|
|
|
|
|
VĂN HỌC |
GIAI THOẠI | TIỂU LUÂN | THƠ | TRUYỆN | THỜI LUẬN | NHÂN VẬT | ÂM NHẠC | HỘI HỌA | KHOA HỌC | GIẢI TRÍ | TIỂU SỬ |
Thơ Văn Trần Y. Hoa & Bằng hữu
Thơ Văn Trần Yên Hoà & Bằng hữu
Tác giả: Isaac Bashevis Singer đoạt giải thưởng Nobel bộ môn văn chương năm 1978. Là một người Mỹ gốc Ba Lan, đôi khi ông viết tiểu thuyết bằng tiếng Yiddish (Ba Lan) và dịch những tác phẩm này ra Anh ngữ hay các ngoại ngữ khác.

Khoảng ba giờ chiều, bà Bessie Popkin bắt đầu chuẩn bị đi xuống phố. Đi ra ngoài có nghĩa là phải đối phó với biết bao khó khăn, nhất là vào một ngày nóng nực như thế này: Trước hết là phải bó chiếc nịt quanh chiếc ngực đồ sộ, xiết chặt đôi bàn chân phù vào đôi giầy chật cứng rồi phải chải đầu nữa. Mỗi ngày bà thường nhuộm tóc với đủ màu sắc: vàng, xanh, đỏ ... rồi đến việc lo lắng làm sao khi không có mặt ở nhà, hàng xóm không thể tông cửa vào được để ăn cắp khăn trải giường, quần áo, tài liệu hay làm lộn xộn mọi vật trong nhà.
Ngoài những hành hạ do những tên khốn kiếp quanh quẩn đâu đây, bà còn khỏ sở vì lũ ma xó, lũ quỉ con nữa. Có tối bà để chiếc kính trong ngăn kéo chiếc bàn ngủ, sáng hôm sau bà thấy nó ở ngay trên chiếc dép. Lọ thuốc nhuộm tóc bà đã để ở trong chiếc tủ thuốc từ hôm trước thế mà hôm sau nó lại nằm dưới gối. Một lần bà để hũ xúp củ cải đỏ trong tủ lạnh, nhưng lũ ma tinh nghịch ăn cắp mất; sau một hai ngày tìm kiếm bà mới thấy nó trong tủ quần áo, phía trên lớp xúp là một lớp mỡ dầy mùi nồng nặc bốc lên khó chịu.
Bà phải vượt qua tất cả, biết bao nhiêu trò chơi quái ác bày ra để chọc giận và bà phải chọn lựa tranh đấu để sống còn, nếu không sẽ trở thành điên rồ, mất trí mất. Chỉ có trời mới hiểu điều đó. Bà phải cúp điện thoại vì những kẻ gian, kẻ bất lương gọi bà ngày đêm, chúng cố gắng moi móc những điều thầm kín của bà ra. Tên bỏ sữa khốn nạn người Puerto Rico có lần định hiếp bà. Thằng bé lỏi con bên tiệm tạp hóa đầu đường định đốt sản nghiệp của bà với điếu thuốc lá. Để mong đuổi bà ra khỏi căn chung cư này mà bà đã ở đây suốt ba mươi lăm năm, công ty và cả tên quản lý khốn nạn đã đầu độc căn phòng bằng những con chuột, con dán bẩn thỉu.
Bà Bessie nhận thấy từ lâu là không một phương tiện nào có thể giúp bà được, từ chiếc cửa sắt với chiếc ổ khóa đặc biệt đến những lá thư bà viết cho cảnh sát, cho thị trưởng, cho cơ quan F.B.I, và ngay cả cho tổng thống ở Washington D.C. nữa. Bà thấy là luôn luôn phải tự bảo vệ cho chính mình trước đã, luôn luôn phải kiểm soát cẩn thận các cánh cửa sổ, lò ga, những ngăn kéo lúc nào cũng khóa cẩn thận. Những tờ giấy bạc bà phải dấu trong các quyển bách khoa từ điển, trong tạp chí National Geographic. Bà để những tờ giấy về thị trường chứng khoán hay sổ tiết kiệm lẫn lộn với những khúc củi trong lò sưởi va cà dưới gầm ghế thường ngồi. Còn nữ trang thì bà dấu trong chiếc đệm giường ngủ. Trước kia, tất cả bà để trong một chiếc hộp an toàn gửi trong nhà băng, nhưng bà nghĩ là những tên canh gác nhà băng cũng có thể có chìa khóa và nơi đó thực sự không an toàn như bao nhiêu người lầm tưởng.
