1. Head_
    Ad-25-TSu-2301360532 Ad-25-TSu-2301360532

     

     

    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Ngày xưa Hoàng Đạo (Cao Hoàng) Ad-25-TSu-2301360532 Ad-25-TSu-2301360532

      12-4-2026 | VĂN HỌC

      Ngày xưa Hoàng Đạo (Seattle, xanh mãi ngàn năm)

        CAO HOÀNG
      Share File.php Share File
          

       

      Tranh của bé Lam Giang, triển lãm tại Space Needle và in thành postcard

      Đó là lần đầu tiên tôi được học trong một lớp có trai có gái. Lớp chỉ có năm mươi trò, chia làm hai dẫy. Con trai ngồi bên phía cửa ra vào, con gái ngồi phía trong. Thời gian vừa tàn cuộc chiến tranh Việt Pháp nên nhân sự còn nhiều lộn xộn. Tôi phải học chung với những đứa nhỏ hơn một hai tuổi như Lê Đông Hải, Nguyễn Quang Thụy, Tôn Nữ Thu Hà... và những đứa lớn hơn bốn năm tuổi như Nguyễn Thiên, Huỳnh Văn Em, Đặng Thị Lợi, chị Sum, chị Thành... là những trò học lớp Nhứt nhưng có thể lấy vợ gả chồng được rồi! Ngày 8 tháng 3 năm sau, là ngày Quốc Tế Phụ Nữ cũng là ngày tưởng niệm Hai Bà Trưng, hai chị Sum và Thành rất đẹp gái được đóng vai Hai Bà, ngồi trên mình với cao ngất ngưởng, còn lũ chúng tôi đi bộ làm lính. Vào khoảng năm 1960 những cái cao thấp lộn xộn đó được chính quyền giải quyết bằng cách cho khai tên tuổi mới với giấy Thế Vì Khai Sinh; thế là những đứa có tên Phan Xiếu, Diêu Đức Cu, Nguyễn Quang Ôn... biến thành những đứa tên đẹp như tài tử, lại còn tha hồ rút tuổi xuống.


      Học chung với con gái tôi mới phát hiện rằng lũ này rất tình cảm và mít ướt. Mới học được hai tháng thầy Nguyễn Hữu Nghĩa của chúng tôi nhận lệnh động viên. Thầy còn rất trẻ, da trắng hồng, rất đẹp trai, buổi chia tay lũ trò gái rơi bao nhiêu là nước mắt. Nhưng xe phát thanh của Ty Thông Tin cả ngày chạy lòng vòng từ Tân Hương qua Phương Nghĩa, Từ Phương Quý đến Phương Hòa ra rả vang lên bài hát ni non:


      Vài hàng gửi anh trìu mến

      Vừa rồi làng có truyền tin

      Nói rằng nước non đang mong

      Đi quân dịch là thương nòi giống

      Lạy trời tròn năm trọn tháng

      Nợ làng ơn nước anh đền xong

      Mái nhà chốn quê thanh bình

      Chờ anh bước về vui bên em


      Năm sau thầy về trong đoàn quân diễn hành đều bước ngoài đường phố. Thầy không trắng trẻo đẹp trai như hồi dậy học, nhưng thầy đi ngoài bìa nên có những đứa trò gái nhận ra chạy theo níu áo khóc như mưa... Mà khóc là phải, từ đó chẳng bao giờ tôi gặp lại thầy. Cuộc chiến hung tàn ngu xuẩn ấy chắc đã nghiền nát những người thanh niên tươi trẻ trong đoàn quân năm ấy, dễ gì mà chừa ra người nào!


