1. Head_

    Bùi Kỷ

    (5.1.1888 - 19.5.1960)

    Thu Hồ

    (14.10.1919 - 19.5.2000)
    Ad-25-TSu-2301360532 Ad-25-TSu-2301360532

     

     

    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Chuyện nàng Feridah Challoner (Trần Hồng Văn phóng tác) Ad-23-Index Ad-23-Index = (Ad-23-468x60created-2-1-10) (Học Xá)

      31-3-2024 | TRUYỆN

      Chuyện nàng Feridah Challoner

       TRẦN HỒNG VĂN
      Share File.php Share File
          

       

      Truyện Ngắn Tô Cách Lan
      Trần Hồng Văn phóng tác

      Vài hàng về tác giả: Robert Dundas làm việc cho Bộ Ngoại giao Anh, là người gốc Tô Cách Lan (Scotland). Ông tốt nghiệp tại Đại học Edinburgh, nói, đọc và viết chín ngôn ngữ, bao gồm cả tiếng Ả Rập. Ông là Tổng Lãnh Sự, Đại sứ Anh tại nhiều nước, kể cả những nước Ả Rập, bao gồm Maroc, nơi làm bối cảnh cho câu chuyện này. Dundas cũng là Tổng Lãnh Sự Anh trong 3 năm tại New Orleans, Louisiana. Truyện ngắn và các bài báo về du lịch của ông xuất hiện trên các tạp chí văn học Anh.


      1.


      Đó là thời điểm năm 1908, tôi là đại úy Daubney của Trung đoàn 6 quân đội Hoàng Gia Anh. Tình cờ nhìn thấy bức chân dung đó khi tôi đang nghỉ phép. Bức tranh vẽ một người phụ nữ khoảng 30 tuổi được treo ở cuối hành lang trong một viện bảo tàng nhỏ của tỉnh. Feridah Challoner, theo danh mục.


      Người phụ trách và tôi đứng trước bức tranh một lúc lâu, cuối cùng tôi nói:


      - Cô ấy chắc hẳn là một người phụ nữ đặc biệt.


      - Chắc hẳn sao? - Anh ta trả lời. - Bức chân dung đã nói lên tất cả. Một nghệ sĩ người Pháp tên là Jamorel ở Marrakesh đã vẽ cách đây vài năm. (CHÚ THÍCH: Marrakech là thủ đô nước Ma-Rốc) Ông ta là một họa sĩ chuyên vẽ phong cảnh, nhưng cô Challoner đã làm ông ta phát sốt, như cô ấy đã làm với rất nhiều người đàn ông khác. Bức tranh xuất sắc này, theo bất kỳ tiêu chuẩn nào là một kiệt tác.


      Chúng tôi tiếp tục nhìn vào bức chân dung trong im lặng.


      - Chắc là anh biết nhiều về cô ta - Tôi nói, đưa ra nhận xét hơn là đặt câu hỏi.


      - Vâng, tôi đã sống ở Marrakesh trong vài năm. Cô ấy là mang một nửa dòng máu người Ả Rập, Feridah, tiếng Ả Rập có nghĩa là duy nhất, chỉ có một và duy nhất.


      - Tôi hiểu - Tôi nói - Nước da ngăm đen và mái tóc đen nhánh đã nói lên điều đó.


      - Còn xương gò má cao và đôi mắt xanh là di sản của nửa kia.


      - Vậy cha cô ta là ai?


      - Để trả lời câu hỏi của bạn: Không, chúng tôi không biết chắc chắn về vấn đề đó, có thể là con gái của một người Anh nổi tiếng nào đó muốn bưng bít. Rupert Birley đã nuôi cô ta. Với tư cách là Lãnh sự, ông ấy tự coi mình là "người giám hộ" cho một đứa trẻ mồ côi người Anh. Ông ta đã gửi cô ấy đến một trường ở Anh và mang tên riêng của ông, kết quả là cô ấy có một nền giáo dục hạng nhất, Trường Cao đẳng Cheltenham Ladies' College. Những gì cô ấy học được ở đó không bao giờ bị mai một. Cô ấy có những biểu hiện của một dòng dõi quý tộc cao quý.


      Cô là một trong những phụ nữ Anh hiếm hoi, thỉnh thoảng để lại lộ ra dấu ấn một phần người Ả Rập và là một nhân vật ấn tượng. Trong nhiều năm, cô đứng trên tất cả những người khác, như là thủ lãnh của người Berbers. (CHÚ THÍCH: Berber là thổ dân tại vùng Bắc Phi, phần lớn sống tại Ma -Rốc và Algeria)


      *


      Một ngày nọ, thật bất ngờ, phóng viên của tờ Times ở Tangier đã viết một tin ngắn về sự biến mất của nàng, đó chỉ là một bản tin ngắn, thật đơn giản, không có bất kỳ lời bình luận nào kèm theo. Tôi nghĩ người như Challoner không thể biến mất một cách vô tình nhu vậy được. Vì vậy trước khi trở lại trung đoàn, tôi quyết định đến Maroc trước và điều tra. Bức tranh sơn dầu ấn tượng của Jamorel đã thu hút trí tưởng tượng của tôi. Nàng đứng đó trong bộ y phục màu đen, trên tay cầm một chiếc roi ngựa, ... và đôi mắt xanh quyến rũ đó. Không, Feridah Challoner chắc chắn không phải kiểu phụ nữ dễ dàng biến mất được.