Vào khoảng năm giờ, bà Bessie đã sẵn sàng ra khỏi cửa. Bà soi gương lại một lần nữa. Thân hình thấp, rộng bề ngang, chiếc trán hơi hẹp, chiếc mũi hơi lớn, đôi mắt nhỏ như nửa mở nửa khép. Bà mặc một chiếc áo màu nhạt có in hình hoa vàng, chiếc mũ cối và đôi giầy đã hơi sờn. Trước khi rời khỏi nhà, bà kiểm soát lại lần cuối ba căn phòng và căn bếp. Quần áo, giầy dép ở khắp nơi và chỗ nào cũng có những lá thư chưa mở. Chồng bà, Sam Popkin mất đi gần hai mươi năm rồi. Trước khi qua đời, ông đã thanh toán mọi việc liên quan tới công việc buôn bán địa ốc. Ông để lại cho bà món tiền dành dụm trong thị trường chứng khoán, trong qũy tiết kiệm cũng như vài cơ sở nhà đất. Từ đó đều đặn hàng tháng công ty gửi những phúc trình, chi phiếu cho bà. Sở thuế cũng đánh thuế trên mức thu nhập, mội vài tuần lễ công ty chôn cất cũng báo những chương trình đặc biệt cho bà. Trong những năm đầu bà còn trả lời thư từ, theo dõi mức chi tiêu, nhưng rồi bà bỏ mặc hết cả, ngay cả việc mua báo hàng ngày để theo dõi phần tài chánh cũng bỏ luôn.
Tại hành lang, bà Bessie nhét một mảnh giấy nhỏ vào giữa cánh cửa với khung cửa để đánh dấu còn lỗ khóa thì trét một lớp bột mát tít mỏng. Với một bà góa già không con cái, không người thân thuộc hay bạn bè, bà phải làm gì hơn? Có lần người hàng xóm thấy vậy thì cười về cái tính quá cẩn thận này, có người còn chế nhạo bà nữa. Nhưng chuyện này xẩy ra quá lâu rồi. Bà không nói chuyện với bất cứ ai trong khu chung cư này cả, hơn nữa mắt bà cũng kém. Chiếc kính đeo mắt đã gãy không còn sử dụng được, bà lại ngại đến bác sĩ nhãn khoa đo mắt để làm một cặp kính khác. Mọi việc như là quá khó khăn, ngay cả việc đi vào hay ra khỏi chiếc thang máy nữa, chiếc cửa đóng rầm rầm làm bà khó chịu.
Bà Bessie ít khi đi xa hơn quá hai blocks từ căn nhà của bà. Con phố giữa Broadway và Riverside Drive ngày càng trở nên ồn ào hơn, dơ bẩn hơn. Từng bầy con nít bẩn thỉu cởi trần chạy rầm rầm suốt ngày. Những tên đàn ông da ngăm đen, đầu tóc xoăn tít, mắt đỏ ké lúc nào cũng cãi nhau bằng tiếng Tây Ban Nha với đám đàn bà bụng khi nào cũng thấy phình ra. Đàn chó, đàn mèo chẳng khi nào ngừng kêu, ngừng sủa. Rồi cháy liên tục, từng đàn xe cứu hỏa, xe cấp cứu, xe cảnh sát hú còi inh ỏi. Trên đường Broadway, những tiệm tạp hóa xưa bây giờ đã được thay thế bằng các siêu thị.
