những đánh giá đầy trọng lượng của ông Đặng Tiến. Cũng xin được nói rõ, sở dĩ tôi đưa cả những thơ Vũ Hữu Định qua chọn lựa của một nhà phê bình nổi tiếng vào bài viết rất thừa của tôi vì muốn giới thiệu thơ Vũ Hữu Định bù vào bài đã viết mấy năm trước (phần 1) nhưng tôi chưa được có, được đọc thi tập Tình Ca Của Người Lỡ Vận. Mong việc làm hồ đồ này được tác giả Đặng Tiến cũng như các anh Phạm Văn Nhàn, Trần Hoài Thư lượng thứ. Và để bạn đọc hiểu đại khái về những nhận định của người viết lời dẫn nhập cho thi phẩm Tình Ca Người Lỡ Vận, tôi xin trích một vài câu tiêu biểu của ông Đặng Tiến
Về tình bạn:
... “Tình yêu cũng như tình bạn, Vũ Hữu Định người đã ra đi, tình còn ở lại...”
Về tình quê hương:
... “Tình quê nơi Vũ Hữu Định quyện với tình bạn và tình yêu là một khát vọng hạnh phúc trong nguồn cội...”
Về tình yêu:
... “Thơ tình ngày nay muốn thành công phải giàu lượng trí tuệ và chất nghệ thuật, nhưng thơ hoa mỹ lại mất nét thành thực đơn sơ mà tình yêu chính là xúc cảm đơn sơ. Thơ tình Vũ Hữu Định gây cảm xúc vì chỗ tha thiết mà tự nhiên ấy...”
Nhà phê bình nhìn chung về thơ Vũ Hữu Định:
“Thơ Vũ Hữu Định là điển hình cho thơ trữ tình hiện đại. Nó không gai góc, thách thức; ngược lại, nó kết thân, đằm thắm, quen thuộc. Lay động người đọc bằng tình cảm trong sáng và thiết tha, bằng nét tài hoa vô tội.”
Bài dẫn nhập cho thơ Vũ Hữu Định, ông Đặng Tiến viết xong tại Orléans, ngày 25 tháng 2 năm 2006. Ngày hôm qua, 7 tháng 3 năm 2006, tôi gởi điện thư xin anh cho đọc và nhận được sáng hôm nay, 8-3-2006. Vô cùng cảm ơn anh Đặng Tiến, nhắn riêng: mong được đọc thêm các bài thơ của anh dưới bút hiệu Nam Chi.
Bên cạnh bài viết của nhà phê bình Đặng Tiến, tôi còn nhận được bài Vũ Hữu Định Ơi, Ngựa Hí Tiếng Gì của nhà thơ Hoàng Lộc. Bài này anh Lộc cũng dành cho Thư Ấn Quán, nhưng gởi cho tôi xem khi tôi hỏi về những kỷ niệm giữa anh và Vũ Hữu Định. Nhờ bài của Hoàng Lộc tôi lại được biết thêm vài sinh hoạt nữa của nhà thơ Còn Một Chút Gì Để Nhớ..:
Mùa thu năm 1973, Vũ Hữu Định đã ngâm thơ ca hát rất thành công tại trường trung học Trần Qúy Cáp Hội An.
Anh đã từng làm báo Xuân cho đám trẻ em hè phố tại Đà Nẵng và đã nhờ Hoàng Lộc in cho 500 mẫu bìa, khi Hoàng Lộc ngồi vào chỗ của Hạ Quốc Huy, Lê Vĩnh Thọ, Vĩnh Điện... trước đó ở tiểu đoàn 10 Chiến tranh Chính trị, đồn trú tại Đà Nẵng.
Ngoài ra Hoàng Lộc còn cho biết Vũ Hữu Định còn một bản thảo thơ mang tên Yêu Như Tình Đầu.
Tôi nghĩ rằng còn rất nhiều bạn văn, bạn chơi của Định giữ gìn kỷ niệm với anh, hy vọng trong tương lai tôi sẽ còn được đọc nhiều hơn. Tôi làm công việc dư thừa này cũng là một cách dựa hơi Vũ Hữu Định cùng bạn bè anh, và cũng để bù lại những hiểu biết khiêm nhường của tôi về một người có quen biết, đã từng có thời sống chung trong một thành phố. Ngày tôi gặp lại ông thi sĩ gắn liền với Pleiku chắc không còn xa, tôi sẽ lận lưng bài viết lẩn thẩn này cho ông ấy đọc chơi.