      2.


      Trước hết, tôi đến Đại học Nữ sinh Cheltenham để xem có thể tìm hiểu thêm điều gì về nàng không. Bà hiệu trưởng giới thiệu tôi cho một quản lý quen biết với Feridah. Bà nói khi ở đây, nàng đã để lại nhiều kỷ niệm khó quên.


      - Những khó khăn ban đầu kiến Feridah thật vất vả. Rõ ràng cô ta là một người nước ngoài vì không nói tiếng Anh chuẩn. Mọi người thì thào cô ấy là người Ma-rốc. Các cô gái trong trường đến từ một tầng lớp rất bảo thủ trong xã hội, họ không dễ dàng tiếp nhận những ý tưởng mới hay người ở giai cấp thấp như người Ma-rốc sống với họ. Các công chúa nước khác như Ấn Độ, vâng, điều đó thì khác, nhưng một người Ma-rốc không có dòng máu hoàng gia hay bất cứ điều gì để hãnh diện thì lại khác! Feridah phải chịu đựng những cái nhìn khinh miệt của họ. Tất nhiên, chúng tôi đã để mắt đến cô ấy để đảm bảo rằng mọi thứ không nằm ngoài tầm kiểm soát. Tuy vậy có hai điều đã giúp cô. Đó là thể chất rất rắn rỏi, và đôi mắt tinh tường. Điều này giúp cô thắng dễ dàng trong các môn thể thao khiến các cô gái khác nể nang. Hai là cô ta nhanh chóng giành được sự tôn trọng của các thầy cô giáo và các nhân viên vì là một học sinh rất giỏi về nhiều môn. Ngoài ra cô rất trọng danh dự và lòng trung thành, điều mà nhà trường luôn coi trọng nhất, hơn bất cứ điều gì.


      - Bà có tấm ảnh nào của cô ấy không?


      Một vài bức ảnh chụp nàng trong đội khúc côn cầu, mặc váy dài, áo sơ mi trắng và đeo cà vạt. Không cần phải nói thêm, vì không thể nào so sánh được với bức chân dung của Jamorel. Đó vẫn là hình ảnh mà tôi mang theo trong tâm trí mình khi bắt đầu hành trình tìm kiếm Feridah.


      *


      Tôi đã đến Tangier bằng đường thủy (CHÚ THÍCH: Tangier là một thành phố cảng lớn nước Ma-Rốc). Nhìn từ vịnh, Tangier thật hấp dẫn, phía trên những ngôi nhà màu trắng giống như một nhà hát lớn lấp lánh. Đằng sau mặt tiền sơn đó là vùng đất bí ẩn, đen tối của Ma-rốc, đất nước của Feridah Challoner.


      Công việc đầu tiên của tôi là gọi cho phóng viên của tờ Times trong ngôi biệt thự tráng lệ nhìn ra eo biển Gibraltar. Henry nói là không có gì để thêm vào bản tin ngắn ngủi của anh ấy về sự biến mất của bà Challoner.


      - Nhưng người ta không tự nhiên biến mất! - Tôi phản đối.


      - Ở Ma-rốc, Đại úy Daubney à, là vậy đó. - Anh ta nghiêm nghị đáp. - Nếu có người hỏi kỹ hơn thì tốt hơn là giữ im lặng.


      Tôi đã hỏi về Rupert Birley, người giám hộ. Đây là một câu hỏi hay, nó mang lại khá nhiều chi tiết về Feridah. Khi Birley nghỉ việc Lãnh sự, ông ở lại vùng đất canh tác ở Ma-rốc mà ông đã mua được ở chân dãy núi Atlas. Ông đã nhận Feridah làm người bảo hộ khi nàng còn là một đứa trẻ, và sau đó ông gửi nàng đến trường ở Anh. Cái lưỡi độc ác của người đời gán cho ông những động cơ xấu xa. Henry cho biết nàng sang Anh học dưới cái tên Birley. Anh ấy cho là điều đó khiến toàn bộ sự việc trở nên đáng trân trọng. Khi việc học kết thúc, nàng trở lại trang trại và là một thành viên quan trọng trong gia đình Birley. Sức khỏe của ông ta khi đó giảm sút. Nàng giữ sổ sách và nhanh chóng học cách điều hành trang trại. Nàng đã học cưỡi ngựa ở trường, và là một nữ kỵ mã cừ khôi. Nhiều phụ nữ Anh, đặc biệt là ở các nước thuộc địa mặc quần ống túm và cưỡi ngựa. Feridah giống họ; cô đã có thói quen cưỡi ngựa tại trường là ngồi một bên trên lưng ngựa. Nó nhấn mạnh vị trí đặc biệt của nàng như một người phụ nữ quý phái.


