1. Head_
    Nguyễn Ánh 9
    (.0.1940-14.4.2016)
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Đọc "Chuyện Xứ Dran Xưa" của nhà văn Lâm Trung Châu (Hai Trầu)

      14-3-2021 | VĂN HỌC

      Đọc "Chuyện Xứ Dran Xưa" của nhà văn Lâm Trung Châu

       HAI TRẦU
      Share File.php Share File
          

       


         Bìa quyển “Chuyện Xứ Dran Xưa” (*) của tác giả Lâm Trung Châu, nhà xuất bản Phương Nam Book, tháng 5.2020. (Do giáo sư Lâm Tuyết thay mặt tác giả thân tặng ngày 08.8.2020)

      Tỉnh Tuyên Đức (Đà Lạt) cũ, hồi trước 1975, gồm có ba quận là các quận Đức Trọng, Lạc Dương và Đơn Dương. Bạn có lần nào đi ngang qua đèo Sông Pha với đập thủy điện Đa Nhim thuộc tỉnh Tuyên Đức, Đà Lạ những ngày xa xưa ấy lần nào chưa? Bạn có ghé lộ quận lỵ Đơn Dương với ngôi chợ nhỏ nằm dọc theo triền dốc với rừng thông vươn mình lên trời cao và nhìn xa xa dưới kia là cả một vùng thung lũng trầm mặc không?

       

      Tôi lên Đà Lạt những năm tháng xa xưa ấy cách nay hơn năm mươi năm mà sao vẫn nghe như cứ mỗi bận nhớ về Đà Lạt là tôi nhớ tới quận lỵ nghèo Lạc Dương nằm về phía phi trường Cam Ly chạy dài theo chân núi hơn là nhớ những vườn bông hồng đầy hoa thơm và gai nhọn; tôi nhớ về Đơn Dương với con dốc khúc khủy về hướng Đà Lạt nhìn xuống thung lũng xa xa dưới kia bóng dáng người tiều phu bé nhỏ trầm mặc giữa rừng già; tôi nhớ Đức Trọng với thác nước Liên Khương hơi cạn và dòng thác như con suối mùa hè, khác xa với những dòng thác khác cũng của Đức Trọng như thác Gougah, thác Pongour cứ như giận dỗi ai nước cứ đổ ầm ầm bất tận... Nhưng thú thật với bạn, đó chỉ là những gì tôi thấy được và nhớ cái dáng vẻ bề ngoài của rừng thông, của thác nước, của núi đồi và thực sự là tôi chưa biết chút gì về xứ Dran xưa của Đà Lạt.


      Theo nhà văn Lâm Trung Châu, tác giả cuốn “Chuyện Xứ Dran Xưa” thì Đơn Dương ngày xưa gọi là Dran, và ông kể: “Làng tôi có cái tên xấu xí, dị hợm: Càn Rang, đúng hơn là Cần Răng. Người phương xa nghe vậy thường trêu, cần gì hổng cần lại cần răng, răng ai mà chẳng có, khéo vẽ. Thực ra, nó còn có cái tên khá quý phái, tên Tây đàng hoàng: Dran. Với cái tên này, nó nghiễm nhiên có mặt trên tất cả các tấm bản đồ chính thống.” (trang 8)


      Rồi tác giả giới thiệu tiếp về làng Dran của mình:

      “Làng tôi, ý tôi muốn nói là làng tôi của cái thuở trên dưới sáu mươi năm về trước (*), cái thuở mà làng vẫn còn là làng. Cái thuở mà làng vẫn chưa nhuốm bụi trần ai.


      Từ Sàigòn ra, từ Đàlạt xuống hoặc từ Phanrang lên đến ngã ba đầu làng người ta dễ bắt gặp hình ảnh đầu tiên là cây đa, giếng nước.


