Head



 

 

Thơ Xuân (Nhieu Tac Gia)
11-02-2013 | THƠ

THƠ XUÂN


Ngày Xuân Nhớ Xuân (Tản Đà)   Ông Đồ (Vũ Đình Liên)

Xuân Về (Nguyễn Bính)                Mùa Xuân Chín (Hàn Mặc Tử)

Tân Xuân (Quách tấn)                 Chợ Tết (Đoàn Văn Cừ)

Ngày Tết (Anh Thơ)                    Xuân (Chế Lan Viên)

Chiều Xuân (Huy Cận)                Vội Vàng (Xuân Diệu)

Giây Phút Chạnh Lòng (Thế Lữ)

Ngày Xuân Nhớ Xuân

 

 TẢN ĐÀ


   Tản Đà
Dương Bích Liên vẽ, 1957

Bính Tý sang mà Ất Hợi qua

Đổi thay cũ mới khắp gần xa

Vui xuân thiên hạ bao nhiêu kẻ

Ngồi nhớ xuân xưa họa có ta.


Xuân xưa nhớ lúc ta lên năm

Vỡ lòng đi họ c phố thành Nam. 1

Học sách ba chữ, câu năm chữ, 2

Đến sách Dương Tiết vừa hết năm.


Xuân xưa đến lúc ta lên sáu

Học sách Luận Ngữ đọc láu táu

Ở nhà Hà Nội phố hàng Bông

Bốn tám đến nay còn nhớ số.


Cuối năm lên sáu ta về Khê 3

Đà giang Tân lĩnh, nước non quê

Sách Nho học truyện lại học Sử

Quốc ngữ cũng mới làu A, B.


Xuân xưa bảy, tám, chín, mười tuổi

Văn chương ta mới làm câu đối

Đến xuân mười một học làm thơ

Xuân mười bốn tuổi, văn đủ lối.


Đà giang nước chảy, Tản mây bay

Mười bốn xuân qua trải tháng ngày

Hết xuân mười bốn, từ Khê Thượng

Về học phủ Quảng gần Sơn Tây. 4


Quảng Oai vừa trải bốn xuân dư

Xuân mỗi ngày cao, học cũng như

Cuối xuân mười chín, ra Hà Nội

Học trưởng Quy Thức, đường Gia Ngư.


Hà thành trải qua một đôi xuân

Học chẳng cao thêm cũng rộng dần

Mới học Pháp văn từ lúc ấy

Ấy năm Thành Thái sang Duy Tân.


Xuân xưa đến tuổi ta hai mươi

Phủ Vĩnh cầm như quảy gánh chơi 5

Hán học, Pháp văn kiêm giảng tụng

Ba gian nhà cỏ bóng trăng soi.


Sang xuân hăm mốt học đi thi

Thi tại trường Nam lọt một kỳ

Kỳ luận hỏng vì vua Hạ Võ

Hỏng thi càng học để đi thi.


Xuân hăm bốn tuổi thi Ấm Sinh

Tên đỗ thứ ba, đăng nhật trình

Hậu Bổ thi luôn, hỏng vấn đáp

Chữ Pháp thất bại trường công danh


Xuân qua, thu lại, lại đi thi

Nam Định bay luôn đệ nhất kỳ

Càng học để thi, thi cứ hỏng

Thi tàn, học cũng tàn theo thi.


Ngày xuân thấm thoát nghĩ như thoi

Cái học năm xưa đã cũ rồi

Học cũ đi mà Xuân lại mới

Thơ Xuân nhớ lại, viết mà chơi.

(1936)


1. Nam Định.

2. Tam tự kinh, Ấu học ngũ ngôn thi.

3. làng Khê Thượng.

4. phủ Quảng Oai.

5. phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên.



Ông Đồ

 

 VŨ ĐÌNH LIÊN

Sinh ngày 15 tháng 10 năm Quý Sửu (1913) ở Hà Nội. Học: trường Bảo hộ,
trường Luật. Dạy tư, quản lý Tinh Hoa, chủ trương Revue pédagogique.
Đã đăng thơ: Phong Hóa, Loa, Phụ Nữ Thời Đàm, Tinh Hoa. (Thi Nhân Việt Nam,
Hoài Thanh&Hoài Chân)


   Vũ Đình Liên

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên phố đông người qua.


Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngồi khen tài

"Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa rồng bay."


Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thắm,

Mực đọng trong nghiên sầu.


Ông đồ vẫn ngồi đấy,

Qua đường không ai hay.

Lá vàng rơi trên giấy,

Ngoài giời mưa bụi bay.


Năm nay đào lại nở,

Không thấy ông đồ xưa,

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

(Tinh Hoa)



Xuân Về

 

 NGUYỄN BÍNH

Sinh năm 1919 ở làng Thiện Vịnh, huyện Vụ Bản (Nam Định). Không hề học ở
nhà trường, chỉ học ở nhà với cha và cậu. Làm thơ từ năm 13 tuổi. Đã làm gần
một ngìn bài. Được giải khuyến khích về thơ của Tự Lực Văn Đoàn năm 1937.
Đã đăng thơ: Ngày Nay, Tiểu Thuyết Thứ năm, Nam Cường. Đã xuất bản: Lỡ
Bước Sang Ngang, Tâm Hồn Tôi (Lê Cường, Hà Nội, 1940), Hương Cố Nhân
(Á Châu, Hà Nội, 1941). (Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh&Hoài Chân)


   Nguyễn Bính

Đã thấy xuân về với gió đông,

Với trên màu má gái chưa chồng.

Bên hiên hàng xóm, cô hàng xóm

Ngước mắt nhìn trời, đôi mắt trong.


Từng đàn con trẻ chạy xun-xoe,

Mưa tạnh, trời quang, nắng mới hoe.

Lá nõn ngành non ai tráng bạc?

Gió về từng trận, gió bay đi...


Thong-thả nhân gian nghỉ việc đồng,

Lửa thi con-gái mượt như nhung.

Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng,

Ngào-ngạt hương bay, bướm vẽ vòng.


Trên đường cát mịn, một đôi cô,

Yếm đỏ, khăn thâm, trẩy hội chùa.

Gậy trúc dắt bà già tóc bạc,

Lần lần tràng-hạt niệm nam-vô.

(Tâm Hồn Tôi)



Mùa Xuân Chín

 

 HÀN MẶC TỬ

Chính tên là Nguyễn Trọng Trí. Sinh ngày 22 Septembre 1912 ở Lệ Mỹ Đồng
Hới), mất ngày 11 Novembre 1940. Trú ngụ ở Qui Nhơn từ nhỏ. Nhà nghèo,
cha mất sớm. Học trường Qui Nhơn đến năm thứ ba.Làm sở Đạc Điền một độ,
bị đau rồi mất việc. Vào Nam làm báo ít lâu lại trở về Qui Nhơn. Kế đó mắc bệnh
hủi, đưa vào nhà thương Qui Hòa rồi mất ở đó. Làm thơ từ ngày mười sáu tuổi
(lấy hiệu là Phong Trần rồi Lệ Thanh). Đến năm 1936, khi chủ trương tờ phụ
trương văn chương báo Saigon mới đổi hiệu là Hàn Mặc Tử. Đã đăng thơ: Phụ
Nữ Tân Văn, Saigon, Trong Khuê Phòng, Đông Dương tuần báo, Người Mới.
Đã xuất bản: Gái Quê (1936). (Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh&Hoài Chân)


     Hàn Mặc Tử
     (1912-1940)

Trong làn nắng ửng: khói mơ tan.

Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.

Sột soạt gió trêu tà áo biếc,

Trên giàn thiên lý, bóng xuân sang.

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời.

Bao cô thôn nữ hát trên đồi,

- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy

Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi...

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,

Hổn hển như lời của nước mây...

Thầm thỉ với ai ngồi dưới trúc,

Nghe ra ý vị và thơ ngây...

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín,

Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng.

- Chị ấy năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

(Hương Thơm)



Tân Xuân

 

 QUÁCH TẤN


     Quách Tấn

Ngàn sương lóng lánh ánh quang huy,

Phấp phới nồm trương ngọn Quốc kỳ,

Cửa đón tân xuân lồng thược dược,

Trà dâng Nguyên đán ngát tường vy.

Mộng phiền ba tỉnh hồn phấn điệp,

Điềm thái hòa ứng giọng hoàng ly.