      Năm lớp Nhất tôi được học thêm với hai thầy nữa là thầy Phạm Văn Nhàn, dạy ngắn hạn và thầy hiệu trưởng Trần Xuân Hà dạy cho hết năm lớp Nhất. Giáo viên tiểu học hồi đó thường phụ trách tất cả các môn, kể cả những môn liên quan đến nghệ thuật như vẽ và thủ công, mặc dù hầu hết các thầy không được đào tạo chuyên môn ấy. Thuở bé thể học tôi chỉ mê vẽ và cứ hở ra một chút là đã có tôi hí hoáy vẽ rồi. Tôi vẽ Ngô Quyền với trận Bạch Đằng Giang, những cọc nhọn chĩa lên trời tua tủa đâm nát thuyền quân Nam Hán. Tôi vẽ Đinh Bộ Lĩnh cờ lau tập trận; ở một góc tranh không quên cái đuôi con trâu bị làm thịt để khao quân cắm xuống bùn. Tôi vẽ Hưng Đạo Đại Vương chỉ tay xuống dòng sông Hoá, vĩnh biệt con voi trận bị lún sình với lời thề không về nữa nếu không diệt được giặc Nguyên-Mông. Nói chung tôi chỉ vẽ những gì mà các sử gia Việt Nam nhồi nhét vào cái đầu non nớt này, còn có đúng hệt như thế không thì có trời mới biết. Cho nên đến giờ vẽ nếu thầy mượn đôi guốc của Lê Thị Hoà hay cái nón lá của Trần Thị Thiệt cho chúng tôi làm mẫu vẽ, thì đối với tôi đó là những giây phút thần tiên. Tôi vẽ tranh lịch sử trong trí nhớ hay vẽ theo kiểu của những đồ vật đặt trước mắt không có gì gọi là sáng tạo cả; có vẽ đến mòn giấy bút lũ chúng tôi cũng không bao giờ thành hoạ sĩ nhỏ được!


      Cơ hội đã đến, một hôm giờ vẽ thầy bảo: Hôm nay vẽ tự do, trò nào muốn vẽ gì cũng được. Vẽ đẹp và sớm có điểm tốt. Tôi nghe khoái quá, sau một hồi suy nghĩ lung lao, tôi lấy ngón trỏ thọc vô lọ mực tím và bôi kín tờ giấy vẽ một màu tím đậm. Với cây bút chì có một đầu gôm, tôi bắt đầu chà vào tờ giấy vẽ. Mực tím theo gôm bung ra những nét dài ngắn màu trắng nghiêng nghiêng lả lướt. Huỳnh Phú cao kều chồm xuống hỏi:


      - Mày vẽ cái giống gì vậy?

      - Tạo vẽ mưa đêm.

      - Đêm tối thui làm sao thấy được giọt nước!


      À há, may quá có nó nhắc nếu không là tiêu bức tranh rồi. Tôi lấy cái ngòi bút lá tre nó cho hồi mới tới lớp còn trong cặp ra cạo những đường zic zac liên tiếp, nhỏ mà sắc nét. Huỳnh Phú lại chồm xuống coi, lần này nó gật gù:


      - Đúng rồi phải có sấm chớp mới thấy mưa chứ! Hoàng Thế Nào khôn thiệc!


      Từ đó cái tên của tôi được đám Hoa Kiều bán thuốc Bắc mà bố hay dẫn tôi đến mua thuốc đều tấm tắc khen; ông thầy già nhất tay chắp sau lưng đi qua đi lại nhìn tôi: “Woòng Xây Hầu hẩu, hẩu lớ”... thế mà nay bị nhiều đứa trong lớp sửa đổi thành ra kỳ cục. Không sao! Túy, Ngân Hạnh, Thu Hà, Mỹ Lan vẫn nhỏ nhẹ gọi tôi là trò Hào cũng được mà. Rồi tôi nhanh chân lên nạp bức tranh để kiếm điểm tốt. Cả lớp vẫn còn lui cui, nhiều đứa vẫn loay hoay chưa biết vẽ cái gì! Tôi trịnh trọng giải thích với thầy đây là bức tranh mưa đêm. Thầy ngắm tranh kỹ lưỡng xong thầy ngắm tôi từ đầu xuống chân. Rồi thầy bảo: “Xoè tay ra”, lấy cây thước kẻ thầy khẻ vào cái bàn tay dính đầy mực tím hai cái đau điếng với tội ở dơ!


      Đau lắm vì cái thước kẻ ấy không bằng gỗ tạp mà bằng thứ gỗ gì đen thui nặng lắm. Đau mấy tôi cũng chịu được, nhưng tôi cứ nhớ mãi roi đòn vô lý ấy. Ông họa sĩ vẽ bảng quảng cáo cho rạp hát bóng có lúc quên cũng lấy cây cọ sơn quẹt lên mặt cho đã ngứa là thường mà, có sao đâu. Tôi lủi thủi về chỗ ngồi không dám khoe ai kiệt tác đầu đời nữa. Cũng may đứa bạn nào cũng đang nghiêng đầu, ngoẹo cổ, méo mồm vẽ, không để ý gì.