      Ngoài một số cơ ngơi của người Pháp được xây dựng kiên cố, vài ba chục ngôi nhà lợp tôle (tôn), còn lại chỉ là nhà tranh vách đất đơn sơ. Cả làng dùng chung một cái giếng. Giếng nằm ngay ở đầu ngã ba (giờ hay gọi là ngã ba Trung Dung). Không phải giếng tròn như ta thường thấy mà là giếng vuông, thành giếng cao ngang bụng, trên có mái ngói chữ A. Nước giếng trong leo lẻo. (trang 8-9)

      [(*) Tức khoảng trước năm 1950]

      Nhắc tới quận Đơn Dương là nhớ tới đèo Sông Pha, nhớ tới sông Đa Nhim và với phong thái nhàn nhã qua giọng văn không lấy gì làm gấp rút giống như một cụ già râu tóc bạc phơ ngồi kể chuyện đời xưa cho người đọc nghe về dòng sông Đa Nhim của mình thuở ấy, tất giả kể:

      “Dòng sông Đa Nhim lượn lờ uốn quanh làng. Ban ngày, ngoài giờ học chúng tôi đóng đô ở bãi sông, suối ngày bì bõm. Nước sông trong vắt. Đôi lúc lại thích nhau, làm dấu một viên đá rồi ném ra giữa sông, đứa nào lấy được về trước thì được cõng một vòng. Vậy mà tụi nó tìm ra như chơi. Nói như thế để bạn biết rằng, nước sông trong đến ngần nào. Chẳng thế mà các hộ ven sông đều lấy đó làm nguồn nước sinh hoạt." (trang 10)

      Nhắc tới Dran xưa của mình, tác giả đã lưu ý:

      “Nếu bạn nghĩ Dran chỉ là một nhúm ba khu phố lèo tèo thêm chín thôn lân cận thì đó là một nhầm lẫn lớn. Dran xưa thuộc vùng đất Hoàng Triều Cương Thổ (Domaine de la Couronne). Người ở nơi khác đến phải có người địa phương bảo lãnh. Còn người ở Dran muốn đi xa phải xin giấy “Laissez Passer” (giấy thông hành). Dran xưa rộng lắm. (trang 12)

      Rồi như chợt nhận ra có cái gì đó không được công bằng khi mà Dran là một con đèo nhưng không được gọi là đèo, tác giả nhẹ nhàng đặt câu hỏi mà nghe lòng thắm thía nỗi ngậm ngùi:


      “Không biết tại sao, rõ ràng là một con đèo- đèo Dran, thế mà xưa kia nó không được gọi là đèo. Người ta chỉ gọi nó là dốc- dốc Hòn Bồ.”


      Và rồi ông lại ân cần kể tiếp:


      “Dốc Hòn Bồ chạy theo hướng nhà thờ, lượn quanh ôm gần trọn một vòng Đối Cam. Lại phải dừng ở đây một tí để tìm hiểu vì sao gọi là Đồi Cam. Rất đơn giản, vì nguyên quả đồi chỉ trồng toàn cam.” (trang 13)


      Thế rồi tác giả nắm tay người đọc đi qua nhiều vùng đất Đơn Dương mà gọi tên từng nơi, từng chốn thật rành mạch:

      “Rời Đồi Cam ta đến Cua Đôi (còn gọi cua Cánh Chó), qua Cầu Xéo rồi vượt Cầu Treo là đến Ac-broa-đê (Arbre Broyé) tức Trạm Hành, cái tên nghe kỳ cục. (...) Trạm Hành nằm ở độ cao xấp xỉ 1.600 m, cao hơn Dalat. Chính độ cao này cũng là cái rét cắt da quanh năm đã cho các cô gái nơi đây sở hữu một làn da mịn màng hồng thắm như thứ rượu hồng đào chưa uống đã say...


      Rời Trạm Hành ta đến Ân-Tray (Entre-Rays) là tên gọi xưa của Cầu Đất. Nói đến Cầu Đất là phải nói đến Sở Trà.

      (...)


      Ra khỏi Cầu Đất, qua cầu Xui Giục chạy thêm một quãng nữa là đến Bốt-kê (Bosquet) còn gọi Trạm Bò. Phía tây tạm dừng lại đây vì đi thêm nữa là đến Trại Mát thuộc thành phố Dalat rồi. (trang 14)

      Về hướng Tây của Dran thì vậy, giờ tác giả dẫn người đọc theo ông đi về hướng Đông của Dran:

      “Từ ngã ba đi dọc theo đường Lê Lợi, các bạn nhìn thấy những dãy phố cũ nát hai bên, từ Lê Ký đến Tân Mỹ, từ Tư Lén đến café Tín, nói chung những ngôi nhà xây ấy đều có chung một sở hữu chủ người Pháp là ông A-vi-a (Aviat), kể cả khu xưởng cưa, kho lương thực, nhà thương cũ. Aviat chiếm lĩnh gần hết vùng trung tâm. Riêng chỗ Trung Dung xưa là Res-tô-răn - Ba Đăng-xinh (Restaurant-Bar dancing) phục vụ cho người Pháp. Chủ nhân của nó là một viên sĩ quan tên là Lores. Cả vùng đất đó từ đầu đường Hai Bà Trưng cho đến sau rạp hát là trại gia cầm của ông ta.