      Rupert đã không gửi cô đến trường mà không có chủ ý gì. Ông dự định đưa nàng thay thế ông trong Cộng đồng người Anh, bất chấp những lời chỉ trích vì mọi người biết rằng nàng mang một nửa dòng máu Ả Rập, ông cũng là người đủ tầm vóc để áp đặt ý muốn của mình, khiến nàng phải theo ý ông. Không khó hiểu khi đám đàn ông dễ dáng chấp nhận; nàng đã lớn lên trở thành một thiếu nữ vô cùng quyến rũ và đây chính là lý do khiến phụ nữ khó chịu với nàng. Đối với họ, nàng có sức hấp dẫn quỷ quyệt của một cô gái lai, quyến rũ đàn ông và làm cho tất cả phụ nữ thầm ghen tức.


      Năm 1892, nàng kết hôn với Challoner. Điều này xác định rõ ràng vị trí của nàng trong xã hội vì Challoner là một chủ một đồn điền người Anh rất giầu có. Đám phụ nữ thì ghen tị, họ gọi cô ấy sau lưng là “Chuột Sa Chĩnh Gạo”, nhưng lại không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận nàng. Đối với Feridah, nàng đã trải qua tất cả những điều đó khi ở trường. Và một lần nữa lại phải chìa cái cằm nhỏ của mình ra thách thức với cả thế giới.


      Chín năm sau Challoner chết do chứng bệnh sốt phát ban, nàng sắn tay áo để điều hành khu bất động sản khổng lồ này, hàng ngàn mẫu đất nông nghiệp, suốt ngày đổ mồ hôi trên vùng hẻo lánh của Ma rốc, thuộc vùng đất người Berber, nhức đầu vì mối mâu thuẫn với người Pháp về thuế đất đai và với người Berber về việc phân định ranh giới.


      Sóng gió với những người hàng xóm ngỗ nghịch này và đặc biệt là dòng họ nhà Glaui (CHÚ THÍCH: Gia đình Glaui là một trong những gia tộc chính trị quyền lực nhất ở Maroc vào cuối thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20). Tuy vậy nàng chưa bao giờ chứng tỏ họ là tốt nhất ở xứ này. Nàng tham gia các bữa tiệc của gia đình họ, cưỡi ngựa một bên khiến những người khó tính nhất cũng phải ngưỡng mộ. Người Pháp thì nghi ngờ mối quan hệ của nàng với Glaui, bởi vì chính họ là người nắm quyền kiểm soát cái mà họ thừa nhận là khu tự trị. Người Pháp nghi ngờ nàng là một đặc vụ Anh, cung cấp thông tin tình báo cho Bộ trưởng Anh tại Tangier, và làm cho người Berber luôn ở trong tình trạng sôi sục. Chứng cớ được thêm vào mối nghi ngờ này vì nàng đã duy trì thói quen của người chồng quá cố là tổ chức buổi party hàng năm ăn uống rồi săn heo rừng, Bộ trưởng Anh là khách mời danh dự. Tài sản của Challoner rộng lớn đến mức những khu vực rộng lớn vẫn chưa được canh tác. Chúng được bao phủ bởi rừng cây cọ. Ở đây có rất nhiều heo, và săn heo rừng là một môn giải trí tuyệt vời.


      Buổi party này là một sự kiện lớn trong lịch sử nước Ma-rốc. Người Anh từ khắp nơi trên đất nước được mời tham dự. Lá cờ của Bộ trưởng tung bay trước chiếc lều lớn, và những chiếc lều khác được trang trí bằng cờ đuôi nheo đủ màu sắc. Những vị khách sống dưới tấm bạt trong ba ngày. Bầu không khí thật thoải mái. Cuộc săn bắn diễn ra tuyệt vời, những người hầu bản địa phụ trách việc nướng thịt lợn rừng. Khói cuộn tròn và mùi thơm bay khắp trại trong suốt buổi tối.


      Đàn ông đi săn bắn cả ngày, Feridah đi cùng họ, nàng luôn ngồi một bên trên lưng ngựa. Sức chịu đựng của nàng là như muốn nói:

      - Nhìn tôi này, tôi là một phụ nữ nhưng không thua gì các bạn.


      Henry ngập ngừng kể, nhìn tôi.

      - Chính trong lần này, cô ấy đã biến mất.


      - Anh không biết chuyện gì đã xảy ra à? - Tôi hoài nghi hỏi.

      - Không ai biết cả.

      - Nhưng khi đó chính bạn ở đó mà.

      - Đúng vậy, nhưng năm đó tôi không ở lại đến ngày cuối. Được tin người Đức gửi pháo hạm Panther đến Agadir, tôi phải đột ngột rời đi cùng với Bộ trưởng (CHÚ THÍCH: Agadir là một thành phố cảng nước Ma-Rốc).