Chúa trên cao có biết là từ ngày chồng bà chết, thành phố New York, nước Mỹ và ngay cả thế giới này đã tan rã hết rồi hay không? Những người chết đi là hết nợ, sống sót lại toàn là những kẻ cắp, kẻ cướp và đĩ điếm. Quyển sổ tay của bà bị đánh cắp đã ba lần, khi báo cảnh sát, họ chỉ cười thôi. Mỗi lần băng qua đường, đời sống của bà bị đe dọa, bà đi một bước lại phải dừng một bước. Có người khuyên bà dùng một cây gậy, nhưng bà cho là không cần thiết vì nghĩ là mình có già hay bị tàn tật đâu mà phải dùng gậy. Vài tuần một lần, bà sơn móng tay đỏ chót. Lúc cơn phong thấp ngưng hành hạ, bà lấy những bộ quần áo diêm dúa cất kỹ trong tủ ra mặc vào rồi soi mình trong gương.
Bà không thể nào mở được cánh cửa siêu thị mà phải đợi người nào đó mở dùm. Siêu thị đúng là một sản phẩm của ma quỷ: Ánh sáng trong tiệm làm bà chói mắt, người ta đẩy xe như muốn đẩy người khác ra khỏi đường đi, những ngăn kệ thì lại quá cao hoặc quá thấp, những tiếng động trong tiệm làm điếc tai khách hàng. Ngoài ra lại còn sự khác biệt về nhiệt độ bên trong và bên ngoài nữa, bà chưa bị sưng phổi là một phép lạ. Còn một việc quan trong nữa là bà bị hành hạ khổ sở vì sự không quyết định dứt khoát. Bà cho là việc mua sắm không nên quá bốn mươi lăm phút, nhưng qua hai giờ rồi mà vẫn chưa xong. Khi đẩy chiếc xe tới quầy tính tiền, bà lại chợt nhớ là quên chưa lấy hộp bắp. Khi quay trở lại, người khác đã chiếm chỗ xếp hàng của bà. Rồi khi trả tiền, khó khăn khác lại đến. Bà Bessie nhớ là đã cẩn thận để mớ tiền giấy phía bên phải chiếc ví tay, nhưng lúc tìm thì không thấy. Sau một hồi lục lọi, bà thấy nó nằm trong chiếc ví con đựng tiền lẻ. Ai có thể tưởng tượng là việc như vậy lại có thể xẩy ra được? Nếu bà kể cho ai nghe chuyện này thì họ cho là bà mắc bệnh điên.
Từ lúc bà tới siêu thị thì trời vẫn còn sáng, bây giờ ra khỏi thì đã sẩm tối. Ngôi mặt trời vàng úa đang chìm dần xuống dòng sông Hudson, các toà nhà chọc trời trên đường Broadway đang nhả dần cái nóng đã hấp thu suốt trong ngày. Từ dưới những tấrn lưới sắt, xe điện ngầm chạy rầm rầm, những ngọn khói quỷ quái bốc lên mù mịt. Bà Bessie một tay ôm bao thực phẩm còn tay kia nắm chặt chiếc sổ tay. Chưa bao giờ bà thấy con đường Broadway bẩn thỉu, hoang rợ như vậy. Mùi hôi thối nồng nặc bốc lên do nhựa đường, mùi xăng, mùi trái cây hư, phân thú vật. Trên vỉa hè, lẫn lộn với những mảnh giấy báo rách và mẫu thuốc lá, từng lũ chim bồ câu nhẩy nhót kiếm thức ăn. Thật khó hiểu tại sao chúng không bị kẻ bộ hành dẫm chết. Trước sân một cửa tiệm, một đám người với áo đẫm mồ hôi đang tu ừng ực những chai nước trái cây, như cố gắng dập tắt ngọn lửa bên trong người họ. Phía bên kia đường, đám trẻ da trắng, da đen dơ dáy đùa rỡn quanh chiếc vòi nước công cộng làm nước bắn tung tóe vào người bộ hành. Giữa cái nóng mùa hè ngột ngạt này, một chiếc xe vận tải nhỏ trên có gắn chiếc máy phóng thanh phát lên những bài ca ầm ỹ cổ động cho một ứng viên đang tranh một ghế trong hội đồng thành phố.