      Đi đến cuối đường Lê Lợi, bên trái là chợ Lạc Nghiệp. Chợ Lạc Nghiệp không phải là chợ Dran, Chợ Dran xưa rất nhỏ, nằm đối diện với rạp chiếu bóng tức khu đất trước nhà ông Bảy Nóc mà giờ người ta thường gọi là chợ cũ.” (trang 14-15)

      Rời hướng Đông, tác giả dắt bạn xuống hướng Nam:

      “Lên hướng Nhà Thờ đường hẹp và hơi thiếu vệ sinh. Xuống hướng cầu thì nhà cửa san sát nên từ café Lê Ký đến cầu Lạc Thiện có thể coi là đoạn đường đẹp nhất. Hai bên đường toàn dã quỳ. Đêm đến, quãng đường này là nơi hẹn hò của đôi bạn, họ sóng vai nhau tỉ tê trò chuyện, đi đến cầu Lạc Thiện thì quay lại. Chỉ thế thôi mà có lúc nó được gọi bằng cái tên thơ mộng “Con đường tình ta đi”.


      Bạn có để ý không, phía bên trái khi đến gần cua Lạc Thiện có xóm nhà ga, đó là ga Càn Rang. Không, gọi cho đúng là ga Cần Răng. Có lẽ hai chữ Cần Răng đọc nghe thô thô, cưng cứng thế nào ấy nên người ta đọc trại thành Càn Rang. (trang 18)


      (...)

      Tới cây số 2 tức Cua Đá. Đoạn đường này nhiều cây cối to cao rậm rạp, tán cây che phủ hai bên. Đây là nơi đêm đêm lũ cọp thường ra rình rập. Rủ nhau đi bắn chim mà vào đến đây được xem là “ghê gớm” lắm.


      Qua Lạc Xuân mình đến La-bui (Labuye). Đây là vùng của người dân tộc nhưng có một hộ người Kinh là ông Xu Nghĩa. Nhắc đến ông Xu Nghĩa không phải vì ông là dưỡng phụ của bà Dương Thị Kiêm (cô giáo Kiêm) mà vì ông đã trồng dâu và chế biến thành loại rượu dâu được nhiều người ưa thích...


      (...)

      Vùng Lạc Viên, Lạc Lâm, Lạc Sơn chỉ xuất hiện sau cuộc di cư 1954. Trước đó vùng này chỉ lau lách, rừng rậm. Thạnh Mỹ ngày nay công sở tòa ngang dãy dọc, đường xá thênh thang, đèn đêm rực sáng, nhưng bạn có biết M'Lon mới là tên cúng cơm của Thạnh Mỹ? Người ta thường gọi là Lọn cho nó gọn. M'Lon là vùng của người dân tộc thiểu số, lưa thưa vài mươi hộ người Kinh...


      Qua Fimmon rồi đến Liên Khương, còn gọi là Liên Khàng, nếu rẽ phải chạy một mạch thì đến Cội Gia hay La Ba. Xứ La Ba cho ta một giống chuối rất ngon mà mãi tới bây giờ nó vẫn giữ được thương hiệu: chuối La Ba..."


      Còn nếu chạy thẳng ta sẽ đến Gougah (Phú Hội) vì vùng Tùng nghĩa chỉ xuất hiện sau năm 1954, nơi phần đông người tộc Thái sinh sống. Thác Gougah là một danh thắng nằm trong tour du lịch của Đà Lạt. Rời Phú Hội chạy thêm non chục cây số là Đại Ninh, nơi vừa xây xong một đập thủy điện khá đẹp...

      (...)

      Đến đầu cầu Đại Ninh, phương nam dừng tại đây.