      - Như vậy tôi phải hỏi ai để biết rõ đây? Có lẽ ông Birley?

      - Không, ông ấy đã chết. Anh có thể thử Pratt. Ông ta thay thế Birley là Lãnh Sự tại Marrakesh. Nhưng anh sẽ không thu thập được điều gì đâu.


      3.


      Tôi tìm thấy Pratt trên hiên nhà khi anh ta đang nhìn mặt trời lặn.


      - Nghĩ rằng nó đã xuống bằng đỉnh cột buồm? - Anh ấy hỏi.


      Tôi trả lời nó đang xuống dần.


      Anh ấy là một người bạn dễ chịu, điềm đạm.


      - Vâng tôi đã ở đó. - Anh ta nói, đáp lại câu hỏi của tôi. – Săn heo rừng do cô Challoner tổ chức thì không thể bỏ lỡ nếu may mắn được mời. Nó đã đi vào lịch sử ở nước Ma- Rốc. Tất cả những thứ đó, nào là lều, cờ, ngựa ở khắp mọi nơi; và tất nhiên, săn heo rừng tại nơi đó là tốt nhất tại Ma-rốc, và có thể nói là trên thế giới. Có rất nhiều heo hoang dã, bởi vì chúng chỉ bị săn trên vùng đất đó mỗi năm có một lần. Đó là thú vui của đàn ông, nhưng đừng nhầm. Feridah cưỡi ngựa cùng với những người giỏi nhất! Cô ấy thật tuyệt vời, ngồi một bên trên yên ngựa, đầu ngẩng cao, một mớ tóc đen nhánh dày kết thành một búi lớn sau gáy. Đúng là một phụ nữ phi thường!


      Đôi mắt của Pratt sáng lên khi nhớ lại. Bức tranh của anh ấy về Feridah cũng sống động như bức tranh trong trí của tôi, nhưng khác biệt chính là những chuyển động.


      - Sau đó chuyện gì đã xảy ra ?


      - Bắt đầu từ đâu nhi? Có lẽ vào thời điểm mà chúng tôi, dĩ nhiên là cả Feridah nữa, cưỡi ngựa trở về khu cắm trại lúc chạng vạng tối, với những con heo treo trên những cây sào giữa những người khiêng. Chúng tôi đã quá mải mê và kích thích với cuộc đi săn mà không chú ý đến những người trong bộ lạc đang cúi mình lẩn trong đám cây cọ. Họ lặng lẽ khép vòng tròn phía sau chúng tôi. Khu cắm trại bị bao vây trước khi chúng tôi nhận ra. Chúng tôi đã bị mắc kẹt.


      Khi vào tới trại, chúng tôi biết rằng người Glaui đã ra tối hậu thư. Họ sẽ mở rộng vòng vây để đổi lấy một phụ nữ Anh làm con tin. Nếu chúng tôi không đáp ứng thì họ sẽ dùng võ lực. Không có gì ngăn cản được họ, chúng tôi không được trang bị vũ khí mà chỉ có một ít súng săn. Vào lúc này, đám phụ nữ cũng đang thảo luận.


      Tôi nghĩ phần tiếp theo của câu chuyện phải đến hỏi cô Mary Kettles. Pratt kể tiếp những người phụ nữ sợ hãi này không mất nhiều thời gian để đưa đến một quyết định. Họ đồng ý chọn người phụ nữ có hai dòng máu. Đó là Feridah vì một phụ nữ Anh cao qúy không bao giờ có thể sống với bọn thổ dân dã man được. Hơn nữa, cô ta có thể nói chuyện bằng ngôn ngữ của họ.


      - Như vậy ai sẽ nói cho cô ấy biết?


      - Chẳng ai nói với Feridah Challoner bất cứ điều gì cả! Ngay sau khi biết chuyện gì đang xảy ra, không dừng lại để thu dọn bất cứ thứ gì, mồ hôi, bụi bặm trên má trên cổ và những sợi tóc lòa xòa trên trán, cô đi thẳng đến chiếc lều nơi bọn phụ nữ đang tụ tập. Bạn có thể tưởng tượng việc gì xẩy ra không? Cô ta lướt vào đúng lúc nghe được câu nói cuối cùng.


      - Các bà đang nói về tôi phải không? - Cô vui vẻ hỏi họ. Một tấm màn im lặng tội lỗi bao trùm lên tất cả - Tôi rất vui vì tôi đã gặp tất cả các bạn ở đây. Tôi có một đề nghị đưa ra đây. Tôi nghĩ tôi nên là con tin. Các bạn là khách trên đất của tôi. Theo một nghĩa nào đó, tôi đã vô tình đưa các bạn vào mớ hỗn độn này, tôi sẽ hối hận nếu không giúp các bạn thoát khỏi tình trạng này. Bên cạnh đó, tôi có lợi thế là biết rõ về dòng họ Glaui, tôi sẽ giải quyết tốt hơn bất kỳ ai trong số các bạn. - Có một chút khinh bỉ trong giọng nói của cô ấy, nhưng không ai nhận ra điều đó.- Quyết định vậy đi.