Tấm lòng đất nước chung hoan hỷ.

Hương khói thơm lừng nhịp trúc ty.

(Nha Trang 1955)




Chợ Tết

 

 ĐOÀN VĂN CỪ

Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi.

Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà gianh,

Trên con đường viền trắng mép đồi xanh,

Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết.

Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc;

Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon,

Vài cụ già chống gậy bước lom khom,

Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ,

Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ.

Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu,

Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau.

Sương trắng dỏ đầu cành như giọt sữa,

Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa,

Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh,

Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh.


*


Người mua bán ra vào đầy cổng chợ.

Con trâu đứng vờ dim hai mắt ngủ,

Để lắng nghe người khách nói bô bô.

Anh hàng tranh kĩu kịt quẩy đôi bồ,

Tìm đến chỗ đông người ngồi dở bán.

Một thầy khóa gò lưng trên cánh phản,

Tay mài nghiên hí hoáy viết thơ xuân.

Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm,

Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ.

Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ,

Nước thời gian gội tóc trắng phau phau.

Chú hoa-man đầu chít chiếc khăn nâu,

Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu.

Áo cụ lý bị người chen sấn kéo,

Khăn trên đầu đương chít cũng tung ra.

Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà

Quên cả chị bên đường đang đứng gọi.

Mấy cô gái ôm nhau cười rũ rợi,

Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa.

Những mẹt cam đỏ chót tựa son pha,

Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết,

Con gà sống màu thâm như cục tiết,

Một người mua cầm cẳng dốc lên xem.


*


Chợ tưng bừng như thế đến gần đêm.

Khi chuông tối bên chùa văng vẳng đánh,

Trên con đường đi các làng hẻo lánh,

Những người quê lũ lượt trở ra về.

Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê,

Lá đa rựng tơi bời quanh quán chợ.

(Ngày Nay)



Ngày Tết

 

 ANH THƠ

Chính tên là Vương Kiều Ân - Vương họ cha, Kiều họ mẹ. Sinh tháng Janvier
1919 tại Ninh Giang. Học từ năm lên bảy, năm 12 tuổi mới lên lớp ba (Hải Dương,
Thái Bình, Bắc Giang). Bỏ học sau một buổi bị cô giáo phạt quỳ. Đã đăng thơ:
Hanoi báo (ký Hồng Anh), Tiểu Thuyết Thứ Năm, Ngày Nay, Phụ Nữ. Được giải
thưởng khuyến khích về thơ của Tự Lực Văn Đoàn năm 1939. Đã xuất bản:
Bức Trang Quê (Đời Nay, Hà Nội, 1941), Xưa (hợp tác với Bàng bá Lân, 1941)
(Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh&Hoài Chân)


     Anh Thơ (1941)

Trước cổng làng chùm nêu vừa thức gió,

Bụi mưa phùn đã đổ xuống sân vôi,

Tràng pháo chuột đua nhau đì đẹt nổ,

Xác giấy hồng bắn cả cánh hoa rơi.

Trong nhà đó, bàn thờ nghi ngút khói,

Những đàn bà tíu tít chạy bưng mâm,

Lũ con trẻ vui mừng thay áo mới

Bên ông già hương nến quá chuyên tâm.

Ngoài đường ngõ bùn lần theo nước chảy,

Thằng cu con quần đỏ cưỡi lưng bà,

Các cô gái đội vòng hương ôm váy,

Miệng tươi cười mừng tuổi những người qua.



Xuân

 

 CHẾ LAN VIÊN

Tôi có chờ đâu, có đợi đâu;

Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?

- Với tôi tất cả như vô nghĩa,

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!


Ai đâu trở lại mùa thu trước

Nhặt lấy cho tôi những là vàng?

Với của hoa tươi, muôn cánh rã,

Về đây, đem chắn nẻo xuân sang!


Ai biết hồn tôi say mộng ảo

Ý thu góp lại cản tình xuân?

Có một người nghèo không biết Tết

Mang lì chiếc áo độ thu tàn!


Có đứa trẻ thơ không biết khóc

Vô tình bỗng nổi tiếng cười ran!

Chao ôi! mong nhớ! ôi mong nhớ

Một cánh chim thu lạc cuối ngàn.