Thật là một cực hình cho bà Bessie. Phải băng qua đường, đứng đợi chiếc thang máy cũ rích rồi lại phải bước thật nhanh ra khỏi chiếc thang máy tại lầu thứ năm trước khi cánh cửa đóng sầm lại. Bà để bao thực phẩm xuống đất rồi kiếm chiếc chìa khóa. Bà dùng móng tay cạy lớp bột mát tít ở lỗ khóa đi rồi đút chiếc chìa khóa vào, xoay một vòng. Nhưng kía, chiếc chìa khóa gãy ngang, chỉ còn chiếc đuôi nằm trong tay bà. Tai ương lại chụp lên đầu bà. Mọi người trong khu chung cư này đều có chiếc chìa khóa phụ treo trong phòng quản lý, nhưng riêng bà không tin vào ai cả. Đã từ lâu, bà đặt làm chiếc ổ khóa đặc biệt mà không ai ngoài bà có thể mở được. Chiếc chìa khóa phụ lại để trong ngăn kéo, bà lẩm bẩm: "Hết rồi, giờ tận thế đã điểm".
Không ai quanh đây có thể giúp bà được. Hàng xóm đều là kẻ thù của bà. Cổ họng khô ran và co rúm lại, bà nhìn quanh xem có thấy con quỷ nhỏ nào đã gây tai ương cho bà không. Từ lâu bà đã làm quen với thần chết, nhưng nếu phải chết ở cầu thang hay ngoài phố thì thật vô phước. Có ai biết được là nỗi khổ sẽ kéo dài bao lâu đâu. Bà bắt đầu đắn đo suy nghĩ. Còn một cửa tiệm sửa khóa nào mở không? Ví dụ có đi, người thợ sửa khóa phải tới đây với dụng cụ, ít nhất bà phải có tiền trả trước cho người ta. Nhưng không bao giờ bà mang theo đủ tiền cả. Trong túi chỉ còn số tiền lẻ hai mươi lăm xu mà người bán hàng tại siêu thị trả lại cho bà. "Mẹ ơi, con không muốn sống thêm nữa", bà lẩm bẩm bằng thổ âm Yiddish (tiếng Ba Lan).
Sau vài lần do dự, bà Bessie quyết định đi ra phố. Có thể một cửa tiệm bán đồ kim loại hay một tiệm nhỏ chuyên sửa ống khóa còn mở cửa. Bà nhớ là trước đây có một quầy hàng nhỏ chuyên sửa ống khóa ngay ở góc đườmg. Nhưng còn bao thức ăn thì sao đây? Mang đi theo thì quá nặng, như vậy là chẳng còn chọn lựa nào cả, bà phải để nó lại ở cửa này rồi. Bà lẩm bẩm: "Chúng nó sẽ ăn cắp hết". Ai mà biết được, có thể mấy tên hàng xóm cố tình làm cho chiếc chìa khóa bị gãy để bà vào không được trong khi chúng đang vơ vét đồ đạc của bà.
Trước khi đi khỏi, bà Bessie ghé tai sát vào cửa nghe ngóng. Chẳng có gì ngoài tiếng rì rầm không bao giờ dứt mà bà không hiểu nguyên do. Đôi khi nghe như tiếng đồng hồ chạy, đôi khi lại kêu ù ù hay như rên rỉ phát ra từ những bức tường hay ống nước. Trong đầu, bà nói giã từ bao thực phẩm đáng lý ra bây giờ phải nằm trong tủ lạnh thay vì phơi ra giữa cái nóng này. Bơ sẽ chẩy, sữa đang chua dần. Một người láng giềng đang đi vào cầu thang máy, bà ra hiệu cho hắn ta giữ chiếc cửa lại dùm. Có thể tên này là một trong những tên ăn cắp đây! Chiếc thang máy đi xuống rồi dừng lại, hắn mở cửa cho bà. Bà Bessie muốn nói tiếng cám ơn nhưng lại im lặng. Tại sao lại phải cám ơn kẻ thù của mình nhỉ. Tụi nó đang đánh lừa bà mà.