      Cô ta nhẹ nhàng nói rồi rời đi, mọi người hầu như không tin vào vận may. Còn Feridah trở về lều tắm rửa và chải chuốt, rồi phi ngựa ra khỏi trại trong vòng một giờ.


      - Người đàn bà dũng cảm. - Tôi xen vào.


      - Tôi cũng nghĩ thế. - Pratt nói. - Nhưng một số người tin rằng cô ấy đã trốn mất. Sáng hôm sau, những người trong bộ lạc biến đi hết. Trại được dọn dẹp và vô cùng xấu hổ chúng tôi tìm đường về nhà. Riêng tôi rất mừng vì Bộ trưởng đã rời đi trước khi mọi chuyện xảy ra.


      Tôi sẽ nói với anh một điều, Daubney. Tôi đã sửng sốt khi thấy đám phụ nữ đã quên mất nỗi sợ hãi sau khi mối đe dọa không còn và bắt đầu nói xấu người phụ nữ đã giúp họ thoát khỏi tình trạng khó khăn. Tôi nghe cô Mary Kettles nói: - Tôi không nghĩ cô ta sẽ dám ló mặt vào câu lạc bộ của chúng ta nữa đâu, "Người Ả Rập là một chuyện, nhưng bây giờ thêm vào người Berber nữa...! Riêng tôi, tôi sẽ cảm thấy bị ô nhiễm nếu cô ta bước vào phòng của chúng mình.


      Thật không may, một hoặc hai ngày sau, Feridah tới câu lạc bộ. Những người phụ nữ này, những người mà cô cứu đã quay lưng lại. Họ thì thầm với nhau rồi vội vàng rời đi mà không chào hỏi cô một câu. Chỉ trong vài phút, chỉ còn tôi một mình với Feridah.


      - Lũ chó đẻ. – Tôi bực mình nói.


      - Đôi má sẫm màu của Feridah ửng hồng. Cô ấy ngước đôi mắt xanh biếc nhìn tôi, mỉm cười khó hiểu, rồi hất cằm đi ra ngoài không nói một lời nào. Tôi nhìn cô lên ngựa và đi trên con đường lên núi. Tôi không thể làm hay nói gì để ngăn cô ấy lại, tôi đứng nhìn cô len lỏi qua những ngọn đồi, bị khuất tầm nhìn trong vài phút, rồi lại xuất hiện, hình bóng mỗi lúc một nhỏ hơn, cho đến khi biến mất hoàn toàn. Không ai thấy cô ấy kể từ đó.


      Khi Pratt nói xong, tôi cảm thấy rằng mình đang đi đến cốt lõi của vấn đề. Tôi quyết định nói chuyện với Mary Kettles.


      4.


      Khi tôi đến thăm cô ấy mà không báo trước (tất nhiên là chúng tôi không có điện thoại), cô đang đi đi lại lại trên hiên, đợi một người hầu dắt ngựa đến. Đó là một trong những phụ nữ mặc quần ống túm và cưỡi ngựa. Cô liên tục gõ nhẹ chiếc roi da vào chiếc ủng một cách sốt ruột. Đúng là hình ảnh của một người phụ nữ "thực dân". Xuyên qua chiếc áo sơ mi màu kem có thể thấy rõ chiếc áo lót trắng. Feridah qua bức chân dung của Jamorel mà tôi biết không bao giờ có kiểu ăn mặc khiếm nhã như vậy.


      - Vậy là anh đến đây để hỏi về Feridah Challoner phải không? – Cô ta hùng hổ nói. - Anh muốn biết sự thật phải không?


      - Tôi nghĩ là cô biết nhiều về cô ấy. - Tôi bối rối nói trước giọng hằn học của cô ta.


      - Tôi sẽ nói thẳng cho anh biết: Fedirah Challoner kiêu ngạo, hống hách và hay gây gổ. Cô ta luôn bất hòa với chính quyền Pháp và với những người Berber. Đồ chết tiệt, cô ấy có thể mềm dẻo hơn với người Pháp. Một người phụ nữ quyến rũ như cô ta có thể khiến họ đối xử tốt với cô ấy. Đối với người Berbers, cô ta không cần phải hiếu chiến như vậy. Tất nhiên đối với chúng tôi, cô ấy ở thế thụ động, dễ xúc động vì cô ấy có những điểu đáng nghi ngờ về dòng giống của mình. Cô ấy nghĩ mình là ai, cô nói chuyện với chúng tôi bằng giọng học được từ trường. Quyến rũ? Quỷ quyệt? Đó là lý do tại sao bất cứ người đàn ông nào không bao giờ có được hình ảnh khách quan về cô ta. Cô ấy muốn mọi đàn ông phải quỳ dưới chân mình. Nhưng cô ấy thích giữ họ quanh quẩn dưới chân. Có một nghệ sĩ ít tên tuổi người Anh đã yêu cô ấy điên cuồng. Anh ta bám sát cô ta đến mức cuối cùng, cô ấy phải lấy roi quất vào anh ta. Tôi thực sự không thể đổ lỗi cho cô ấy, nhưng một người lịch sự không bao giờ làm như vậy ngoài loại người hoang dã, phải không? Tất nhiên là anh ta đã rời khỏi đất nước này trước khi mua một bức chân dung của cô ấy bởi một con ếch tên là Jamorel... hẳn là đã yêu cô ấy, tôi cho là vậy...