(Điêu Tàn)



Chiều Xuân

 

 HUY CẬN

Xuân gội tràn đầy

Giữa lòng hoan lạc,

Trên mình hoa cây...

Nắng vàng lạt lạt

Ngày đi chày chày...


Hai hàng cây xanh

Đâm chồi hy vọng...

Ôi duyên tốt lành.

Én ngàn đưa võng

Hương đồng lên hanh.


Kế bên đường mòn

Mùa đông đã tạnh

Cỏ mọc bờ non...

Chiều xuân tươi mạnh

Gió hay vào hồn.


Có bàn tay cao

Trút bình ấm dịu

Từ phương xa nào...

Người cô yểu điệu

Nghe mình nao nao...


Nhạc vươn lên trời

Đồi măng đang dậy

Tưng rừng muôn nơi...

Mái ông gió hẩy,

Chiều xuân đầy lời.

(Lửa Thiêng)



Vội Vàng

 

 XUÂN DIỆU

     Tôi muốn tắt nắng đi

     Cho màu đừng nhạt mất,

     Tôi muốn buộc gió lại

     Cho hương đừng bay đi.


Của ong bướm này đây tuần tháng mật,

Này đây hoa của đồng nội xanh rì,

Này đây lá của cành tơ phơ phất,

Của yến oanh này đây khúc tình si,

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.

Mỗi sáng sớm thần Vui hằng gõ cửa,

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.

Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa,

Tôi không chờ nắng hạ, mời hoài xuân.

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời,

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,

Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt...

Con gió xinh thì thào trong lá biếc,

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi,

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

Chẳng bao giờ, ôi! chẳng bao giờ nữa...

Mau đi thôi! mùa chưa ngã chiều hôm,

     Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn,

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cảnh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng.

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,

Cho no nê thanh sắc của thời tươi,

- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

(Thơ Thơ, in lần thứ hai)



Giây Phút Chạnh Lòng
                                      Tặng tác giả Đoạn Tuyệt

 

 THẾ LỮ

"Anh đi đường anh, tôi đường tôi.

Tình-nghĩa đôi ta có thế thôi.

Đã quyết không mong sưm-họp mãi,

Bận lòng chi nữa lúc chia phôi?


"Non nước đương chờ gót lãng-du,

Đâu đây vẳng tiếng hát chinh-phu,

Lòng tòi phơi phới quên thương tiếc

Đưa tiễn anh ra chốn hải-hồ.


"Anh đi vui cảnh lạ, đường xa,

Đem chí bình-sinh dãi nắng mưa,

Thân đã hiến cho đời gió bụi,

Đâu còn lưu-luyến chút duyên tơ?


"Rồi có khi nào ngắm bóng mây

Chiều thu đưa lạnh gió heo may

Dừng chân trên bến sông xa vắng,

Chạnh nhớ tình tôi trong phút giây.


"Xin anh cứ tưởng bạn anh tuy

Giam hãm thân trong cảnh nặng nề,

Vẫn để hồn theo người lận-đận,

Vẫn hằng trông đếm bước anh đi."


Lấy câu khảng-khái tiễn đưa nhau,

Em muốn cho ta chẳng thảm sầu.

Nhưng chính lòng em còn thổn-thức,

Buồn kia em giấu được ta đâu?


Em đứng nương mình dưới gốc mai,

Vin ngành sương đọng, lệ hoa rơi,

Cười nâng tà áo đưa lên gió,

Em bảo: hoa kia khóc hộ người.


Rồi bỗng ngừng vui cùng lẳng lặng,

Nhìn nhau bình-thản lúc ra đi.

Nhưng trong khoảnh-khắc ơ-thờ ấy,

Thấy cả muôn đời hận biệt-ly.


Năm năm theo tiếng gọi lên đường,

Tóc lộng tơi-bời gió bốn phương.

Mấy lúc thẫn-thờ trông trở lại,

Để hồn mơ tới bạn quê-hương.


Ta muốn lòng ta cứ lạnh lùng

Gác tình duyên cũ thẳng đường trông.

Song le hương khói yêu đương vẫn

Phảng-phầt còn vương-vấn cạnh lòng.


Hôm nay tạm nghỉ bước gian-nan,

Trong lúc gần xa pháo nổ ran,

Rũ áo phong sương trên gác trọ,

Lặng nhìn thiên-hạ đón xuân sang.