Khi bà Bessie ra tới đường, màn đêm đã bao chùm thành phố. Cống rãnh hai bên đường tràn ngập nước, ánh đèn điện phản chiếu xuống giống như một chiếc hồ. Đôi giầy ướt đẫm, bà lần đi ra con đường Broadway, cái nóng vẫn còn hừng hực rát mặt. Ban ngày bà còn khó nhìn, ban đêm thì kể như mù.Trong các cửa tiệm, ánh đèn chiếu hắt ra trong đó trưng bày cái gì thì bà nhìn không rõ. Những người bộ hành như muốn xô đẩy bà và cho tới lúc này bà tiếc là không có một cây gậy. Dù sao đi nữa, bà cũng bắt đầu bước dọc theo các cửa hàng hai bên đường. Bà đi qua tiệm bán thuốc tây, tiệm bánh, tiệm bán thảm, ... nhưng không thấy tiệm bán đồ kim khí đâu cả. Bà tiếp tục bước đi. Sức lực kiệt quệ dần nhưng bà tự nhủ là không được bỏ cuộc. Một người có chiếc chìa khóa gãy thì phải làm gì bây giờ? Tự tử chết à? Báo cho cảnh sát để họ giúp được không? Có thể có một cơ quan nào đó chuyên lo việc này, nhưng cơ quan nào bây giờ?
Có lẽ có một tai nạn nào xẩy ra, hai bên đường đông nghẹt người đứng coi. Xe cảnh sát và xe cấp cứu ngăn một khu phố. Có người cầm vòi nước đang xịt như rửa vết máu của nạn nhân đổ xuống đường. Đối với bà, mắt những người đứng coi kia đang chiếu ra những nét kỳ lạ, như thể họ đang vui sướng trong cái khổ đau của người khác. Có lẽ đó là nguồn an ủi độc nhất cho những người sống trong thành phố ghê tởm này. Không, nhất định bà không nhờ ai giúp cả. Bà đi đến nhà thờ. Chỉ còn vài bước nữa là tới hai chiếc cửa to lớn nặng nề khép kín mít. Bà khó nhọc lắm mới ngồi xuống bực đá được. Hai đầu gối run rẩy, mũi giầy bó xiết ngón chân và cái móc của chiếc nịt ngực gãy đang cưa da thịt bà. "Trời ơi, sức mạnh của qủy đã chiến thắng tôi đêm nay". Cơn đói kèm theo cơn buồn nôn đang cào chiếc bao tử. "Lạy Chúa trên cao, đời con đến đây là hết". Bà chợt nhớ là chưa bao giờ nghĩ tới việc viết một tờ di chúc.
Có lẽ bà Bessie đã ngủ thiếp đi được một lúc vì khi mở mắt ra, bà thấy là đã quá nửa đêm. Đường phố vắng lặng và tối mù, các cửa hàng đã tắt đèn, cái nóng đã bốc đi hết và bà cảm thấy lạnh. Trong một thoáng bà nghĩ là cuốn sổ tay đã bị đánh cắp, nhưng nó nằm ở bực dưới, có thể là bị tuột rơi xuống. Bà cúi xuống nhặt lên, nhưng cánh tay bị tê cứng, đầu bà tựa vào chiếc tường bây giờ nặng như một tảng đá, hai chân như hai khúc củi còn hai tai như chứa đầy nước. Bà mở mắt to ra, ngôi mặt trăng đang treo lơ lửng trên trời, bên cạnh là một ngôi sao xanh đang lấp lánh. Bà ngáp một hồi. Có lẽ từ lâu rồi bà đã quên đi là có bầu trời, có sao và có trăng. Tháng năm qua đi, bà không bao giờ nhìn lên cả. Những chiếc cửa sổ luôn luôn được che kín mít để cho những tên gián điệp đi phía bên kia đường không thể quan sát căn nhà của bà được. Có bầu trời như vậy chắc là có thượng đế, thiên thần và cả thiên đàng nữa. Như vậy linh hồn của cha mẹ bà hiện giờ ở đâu? Và Sam, chồng bà nữa, bây giờ ở đâu?
Bà, Bessie, đã quên cả nhiệm vụ. Từ lâu bà không đi viếng mộ ông, ngay cả ngày giỗ chồng bà cũng không thắp một ngọn nến. Lần đầu tiên trong nhiều năm, bà thấy cần phải đọc một bài kinh. Đấng toàn năng có thể tha thứ cho bà. Trên cao kia, cha mẹ có thể xin tha tội dùm cho bà nhưng bà không xứng đáng cho sự.tha tội này. Vài câu kinh cầu nguyện bằng thổ ngữ Hebrew buột ra khỏi miệng, nhưng bà không thể nào nhớ được toàn bài. Bà lẩm bẩm một mình: "Xin Chúa tha tội cho con, con thật đáng chịu mọi hình phạt".