      Qua thời gian tạm dừng, tôi vào chính vấn đề:

      - Nhưng cô ấy đã cứu mọi người vào đêm đó, phải vậy không?


      - Đó là những gì tôi muốn nói! - Cô ta phẫn nộ nói. - Anh đã nói chuyện với Pratt rồi phải không! Chính sự hay gây gổ không ngừng của cô ấy đã chọc tức người Berbers. Chính ra việc đó không nhất thiết phải xảy ra. Họ tấn công cô ấy, làm hỏng buổi picnic. Khi xảy ra, cô ta đã tuyệt vời chơi ván bài "không để bên nào thất vọng". Đối với cô ta, không phải là một sự hy sinh khi đi với người Berber. Ông Challoner đã chết, cô ấy là một phụ nữ đói tình. Cô ta đã tình nguyện, chúng tôi không ép buộc. Tất nhiên là cô ấy đã ăn nằm với người Berber. Tôi không biết làm thế nào mà cô ấy lại có gan thể hiện việc này trước những cô gái người Anh lịch sự, đàng hoàng. Chỉ có Chúa mới biết cô ấy đang mang trong mình căn bệnh khó nói nào dưới lớp váy của mình. Bạn của bạn là Pratt nghĩ gì về điều này? Còn người Glaui là một trải nghiệm mới đối với cô ấy, và cô ấy say sưa với họ. Người ta nói đàn ông da đen cực kỳ mạnh mẽ về sinh lý, vì vậy cô ta đã đi đi về về với người Berber trong rặng núi Atlas. Đừng bị đánh lừa bởi những gì mà bọn đàn ông nói với anh.


      - Tôi sẽ không bị đánh lừa bởi bất cứ ai nói với tôi. - Tôi lạnh lùng nói. - Tôi nghĩ có nhiều điều cần phải làm sáng tỏ. Tôi sẽ tìm ra sự thực.


      5.


      Tôi hỏi Pratt đã có ai tới dãy núi Atlas để tìm Feridah chưa.


      - Đừng nên nghĩ đến điều đó. Với tư cách là Lãnh sự, tôi sẽ là người cuối cùng theo cô ấy tới đó. Với công ước năm 1904, những người sống ở Ma-rốc phải hết sức cẩn thận để không chọc giận người Pháp. Khi họ nói hãy tránh xa khu vực tự trị đó, chúng tôi sẽ tránh xa nó. - Tôi tự hỏi liệu anh ta có cố tình phân biệt giữa "những người sống ở Ma-rốc" và một người bình thường như tôi hay không.


      Không nói thêm lời nào nữa, tôi cưỡi ngựa đến chân dãy núi Atlas vào một buổi sáng mùa xuân đẹp trời. Không khí trong lành, khô ráo tươi mát. Bầu trời màu xanh lam mà Jamorel đã tái tạo một cách trung thực trong các bức tranh phong cảnh của mình. Những ngọn núi lớn màu nâu nổi bật, có đỉnh nhọn và cằn cỗi ... đây đó, giữa những vết sẹo, tôi nhìn thấy một dải màu xanh lục, một dòng sông, với những toà nhà như những cung điện hình vuông đẹp như tranh vẽ ở gần đỉnh.


      Tôi rẽ vào một góc và gặp một cụm lều, đó là tiền đồn của Bộ Nội Vụ. Một chiếc cờ màu bay phấp phới trên một túp lều. Tôi xuống ngựa cạnh hàng rào chắn trên đường và theo lời mời của viên sĩ quan đi vào trong. Anh ta ăn mặc bảnh bao và cạo râu sạch sẽ và nói cuộc tìm kiếm của tôi chỉ là vô ích.


      - Thưa Đại Úy, không có người phụ nữ Châu Âu nào trong vùng tự trị đó cả.


      - Tôi có thể tự mình đi xem được không?


      Anh ta ngẫm nghĩ:


      - Đại Úy có thể đi vào khu vực tự trị đó ở mức giới hạn thôi. Đi vào con đường cuối cùng, nhưng không xa hơn hai mươi ki-lô-mét, và nhớ kỹ là không rời khỏi con đường đó, nếu không chúng tôi không thể đảm bảo sự an toàn của Đại Úy, và hơn thế nữa, có thể trở thành mối phiền toái đối với chúng tôi! Nhớ là Đại Úy đang ở trong phần đất của người Berber ... nhưng cũng xin nhớ là Đại Úy đã lãng phí thời gian của mình, không có một phụ nữ da trắng nào ở đó cả.