      *


      Ba mươi năm sau khi đã định cư ở thành phố Tây Bắc Mỹ, một hôm tôi nhận được thư của một nhà xuất bản nhỏ. Họ xin phép được dùng bức tranh của bé Lam Giang, cô con gái út 8 tuổi của tôi để in thành postcard lưu hành khắp nước. Tranh với đề tài Mom đang triển lãm tại tháp Space Needle. Họ mong tôi trả lời sớm để họ có thể phát hành trước Mother’s Day. Dĩ nhiên là tôi đồng ý. Không biết nhà xuất bản có thấu được cái ý tưởng của con bé 8 tuổi trong bức tranh, hay chỉ nhìn thấy mầu sắc tươi đẹp, hài hoà và một đống lộn xộn rất lạ mắt. Cô giáo dậy vẽ Joann Seeler và người trong nhà thì hiểu ngay bé đang ca tụng bà mẹ, cũng giống như thi sĩ Trần Tế Xương làm bài thơ xót thương người vợ hiền vô cùng cảm động:


      Quanh năm buôn bán ở mom sông

      Nuôi đủ năm con với một chồng

      Lặn lội thân cò khi quãng vắng

      Eo sèo mặt nước buổi đò đông...


      Có lẽ cũng vất vả như những bà mẹ khác thôi; Lam Giang vẽ nó, đứa con cưng mà mẹ phải lo toan nhiều nhất đứng giữa, chung quanh đó: con mèo Maxim luôn luôn đòi ăn uống và đi chơi. Buổi sáng khi em đi học bằng xe bus nhà trường đậu trước nhà, mẹ thường ngăn không cho chó Fido gậm cái backpack lôi kéo em ở lại chơi với nó. Nếu mẹ quên thì có bà lái xe bước xuống can thiệp, nhưng Fido giận, sủa ầm ỹ. Mẹ còn phải lau chùi cái xe hơi màu xanh, cho con blue jay từ trên cây thông bay xuống ít củ hạt khi nó dạn dĩ đến trước cửa kính gõ lạch cạch. Nghĩa là mẹ bận lắm, thế mà khi đêm về vẫn muốn ôm bé vào lòng kể chuyện cổ tích, đôi khi là chuyện vượt biển oai hùng với con thuyền nhỏ xíu của bố trong đại dương bao la... Còn thiếu gì nữa không trên vành nón của mẹ?... Có người hỏi: “Hai cái vòng tròn ở trên má, dưới mắt, có phải cặp kính không? Năm ấy mẹ bé còn trẻ lắm chưa phải đeo kinh. Xin giải thích: đó là bé còn ngây thơ tô hồng đôi má của mẹ nhưng giới hạn mầu hồng trong hai khoanh tròn đó thôi! Ôi sao con bé lucky thế chẳng bù cho bố nó”.


      *


      Những ngày tháng qua thật nhanh, chúng tôi đang học lớp Chín, đệ tứ niên, là đàn anh đàn chị trong trường Hoàng Đạo rồi. Vào dịp Tết năm ấy lớp Chín tôi đi cắm trại một ngày. Địa điểm cắm trại dĩ nhiên phải ở gần sông để có nước cho các nàng trong lớp trổ tài nấu ăn. Trên cánh đồng rộng thầy Phương tổ chức các trò chơi, thầy Chút lo văn nghệ, có Huỳnh Văn Em với cây đàn guitar, Vương Đình Thanh đánh mandoline xập xình ríu rít tiếng nhạc. Một dẫy lều dựng lên đơn sơ nhưng đúng kiểu cách dây nút hướng đạo dưới tàn cây thưa lá. Mới sớm mà lửa khói đã chập chờn nơi các mái lều thân thương quá. Các thầy bảo: “Chiều mới văn nghệ, giờ chơi tìm mật thư, có giải thưởng lớn”. Tôi không thích chơi tìm mật thư nên một mình trốn ra bên sông Dakbla. Mùa này sông thật đẹp. Nước êm êm trôi theo dòng cát trắng tinh, lâu lâu gặp chỗ nhiều sỏi đá sông reo lên vui vẻ, bên kia sông có nhiều chim rừng và cò trắng bay lượn, đúng là một ngày đẹp thanh bình. Có lúc tôi cởi quần áo xuống sông không bơi mà thả ngửa yên lặng nhìn trời mây non nước; đến gần trưa mới trở về trại.