Phố xá bắt đầu lạnh hơn và im lặng hẳn. Đèn giao thông đổi từ đỏ sang xanh nhưng rất ít xe qua lại. Bất chợt từ một góc tối nào đó, một gã thanh niên da đen bước đi lảo đảo xuất hiện. Gã dừng lại nhìn về phía bà rồi tiếp tục bước đi. Bà Bessie biết là trong chiếc xách tay có rất nhiều tài liệu quan trọng, nhưng đây là lần đầu tiên bà coi là vô tích sự. Sam để lại cho bà cả một gia tai nhưng bây giờ bà coi chúng chẳng còn giá trị gì cả. Bà vẫn dành dụm đề phòng tuổi già và bà vẫn tự coi mình chưa già. "Mình bao nhiêu tuổi rồi nhỉ? Mình đã làm được gì trong những năm qua? Tại sao mình không đi du lịch, an hưởng tuổi nhàn hay giúp đỡ kẻ khác?" Nhữtng câu hỏi luẩn quẩn trong đầu. Bà sững sờ và có cảm tưởng như vừa thức dậy sau một giấc ngủ dài. Chiếc chìa khóa gãy đã mở cánh cửa trong trí của bà, cánh cửa này đã đóng chặt từ ngày Sam chết đi.
Mặt trăng đã xê dịch từ phía bên này sang phía bên kia tòa cao ốc, bây giờ trở nên lớn và đỏ bất thường. Trời lạnh hẳn, bà Bessie nghĩ là rất dễ bị sưng phổi, nhưng nỗi sợ chết biến mất. Một ngọn gió lạnh thổi từ sông Hudson lại, những ngôi sao mới xuất hiện trên nền trời. Một con mèo đen từ bên kia đường phóng sang, nó đứng ở lề đường dương đôi mắt xanh biếc nhìn thẳng về phía bà, rồi chậm rãi và thận trọng tiến sát bên bà. Từ nhỏ, Bessie rất ghét thú vật, chó, mèo, chim bồ câu và ngay cả loài sóc, tất cả đều mang bệnh tật đến cho người. Bà tin là trong mỗi con mèo đều chứa chấp một con quỷ, nhất là loại mèo đen này. Nhưng đêm nay bà lại thấy thương mến con vật vô gia cư, không một vật sở hữu, không có một cánh cửa hay một chiếc chìa khóa và sống trong sự độ lượng khoan dung của thượng đế. Trước khi con mèo tiến lại gần bà Bessie, nó ngửi chiếc xách tay rồi bắt đầu dụi lưng vào chân bà, miệng cất tiếng kêu meo meo. Bà tự nhủ: "Con vật này đói đây, ước gì mình có chút gì cho nó ăn. Tại sao người ta lại có thể ghét bỏ loài vật như thế này được nhỉ? Ôi mẹ ơi, con bắt đầu có một đời sống mới". Rồi một ý nghĩ thoáng qua trong đầu: lấy chồng lại chăng?
Đêm qua đi nhưng không phải là không có những biến cố. Một con bướm đêm bay lững lờ rồi đậu trên mui một chiếc xe rồi lại cất cánh bay đi nơi khác. Bà Bessie biết là một đứa bé mới chào đời đêm nay. Đôi khi bà chợt bừng tỉnh nhìn thấy một đốm lửa to bằng chiếc bong bóng bọt xa bông đang vất vưởng bay từ mái nhà nọ sang mái nhà kia, bà hiểu đó là linh hồn một người nào vừa thoát ra khỏi thân xác một kẻ bạc mệnh.
Bà Bessie thức dậy khi một ngày bắt đầu. Mặt trời mọc từ một phía Central Park, bầu trời phía trên đường Broadway có một màu tím và đỏ sẫm. Một con chim bồ câu bay xà xuống đất, đôi chân đỏ tung tăng nhẩy nhót, nó mổ một vật gì như một mẩu bánh vương vãi hay mẩu bùn khô. "Làm sao những con chim nhỏ này sống được nhỉ? Ban đêm chúng ngủ ở đâu? Rồi sao chúng sống sót được khi trời mưa, trời lạnh hay bão tuyết? Mình phải về nhà ngay đi", bà quyết định.