Ta thẩy xuân nồng thắm khắp nơi.

Trên đường rộn rã tiếng đua cười,

Động lòng nhớ bạn xuân năm ấy

Cùng ngắm xuân về trên khóm mai.


Lòng ta tha-thiết đượm tình yêu,

Như cảnh trời xuân luyến nắng chiều,

Mắt lệ đắm trông miền cách biệt,

Phút giây chừng mỏi gối phiêu-lưu...


Cát bụi tưng trời - Đường vất vả

Còn dài - Nhưng hãy tạm dừng chân,

Tưởng ngườí trong chốn xa xăm ấy

Chẳng biết vui buồn đón gió xuân.

(Mấy vần thơ, tập mới)



Học xá minh họa thêm hình trong bài trích từ Từ Điển Văn Học Bộ Mới, nxb Thế Giới, 2004.

 

 

Tho

 

 

  Thơ:

 

Thơ trích từ tạp chí THẾ ĐỨNG số 2 - Xuân Canh Tuất (1970) (Nhiều tác giả)

Khát Vọng (Trần Yên Hòa)

Chất Thơ Do Cảm Nhận Vài Kiến Thức Về Tư Tưởng Của Kant Và Hegel (Trần Văn Nam)

Các Bài Thơ Nôm Đầu Tiên Trong Văn Học Chữ Nôm (Tuệ Chương)

Đi Tìm Đường Bay Ưu Việt Của Thi Ca (Thái Tú Hạp)

Tứ Thơ Và Chiến Tranh: Chiến-Sự Dù Nhỏ, Cũng Đã Lưu-Dấu Trong Thơ (Trần Văn Nam)

Những Dời Đổi Địa Hình và Mối Hoài Cảm Thi Ca (Trần Văn Nam)

Đất Nước Của Ma Quỷ (Bùi Chí Vinh)

Thời Đại Tôi Đang Sống (Nguyễn Thị Thanh Yến)

Bài thơ độc vận “ơ” làm trong men rượu say (Trần Thoại Nguyên)

Đất nước mình ngộ quá phải không anh (Trần Thị Lam)

Những đôi mắt ngủ quên (Trương Đình Phượng)

Con đường mới | Mở cửa (Trương Đình Phượng)

Mưa lạnh trên đèo (Xuân Thao)

Ân Tình Mẹ (Trần Kiêm Đoàn)

Mùa Xuân Và Linh Hồn Mới (Trần Mộng Tú)

 

  Thơ Dịch:

 (Vietnamese Poetry translated into English)

 

Đàm Trung Pháp & Viên Linh dịch và chú giải:

 

Vịnh Hai bà Trưng (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)

Ăn Cỗ Đầu Người (Nguyễn Biểu)

Đoạt Sáo Chương Dương Độ (Trần Quang Khải)

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Thề Non Nước (Tản Đà)

Thi Nhiệt (Lý Đông A)

Vịnh Tranh Gà Lợn (Vũ Hoàng Chương)

Gọi Hồn (Viên Linh)

 

Huỳnh Sanh Thông dịch:

 

Thăng Long (Nguyễn Du)

Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)

Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)

Thăng Long Thành Hoài Cổ

 (Bà Huyện Thanh Quan)

Chiều Hôm Nhớ Nhà (Bà Huyện Thanh Quan)

Lên Đèo Hải Vân (Huỳnh Mẫn Đạt)

Vịnh Bức Dư Đồ Rách (Tản Đà)

Màu Tím Hoa Sim (Hữu Loan)

Nhà tôi (Yên Thao)

Sóng (Xuân Quỳnh)

Hai Sắc Hoa Tigôn (T.T.Kh.)