      Các bạn thấy Dran xưa rộng lớn đấy chứ!” (trang 19)

      Thưa bạn,

      Đó là về ranh giới và địa thế cùng vài tên gọi của một vùng đất xưa của xứ Dran; còn đây là cư dân, văn hóa và giáo dục của vùng đất "Hoàng Triều Cương Thổ" ấy với những ngôi trường tiểu học đầu tiên và tiêu biểu theo thứ tự thời gian:

      - Ecole de Dran

      - Ecole Primaire de Dran

      - Ecole Primaire Complémentaire de Dran

      - Trường Tiểu Học Cụ Thể Dran

      - Trường Tiểu Học Đơn Dương

      - Trường Tiểu Học Cộng Đồng Đơn Dương


      Còn học trò Dran xưa học hành và thi cử ra sao? Và tác giả ân cần giải đáp:

      Chuyện học hành khi xưa thật vô cùng thoải mái. Ngày hai buổi cắp sách đến trường. Thời khó biểu sáng 08 giờ-10 giờ 30; chiều 14 giờ- 16 giờ 30. Học thì ít mà chơi thì nhiều vì thời gian rộng rãi quá."

      (...)

      Các Môn Học

      Arithmétique - Số học

      - Geometrie - Hình học

      - Problème - Tính đố

      - Dictée - Chính tả

      - Dictée VN - Chính tả tiếng Việt

      - Rédaction- Làm văn

      - Rédaction VN- Làm văn tiếng Việt

      - Vocabulaire – Từ vựng

      - Grammaire – Ngữ pháp

      - Lecture – Tập đọc

      - Lecture VN – Tập đọc tiếng Việt

      - Lecture récréative - Tập đọc giải trí (cuối tuần)

      - Histoire-Géographie – Sử-Địa

      - Elément de science – Khoa học

      - Morale – Luân lý

      - Hygiène - Vệ sinh

      - Instruction Civique – Công dân

      - Agriculture - Trồng trọt

      - Ecriture – Tập viết

      - Aractères Chinois – Chữ Hán

      - Travail manuel – Thủ công

      - Dessin à vue — Vẽ nhìn đồ vật

      - Dessin à ligne – Vẽ theo dòng

      - Dessin fin de la semaine – Vẽ cuối tuần

      - Education physique – Thể dục.” (trang 24-25)

      Tác giả kể tiếp kỳ thi Primaire đầu tiên tại Đà Lạt:

      “Năm học 1950-1951 nhà trường chọn một số học sinh khá trong Cours Moyen 2 lập nên Cours Supérieur (lớp Nhứt) để tham dự kỳ thi Primaire sẽ được tổ chức vào tháng Bảy.


      Bọn chúng tôi, sáu nam một nữ được thầy Sòng chăm chút nhiều hơn. Khoa thi này diễn ra từ ngày 2.7.51 (Session 02 Juillet 1951).

      (...)


      Mỗi phòng thi có một giám thị chính người Pháp và một giám thị phụ người Việt. Phòng tôi gặp một cô giáo người Pháp. Rất may, cô đọc, nói thong thả, rõ ràng, không nuốt chữ nên chúng tôi rất tự tin. Kỳ thi ê-cri (thi écrit – thi viết) kéo dài đúng ba ngày rồi tạm dừng chờ kết quả. Sau khi có kết quả thi écrit chúng tôi lại phải trở lên Đà Lạt lần nữa để thi ô-ran (thi orale - thi vấn đáp).


      Trước đó, các thầy có xem đề thi thấy khó quá nên chi mong sao đậu được ba bốn đứa là tốt rồi. Thế mà, một điều kỳ diệu đã xảy ra: Học sinh của Ecole de Dran thi đậu 100% (7/7)! Cả trường mừng vui không kể xiết, nhất là thầy tôi, người đã bỏ công chăm sóc chúng tôi suốt mùa thi.” (trang 28-29)

      Đó, bạn thấy chưa? Qua chỉ mấy mươi trang sách với hơi văn ân cần, thân mật, gọn mà rõ ràng, rành mạch tác giả đã đưa người đọc đi thăm vùng Dran xưa của tác giả như mình có cảm tưởng đã đến tận xứ Đơn Dương ngày xa xưa rất tường tận vậy. Phần còn lại của quyển sách gần 115 trang là những trang sách mà tôi nghĩ bạn khó có thể đành lòng bỏ qua được bởi đó là hồn phách của các nhân vật một thời của xứ Dran mà cũng là hồn phách của xứ Đơn Dương ngày cũ...