Đứng lên lại là một cực hình. Thân bà hình như dính chặt vào bực thềm đá, chiếc lưng đau rần còn đôi chân thì tê dại. Rồi bà cũng lê bước về phía khu chung cư. Bà hít một hơi dài cho không khí sớm mai chứa đầy buồng phổi, hình như có mùi cà phê và mùi cỏ lẫn lộn. Bây giờ thì bà không còn cô độc nữa. Hai bên đường người ta đã bắt đầu đi lại rộn rịp dần, tất cả đều âm thầm và bình thản như sau một đêm linh hồn họ đã được tẩy sạch.
Không, không phải là mọi người trong khu chung cư đều là kẻ cướp hay giết người. Kìa, một thanh niên gật đầu chào bà, bà cố cười đáp lại và cũng nhận thấy là từ lâu bà đã quên đi những dáng điệu đàn bà thời còn trẻ, ngay cả những bài học đầu tiên về xã giao mà mẹ dạy cho.
Bà Bessie tới cửa tòa nhà đã thấy tên quản lý người Ái Nhĩ Lan, kẻ thù số một của bà đang đứng nói chuyện với người phu thu lượm rác. Hắn là một tên khổng lồ với chiếc mũi ngắn củn, đôi môi dầy và một chiếc cằm nhọn. Nhìn thấy bà đang đi tới, hắn kêu lên:
- Việc gì vậy má?
Lắp bắp, bà kể cho hắn nghe mọi việc rồi đưa cho hắn coi chiếc đuôi chìa khóa mà bà cầm suốt đêm. Hắn la lên:
- Mẹ ơi. - Bà hỏi hắn:
- Tôi phải làm gì đây?
- Để con mở cửa cho má.
- Nhưng anh không có chiếc chìa khóa phụ mà.
- Con có thể mở mọi cửa trong trường hợp cháy nhà.
Hắn đi vào trong phòng một lát rồi đi ra với một số đồ nghề và một sâu chìa khóa. Họ cùng nhau lên lầu. Bao thực phẩm vẫn còn ở bên cạnh cửa.
- Tại sao má không gọi con? Tại sao má phải đi ra phố suốt đêm vậy? Tuổi của má ... trời ơi ...
Cánh cửa nhà bên cạnh mở ra, một người đàn bà nhỏ con còn mặc bộ đồ trong nhà, chân mang dép, tóc cuộn từng lọn chạy ra:
- Bà làm sao vậy? Đêm qua con mở cửa thấy bao thực phẩm của bà còn nằm đây, con đem bơ và sữa cất vào trong tủ lạnh của con đó.
Bà Bessie không ngăn được nước mắt:
- Thật là những người đáng quí, tôi không biết ...
Viên quản lý lấy được nửa chiếc chìa khóa gãy ra rồi xoay chiếc chìa khóa một vòng, cánh cửa bật mở. Hắn bước vào phòng với bà. Một mùi ẩm mốc xông lên như thể căn phòng đã từ lâu lắm không có người ở.
- Lần sau nếu có gì xẩy ra, má kêu con ngay nhé. Đó là nhiệm vụ của con mà.
Bà muốn cho hắn ít tiền nhưng tay bà quá yếu không thể mở chiếc bóp ra được. Bà hàng xóm mang sữa và bơ để vào trong tủ lạnh. Bà đi vào phòng ngủ rồi nằm xuống giường. Có gì chặn lấy ngực làm bà khó thở rồi bà thấy buồn nôn. Có gì nặng nề đang rung lên từ gót chân lên tới ngực. Ngoài kia, viên quản lý và bà láng giềng đang nói chuyện nhưng bà không hiểu là họ nói gì. Khoảng ba mươi năm trước, bà đã trải qua tình trạng này, lúc đó bà bị đánh thuốc mê trước.khi mổ, bác sĩ và y tá nói chuyện với nhau, những tiếng nói của họ hình như vọng lại từ một cõi xa xăm nào đó và hình như họ nói bằng tiếng ngoại quốc mà bà chẳng hiểu gì cả.