Luân Hoán
Ghi thêm:
Ngày 23 tháng 3 năm 2006, ngày tin nhà thơ Thanh Tâm Tuyền qua đời ở tuổi 71, vì ung thư phổi, tại Minnesota được phổ biến rộng rãi nhờ các trang điện toán (trừ những trang văn học trong nước), tôi nhận được tập thơ Vũ Hữu Định, cùng tờ Thư Quán Bản Thảo tập 23 do nhà văn Trần Hoài Thư và các bạn anh thực hiện gởi cho. Thành thật cảm ơn quý anh. Và xin được chép thêm vào bài viết này, bài thơ của anh Tường Linh, đã viết năm 1973, tặng Vũ Hữu Định. Bài thơ đã được đăng trên tạp chí Bách Khoa, tại Sài Gòn:
Gặp Lại Vũ Hữu Định (Tường Linh)
Tường Linh
- Vũ Hữu Định, còn rất nhiều điều để nhớ Luân Hoán Tản mạn
- Nghiêu Đề Cỡi Ngựa Về 'Vùng Thanh Thoát' Luân Hoán Hồi ức
- Thi Phẩm "Sông Núi Cùng Người Thơm Ngát Thơ" Ngợi Ca Tình Người Tình Đất Luân Hoán Bút ký
- Tưởng Năng Tiến Luân Hoán Tâm bút
- Chu Vương Miện, Thơ Với Cuộc Chơi Loanh Quanh Giữa Chợ Luân Hoán Nhận định
- Hà Nguyên Thạch Còn “ngại hồn bay”? Luân Hoán Hồi ức
- Nguyễn Đông Ngạc, ngọn pipe chợt tắt trên môi Luân Hoán Hồi ký
- Ngôn Ngữ, Tin Cuối Trước Khi In Luân Hoán Giới thiệu
- Ngôn Ngữ, Tin Đầu Tiên Luân Hoán Giới thiệu
- Tạp Chí Trước Mặt Luân Hoán Tạp bút
• Vũ Hữu Định, còn rất nhiều điều để nhớ (Luân Hoán)
• Còn Chút Gì Để Quên, Để Nhớ ... (Phạm Duy)
• Vũ Hữu Định (Võ Phiến)
• Gặp lại Vũ Hữu Định (Tường Linh)
• Vũ Hữu Định ơi, ngựa hí tiếng gì? (Hoàng Lộc)
Vũ Hữu Định, Tình ca người lỡ vận (Đặng Tiến)
Vũ Hữu Định, Người lang thang với đôi dép cỏ (Nguyễn Lệ Uyên)
Đi tìm Vũ Hữu Định (Trần Hoài Thư)
Vũ Hữu Định, còn rất nhiều điều để nhớ (Luân Hoán)
Còn Chút Gì Để Nhớ Để Thương (Thái Tú Hạp)
Thơ, Rượu và Sự Cứu Rỗi (Đynh Trầm Ca)
• Súng Đã Nổ Trong Buổi Chiều Im Lặng
(Vũ Hữu Định)
Thơ Vũ Hữu Định Toàn tập (Blog Trần Hoài Thư)
• Vũ Hữu Định, còn rất nhiều điều để nhớ (Luân Hoán)
• Nhà văn Mường Mán - Cạn một chén đời chưa viết hết (Bùi Tiểu Quyên)
• Vĩnh biệt nhà văn Mường Mán: Tiễn anh ‘qua mấy ngõ hoa’… (Hà Đình Nguyên)
• Phóng Sự (Trần Bích San)
• Trịnh Y Thư: Phế Tích Của Ảo Ảnh - Thơ - Ấn bản III (Văn Học Press)![]()
Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)
Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng, Quyển Hạ
Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)
Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)
Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)
Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)
Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)
Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):
Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)
Sách Xưa (Quán Ven Đường)
Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)
(Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)
Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)
Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)
Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?
(Trùng Dương)
Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)
Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục
Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến
Đặng Tiến
20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975
Nguyễn Văn Lục
Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)
Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)
Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)
Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)
Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)
Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)
Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)
Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)
Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)
Dương Quảng Hàm (Viên Linh)
Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)
Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)
Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)
Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)
Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)
Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)
Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn
Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)
Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)
Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)
Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)
Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)
Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)
Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh
(Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)
Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)
Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn
Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)
Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An
Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)
|
© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com) |