      Khi đi ngang qua một cái lều, tôi nghe một giọng con gái gọi nhỏ: “Thế nào, Hoàng thế nào có muốn ăn chè không?". Tôi dừng lại ghé mắt nhìn vào trong thì thấy một trong tứ đại mỹ nhân của lớp, tay bưng chén chè đậu đen, mắt cười long lanh mời mọc. Tôi đỡ lấy chén chè từ từ đứng ăn, mà làm gì có ghế để ngồi. Hắn ta mặc áo dài đen, một mầu đen ngà voi kênh kiệu, da trắng hồng, tóc nâu sợi nhỏ thướt tha. Tôi thầm nghĩ: cắm trại mà mang áo dài theo, và cả guốc cao gót nữa, hắn muốn khoe hay nhát ma ai đây! Ăn xong tôi để bát với muỗng xuống đất và dợm bước đi, nhưng hắn ngăn lại: “Từ từ đợi chút, có nước trà cho uống nè". Tôi dành nán lại. Bỗng hắn ranh mãnh hỏi:


      - Còn đau không?

      - Cái gì đau?

      - Thì bàn tay đó!

      - Bàn tay nào cơ?

      - Thì bàn tay có ngón thọc vào lọ mực đó.


      Lúc này tôi mới hiểu ra giật mình thót người. Hình như trong lớp chỉ có mình hắn biết tôi bị đòn; mà sao nhà hắn nhớ dai đến thế để chọc ghẹo mình cho được! Bỗng hắn nói như ra lệnh: “Đưa tay đây coi”. Tôi chưa phản ứng ra làm sao thì hai tay hắn chụp lấy bàn tay tôi, mắt cứ nhìn đăm đăm. Thật tình mà nói mấy năm liền chưa bao giờ tôi dám nhìn thẳng vào hai con mắt đẹp ấy... và như một chú ngỗng đực dại khờ, tôi giựt tay ra, bước nhanh khỏi lều, lại còn mừng thầm vì các bạn tôi chơi mật thư đang lũ lượt kéo về. Nhưng cũng từ buổi ấy bàn tay trái hết đau. Tôi không còn giận thầy mình nữa.


      Cao Hoàng

      Nguồn: Seattle, Xanh Mãi Ngàn Năm - Tuyển tập nhiều tác giả
      Ghi dấu 50 năm người Việt định cư tại Hoa Kỳ 1975-2025

      Ad-22-A_Newest-Feb25-2022 Ad-22-A_Newest-Feb25-2022


      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Ngày xưa Hoàng Đạo Cao Hoàng Bút ký

      - Cancion Triste, giai điệu nửa đêm Cao Hoàng Bút ký

      - Đợi một chuyến phà Cao Hoàng Truyện ngắn

    3. Bài Viết về Văn Học (Học Xá)

       

      Bài viết về Văn Học

        Cùng Mục (Link)

      Ngày xưa Hoàng Đạo (Cao Hoàng)

      Đời Thủy Thủ 2:-Chương 15: Hải Phận Phước Tuy (Vũ Thất)

      Đời Thủy Thủ 2: Chương 14: Hải Phận Bình Tuy (Vũ Thất)

      Văn Chương Cộng Đồng - Nơi Trú Ngụ của Ký Ức: Liên Đới và Khát Vọng (Uyên Nguyên)

      Dòng sông chết (Quang Già Cơ)


       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

       

      Văn Học Miền Nam (Học Xá) Văn Học (Học Xá)

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Danh Mục Tác Giả: Cùng Chỉ Số (Link-2) Aí Điểu,  An Khê,  Andrew Lâm,  Andrew X. Phạm,  Au Thị Phục An,  Bà Bút Trà,  Bà Tùng Long,  Bắc Phong,  Bàng Bá Lân,  Bảo Vân,  Bích Huyền,  Bích Khê,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Bích Hà,  

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)