      Tôi chấp nhận các điều kiện của anh ta và lên đường vào sáng sớm hôm sau. Tôi có mang theo một chiếc ống nhòm cực mạnh, và có thể quan sát được khắp vùng rộng lớn để tìm Feridah nếu nàng ở đó. Tôi có thể tiến qua giới hạn hai mươi cây số mà anh ta không biết. Chân dung Feridah Challoner trong bức tranh vẽ của Jarorel vẫn còn sống động trong tâm trí. Tôi có thề nhận ra nàng cách xa một vài dặm... và tôi sẽ bay đến bên nàng ngay! Những gì tôi biết về nàng kể từ khi tôi đến Ma-rốc, thậm chí cả những lời nhận xét bất lợi, đã lấp đầy tâm hồn tôi và tôi mong mỏi được giáp mặt nàng.


      Tôi nhìn lướt qua những con dốc thấp phủ đầy cây cọ; trên cao hơn, tôi nhìn khắp sườn núi trơ trụi và để mắt tập trung vào một toà lâu đài, quan sát đám người canh tác khu đất xung quanh bằng những dụng cụ thô sơ. Tôi không thấy một phụ nữ người Âu Châu nào.


      Vào khoảng giữa trưa trời rất nóng, tôi nằm dài trong bóng râm loang lổ của một cây bạch đàn còi cọc. Khi tôi nhìn sâu vào bầu trời phía xa, tôi phát hiện ra một con chim đang bay lượn. Tôi ngồi dậy và hướng ống nhòm vào đó. Đó là một con chim ưng. Đột nhiên, nó sà xuống.


      Tôi vội vã lên ngựa với hy vọng nhìn thấy con mồi mà con chim ưng đã bắt được. Trong lúc phấn khích, tôi không biết là mình đã rời khỏi con đường.


      Tiếng móng ngựa dồn dập phía trước cho tôi biết là tôi không đơn độc. Tôi đang ở đất nước Berber, tôi sợ hãi quay đầu lại.


      Không thể nhầm lẫn được, Feridah Challoner đang ở phía trước. Nàng đang đến rất nhanh.


      - Bà Challoner. - Tôi gọi. - Tôi là một sĩ quan kỵ binh người Anh.


      Nàng ghìm ngựa, miệng con ngựa sùi bọt mép đứng cách tôi vài mét.


      - Vậy thì xin quay lại, thưa ngài. - Nàng nói. - Ngài có thể là người Anh, một sĩ quan kỵ binh. Nhưng là gì với tôi? Yêu cầu ngài ra khỏi nơi đây ngay lập tức. Sự hiện diện của ngài làm tôi đau đớn. Ngài có bắt tôi phải lấy roi quất ngài không, thưa ngài.


      Con chim ưng, lúc này đã được trùm đầu, đậu trên cổ tay trái đeo găng. Tay phải nàng cầm dây cương. Cây roi được uốn cong trên yên ngựa


      Bây giờ tôi phải làm gì đây? Nhiệm vụ của tôi rõ ràng đã kết thúc. Tôi không có gan chịu những làn roi mà không nghi ngờ nàng sẽ sử dụng.


      - Sẵn sàng phục vụ, thưa bà. - Tôi nói, cúi đầu chào.


      Thả dây cương xuống, nàng làm một cử chỉ đột ngột bằng tay phải.


      - Chờ đã, người Anh kia, đợi một chút. - Lần đầu tiên nàng hướng đôi mắt xanh biếc như viên ngọc vào tôi. Đôi mắt trong suốt mà Jamorel đã vẽ. Trong một thoáng, những ngón tay của nàng lục lọi bên trong vạt áo – Đây rồi. – Nàng thốt lên. - Mối liên kết cuối cùng, cầm lấy nó. - Môi nàng mím lại thành một đường dài, không run và không cười.


      Nàng ném cho tôi một vật nhỏ. Nó lấp lánh dưới ánh sáng mặt trời. Tôi không kịp đưa tay ra và nó rơi xuống đất. Khi tôi cúi xuống nhặt lên, nàng thúc vào sườn con ngựa. Felidah Challoner biến mất như một cơn gió, con chiến mã Ả Rập phi nước đại một cách giận dữ. Ngồi một bên trên chiếc yên, hình ảnh của nàng thật đẹp, hông, eo và vai di chuyển nhịp nhàng, như thể nàng và con ngựa là một. Mái tóc đen xõa ra sau lưng. Đó là một cảnh tượng khó quên.


      Trên đỉnh của ngọn đồi, là một đám kỵ binh người Berber. Đã đến lúc tôi phải đi.


      Khi tôi có cơ hội xem vật mà nàng đã ném cho tôi, một cảm giác trống rỗng kỳ lạ trong lòng, tôi đã chia sẻ lời từ biệt của Feridah Challoner. Vật nằm trong lòng bàn tay tôi là phù hiệu huynh trưởng của trường học đã trao cho nàng.