      Chẳng hạn như các chương “Tôi kể bạn nghe chuyện ngôi trường”, “Dran xưa không có điện”, “Dran xưa đi lại như thế nào?”, “Những hiệu ảnh ở Dran", “Bình Minh Thư Quán”, “Cải lương về làng", “Những tiếng còi tàu”, “Dran xưa, có những cậu học trò như thế”, vân... vân...; rồi nào là “Người xứ Dran xưa” nhắc về các nhân vật tiêu biểu của cả một vùng đất cao nguyên với rừng thông mịt mù; rồi các trang sách “Hương quê còn đó”, “Bên dòng Mai Nương” chứa chan tình cảm của người kể chuyện và sau cùng là phần phụ lục “Viết cho Đơn Dương” của Lâm Vũ Thao và Rémy Ngọc Duy với 5 bài viết bổ túc thêm cho một Đơn Dương trù mật giữa rừng thông già.. Tôi nghĩ là rất hấp dẫn.


      Xưa nay, nếu bạn muốn biết việc xảy ra hồi đời trước thì bạn nên đọc sử ký của những thời kỳ ấy; nếu bạn muốn biết ranh giới hình thể dân tình một quốc gia sống thế nào thì bạn tìm đọc sách địa lý của nước ấy và nếu bạn muốn biết lai lịch, phong tục, văn hóa của một vùng đất nhỏ, một địa danh nào đó, thì bạn nên đọc sách viết về địa dư chí của vùng đất ấy...

       

      Chẳng hạn như bạn muốn biết về xứ sở Bình Định, Qui Nhơn, hoặc vùng đất Nha Trang, Khánh Hòa ngày xưa thì bạn nên tìm đọc các tác phẩm “Nước Non Bình Định”, “Xứ Trầm Hương” của Quách Tấn; nếu bạn muốn biết về vùng Bảy Núi, Thất Sơn của Châu Đốc thì bạn nên tìm đọc “Thất Sơn Mầu Nhiệm”, “Nửa Tháng Trong Vùng Thất Sơn” của Nguyễn Văn Hầu; nếu bạn muốn biết về Tân Châu (Châu Đốc) xưa, bạn nên đọc “Tân Châu Xưa” của Nguyễn Văn Kiềm, nếu bạn muốn biết về Bạc Liêu xưa, về Sóc Trăng xưa, về Gò Công xưa..., bạn nên tìm đọc các sách của Huỳnh Minh; hoặc như bạn muốn biết về Sài Gòn xưa, Hậu Giang xưa là bạn nên tìm đọc sách của Vương Hồng Sển..., và ở đây, nếu bạn muốn biết về lai lịch làng Dran xưa, về dòng sông Đa Nhim, về con đường tình ta đi và nhiều cái khác nữa của Đơn Dương, có lẽ bạn nên tìm đọc “Chuyện Xứ Dran Xưa” của tác giả Lâm Trung Châu là có hết những gì bạn cần biết về một Đơn Dương của những ngày xa xưa ấy qua lời văn rất gọn mà rành mạch, với hơi văn tha thiết, ân cần, lôi cuốn và hấp dẫn!


      Hai Trầu (LTT)

      Houston, ngày 25.01.2021

      Đọc lại và bổ túc ngày 28.02.2021

      Hai Trầu

      Nguồn: Thư Quán Bản Thảo Số 92 tháng 3-2021
      Tuyển Tập Thơ Văn

      Phụ chú:

      (*) Các trích dẫn trong cuốn “Chuyện Xứ Dran Xưa" của nhà văn Lâm Trung Châu, nhà xuất bản Phương Nam Book, tháng 5.2020, được sự chấp thuận của tác giả Lâm Trung Châu qua điện thư ngày 21.01.2021.





      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Đọc "Chuyện Xứ Dran Xưa" của nhà văn Lâm Trung Châu Hai Trầu Điểm sách

    3. Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Phạm Văn Nhàn: Những Hiển Lộ Từ Miền Ký Ức

      (Nguyễn Lệ Uyên)

      - Nguyễn Thụy Đan, một khuôn mặt độc đáo của văn chương hải ngoại (Trần Doãn Nho)

      - “Biếc”, chữ đẹp nhất trong tiếng Việt (Lê Hữu)

      - Lại Mưu Sinh Thoát Hiểm (Trần Hoài Thư)

      - Đọc Thơ Nguyễn Thị Khánh Minh (Phan Tấn Hải)

        Giai Thoại Văn Học

       

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Tạp Văn (Nguyễn Kim Phượng)

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại (Viên Linh)

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975: Nhận Định, Biên Khảo, Thư Tịch (Nguyễn Vy Khanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      An Khê,  Au Thị Phục An,  Bàng Bá Lân,  Bích Khê,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Bích Hà,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Vĩnh Phúc,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Mỵ Nhân,  Cao Thoại Châu,  Cao Tiêu,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)