 

Lê Đình Nhất-Lang & Nguyễn Tiến Văn dịch:

 

Cùng khổ (Bùi Chát)

Hoa sữa (Bùi Chát)

Bài thơ một vần (Bùi Chát)

Đèn đỏ (Bùi Chát)

Ai? (Bùi Chát)

Những người đáng trọng & những kẻ đáng khinh

 (Lý Đợi)

 

Các tác giả khác dịch:

 

Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (Nguyễn Đình Toàn)

 (Do Dinh Tuan dịch)

Bữa Tiệc Hòa Bình (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

Từ Một Cuốn Rún (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Đinh Từ Bích Thúy dịch)

Vì Người Ta Cần Ánh Mặt Trời (Nguyễn Đắc Kiên)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

 

  Thơ Cổ:

 

Cảnh Đẹp Thành Thăng Long Thời Tây Sơn Qua Thi Ca Đoàn Nguyễn Tuấn (Phạm Trọng Chánh)

Chinh Phụ Ngâm diễn nôm, một dịch phẩm thần kỳ (Đàm Trung Pháp)

Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào? (Trần Từ Mai)

Đọc lại một số thi phẩm của Phan Châu Trinh (Phan Thành Khương)

Nhất Chi Mai - Chất Người Muôn Thuở (Phan Trang Hy)

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Nguyễn Trãi Huyễn-Thực và Sắc-Không (Trần Ngọc Ninh)

Quá Phong Khê, Một Bài Thơ Kỳ Tuyệt (Phạm Khắc Hàm)

Giới thiệu Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu (Trần Từ Mai)

Xuân Xưa Thơ Trước, Hồn Ngàn Mùa (Nhiều tác giả)

Bạch Đằng Giang Phú (Trương Hán Siêu)

Thuật Hoài (Phạm Ngũ Lão)

Thuật Hoài (Đặng Dung)

Lâm Cảng Dạ Bạc (Nguyễn Trãi)

Ngày Xuân Đọc "Đào Hoa Thi" của Nguyễn Trãi (Trần Uyên Thi)

Thơ Lý Bạch (Đàm Trung Pháp)

 

  Thơ Tuyển:

 

Thủy Tang (Viên Linh)

Khói Trắng (Kiên Giang)

Tình yêu mẹ - Tình yêu con (Nguyễn Thu Hằng)

Lòng Mẹ (Nguyễn Bính)

Hẹn Anh Một Ngày Tái Ngộ (Ngô Minh Hằng)

Những tháng tư buồn (Nguyễn Thị Hằng)

Nỗi buồn tháng 4 (Huy Uyên)

Khởi Hành (Trần Thúc Vũ)

Quà Tặng Trong Chiến Tranh (Trần Mộng Tú)

Mã Viện (tác giả: Vô Danh) (Nguyễn Văn Ngọc)

Mẹ và sự lặng im (Trần Mộng Tú)

Thơ Về Mẹ (Nhiều tác giả)

Hai Chữ Nước Nhà (Trần Tuấn Khải)

Đói (Bàng Bá Lân)

Lời Mẹ Dặn (Phùng Quán)

Nước Tôi (Nguyễn Văn Cổn)

Thơ Tưởng Niệm Ngày 30 Tháng Tư (Nhiều tác giả)

Thơ Tình Ngày Valentine (Nhiều tác giả)

Kỷ Niệm Chiến Thắng Đống Đa (Hoàng Phong Linh)

Thơ và Câu Đối Mừng Xuân (Nhiều tác giả)

Quốc Nam, Quốc Việt (Hồ Bạch Thảo)

Bài Thơ Vô Đề Viết Trong Trại Tù Tập Trung (Tú Kếu)

Thơ Tưởng Niệm Các Anh Hùng Tử Sĩ ở Hoàng Sa (Nhiều tác giả)

Bình Giảng: Đời Đáng Chán và Tống Biệt của Tản Đà (Thạch Trung Giả)

Thơ Tiền Chiến (Nhiều tác giả)

Tây Tiến (Quang Dũng)

Đêm Liên Hoan (Hoàng Cầm)

Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Cao Tiêu)

Biên Cương Hành (Phạm Ngọc Lư)

Thơ Xuân (Nhiều tác giả)

Đồng Lầy (Nguyễn Chí Thiện)

Ta Về (Tô Thùy Yên)

Trường Sa Hành (Tô Thùy Yên)

Kịch thơ: Hận Nam Quan (Hoàng Cầm)

 

  Tục ngữ (Proverbs)

 

Tre già măng mọc

Đục nước béo cò

Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng

Gà một mẹ đá nhau

 

  Danh Ngôn

  Đố vui (Puzzles)

 
 

 

© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@hotmail.com)