Rồi khi im lặng trở lại, Sam xuất hiện. Lúc này không còn là ngày hay đêm nữa mà ở trong một trạng thái mờ ảo. Trong giấc mơ, bà Bessie biết là Sam đã chết nhưng với một điều bí ẩn nào đó, ông ta đã tìm cách ra khỏi mồ để đến thăm bà. Như thể yếu ớt và lúng túng, ông không nói với bà được câu nào. Họ cùng nhau bay bổng trong không gian, nơi đây không có bầu trời, không có trái đất, qua một đường hầm đầy mảnh vụn, sự hủy hoại của một kiến trúc nào đó không diễn tả được. Họ tới một vùng có hai ngọn núi gặp nhau, một con đường đi ở giữa với ánh sáng mờ đục. Họ đứng đó hơi ngỡ ngàng, bà có cảm tưởng giống như đêm đầu của tuần trăng mật. Một giọng nói ở đâu vọng lại:
- Cứ vào đi, không cần chìa khóa đâu.
- Chiếc Chìa Khoá Trần Hồng Văn Truyện ngắn
- Cuộc Hành Trình Vô Tận Trần Hồng Văn Truyện ngắn
- Ngày 10 tháng 12 Trần Hồng Văn Truyện ngắn
- Lạc Lối Trần Hồng Văn Truyện ngắn
- Lệnh Hành Quyết Trần Hồng Văn Truyện ngắn
- Nhà Tù Trần Hồng Văn Truyện ngắn
- Con Sông Đổi Dòng - Phần II Trần Hồng Văn Truyện ngắn
- Con Sông Đổi Dòng - Phần I Trần Hồng Văn Truyện ngắn
- Người Nhập Cư Trần Hồng Văn Truyện ngắn
- Tiếng Hát của Người Dân Chài Trần Hồng Văn Truyện ngắn
• Chiếc Chìa Khoá (Trần Hồng Văn)
• Cuộc Hành Trình Vô Tận (Trần Hồng Văn)
• Chúa sẽ đến trong đêm nay (Lê Hữu)
• Ngày 10 tháng 12 (Trần Hồng Văn)
• Bí mật của Ông Cháu (Đào Anh Dũng)
• Lạc Lối (Trần Hồng Văn)
• Lệnh Hành Quyết (Trần Hồng Văn)
• Nhà Tù (Trần Hồng Văn)
• Tô cháo huyết (Tiểu Tử)
• Câu chuyện đêm giao thừa (Nguyễn Đặng Bắc-Ninh)![]()
Cánh Vạc Mùa Thu (Trần Hồng Văn)
Đêm Giáng Sinh Nhiệm Mầu
Một Đêm Phiền Muộn
Tiếng Vọng từ Đáy Vực
Đại Sư Và Giai Nhân
Tây Ninh – Chút Còn Lại Trong Lòng Người Lính (Nguyễn Mạnh An Dân)
Ngọn Đồi Trầm Lặng (Trần Hồng Văn)
Hoa Với Lá Chỉ Một Màu Trắng Đục
• Im Lặng Của Thiền Sư (Phan Trang Hy)
• Kể Lại Vài Giai Thoại Trong Tập Vào Thiền (Doãn Quốc Sỹ)
• Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp (Hồ Hữu Tường)
• Mẹ Quán Thế Âm (Phạm Huê)
• Những Hạt Đậu Biết Nhảy (Phạm Huê)
• Maria Quán Thế Âm (Phạm Huê)
• Sợi Tơ Nhện (Nguyễn Văn Thực)
(Thẩm Thúy Hằng-Kiều Chinh-ThanhNga-BạchTuyết)
- Chiếc Bóng Bên Đường - Nàng (1970)
- Người Cô Đơn (1972) - Xa Lộ Không Đèn
- Bão Tình (1972) - Sóng Tình (1972)
- Chúng Tôi Muốn Sống (1956)
- Trường Tôi (1973) - Nắng Chiều (1973)
- Tứ Quái Sài Gòn - Những Giọt Sương Khuya
- Như Hạt Mưa Sa 1 - Như Hạt Mưa Sa 2
- Như Hạt Mưa Sa 3 - Như Hạt Mưa Sa 4
|
© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com) |