      *


      Tôi gọi Henry khi đi ngang qua Tangier

      - À, Đại úy Daubney - Anh ta hỏi - Anh có tìm thấy gì không?

      - Không - tôi đáp - Ông nói đúng. Ở Ma-rốc, người ta biến mất là điều bình thường.


      Trần Hồng Văn phóng tác

      Tác giả gởi

      Ad-22-A_Newest-Feb25-2022 Ad-22-A_Newest-Feb25-2022


      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Pho Tượng Chac-Mool Trần Hồng Văn Truyện ngắn

      - Chuyện nàng Feridah Challoner Trần Hồng Văn Truyện ngắn

      - Căn Nhà Trần Hồng Văn Truyện ngắn

      - Người Khách Lạ Trần Hồng Văn Truyện ngắn

      - Tên Phản Bội Trần Hồng Văn Truyện ngắn

      - Đôi Mắt Trần Hồng Văn Truyện ngắn

      - Như Một Giấc Mơ Trần Hồng Văn Truyện ngắn

      - Con Cáo Sa Mạc Trần Hồng Văn Truyện ngắn

      - Cánh Vạc Mùa Thu Trần Hồng Văn Truyện ngắn

      - Bên Rạn San Hô Trần Hồng Văn Truyện ngắn

    3. Truyện Ngắn (Học Xá) Ad-31 Ad-31 = QC_250-250 (Học Xá)

       

      Truyện

        Cùng Mục (Link)

      Chuyện người con gái có tên ‘Nguyễn Thị Di Tản’ (Hoàng Thị Tố Lang)

      Pho Tượng Chac-Mool (Trần Hồng Văn)

      Ông Giáo Sư Dạy Sử (Vương Mộng Long)

      Người Tù Binh Trở Về (Thảo Ca)

      Đêm Đình Chiến (Vũ Thất)

      Chuyện nàng Feridah Challoner (Trần Hồng Văn)

      Bắn chậm thì chết (Lê Hữu)

      Mua bán lạc xoong (Trần Yên Hòa)

      Căn Nhà (Trần Hồng Văn)

      Dáng Mỏng (Trần Yên Hòa)


      Truyện Đọc

       

      Cánh Vạc Mùa Thu (Trần Hồng Văn) 

      Đêm Giáng Sinh Nhiệm Mầu

       (Trần Hồng Văn) 

      Đứa Con Út (Trần Hồng Văn) 

      Một Đêm Phiền Muộn

       (Trần Hồng Văn) 

      Tiếng Vọng từ Đáy Vực

       (Trần Hồng Văn) 

      Con Cọp (Trần Hồng Văn) 

      Đại Sư Và Giai Nhân

       (Trần Hồng Văn) 

      Tây Ninh – Chút Còn Lại Trong Lòng Người Lính (Nguyễn Mạnh An Dân) 

      Cái Giếng (Trần Hồng Văn) 

      Vùng Đồi (Phạm Văn Nhàn) 

      Người Cha (Trần Hồng Văn) 

      Ngọn Đồi Trầm Lặng (Trần Hồng Văn) 

      Người Mẹ (Trần Hồng Văn) 

      Lưỡi Dao Cạo (Trần Hồng Văn) 

      Hoa Với Lá Chỉ Một Màu Trắng Đục

       (Trần Hồng Văn)    

       

      Truyện Đạo

        Cùng Mục (Link)

      Im Lặng Của Thiền Sư (Phan Trang Hy)

      Kể Lại Vài Giai Thoại Trong Tập Vào Thiền (Doãn Quốc Sỹ)

      Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp (Hồ Hữu Tường)

      Mẹ Quán Thế Âm (Phạm Huê)

      Những Hạt Đậu Biết Nhảy (Phạm Huê)

      Maria Quán Thế Âm (Phạm Huê)

      Sợi Tơ Nhện (Nguyễn Văn Thực)

       
      Ad-33 (Học Xá) Ad-33 - Google - QC4 (Học Xá)

       

      Phim VN trước 1975

       

      (Thẩm Thúy Hằng-Kiều Chinh-ThanhNga-BạchTuyết)

       

      - Chiếc Bóng Bên Đường   - Nàng (1970)

      - Người Cô Đơn (1972)    - Xa Lộ Không Đèn

      - Bão Tình (1972) - Sóng Tình (1972)

      - Chúng Tôi Muốn Sống (1956)

      - Trường Tôi (1973) - Nắng Chiều (1973)

      - Giỡn Mặt Tử Thần (1975)

      - Năm Vua Hề Về Làng (1974)

      - Tứ Quái Sài Gòn  - Những Giọt Sương Khuya

      - Như Hạt Mưa Sa 1 - Như Hạt Mưa Sa 2

      - Như Hạt Mưa Sa 3 - Như Hạt Mưa Sa 4

      - Vượt Sóng

      - Cuộc Di Cư Năm 1954

        Ad-31 Ad-31 = QC_250-250 (Học Xá)

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)