1. Head_

    Nguyễn Văn Vĩnh

    (15.6.1882 - 2.5.1936)
    Ad-25-TSu-2301360532 Ad-25-TSu-2301360532

     

     

    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Mai Thảo và Hành Trình Đi Tìm Thời Gian Đã Mất (Liễu Trương) Ad-21 Ad-21 (Google - QC3) (Học Xá)

      1-5-2026 | VĂN HỌC

      Mai Thảo và Hành Trình Đi Tìm Thời Gian Đã Mất

        LIỄU TRƯƠNG
      Share File.php Share File
          

       


         Nhà văn Mai Thảo
        (HS Đinh Cường vẽ)

      Mai Thảo, như chúng ta đều biết, là một trong những nhà văn trụ cột của văn học miền Nam. Di cư vào Nam năm 1954, cùng với nhóm Sáng Tạo Mai Thảo chủ trương đoạn tuyệt với quá khứ, lên đường xây dựng một nền văn học mới. Hoài bão lớn lao nhưng chưa rõ ràng, hãy còn « viễn mơ ». Tuy nhiên Mai Thảo bắt đầu thực hiện ý chí đổi mới cho riêng mình, qua các tác phẩm.


      Trong 20 năm tồn tại của miền Nam, sức sáng tạo của Mai Thảo thật sung mãn qua nhiều thời kỳ. Khởi đầu là thời kỳ hồi tưởng quê xưa, đến thời kỳ hiện sinh, thời thượng trong một thành phố Sài Gòn tự do, thanh bình, rồi đến thời kỳ suy tư về thân phận con người trong không khí chiến tranh. Ở thời nào Mai Thảo cũng có một lập trường duy nhất : đi tìm cái đẹp, cái đẹp của ngôn ngữ, của văn chương, và tự tạo cho mình một mỹ học. Mai Thảo là một nhà văn duy mỹ.


      Số lượng tác phẩm của Mai Thảo khá lớn. Trong tạp chí Văn xuất bản ở Hoa Kỳ, số đặc biệt Tưởng niệm Mai Thảo, tháng 2 năm 1998, có Bảng Thư Mục Tác Phẩm Của Mai Thảo do Phạm Trọng Lệ sưu tầm. Theo Bảng Thư Mục này, Mai Thảo có 54 tác phẩm. Nhưng bản liệt kê không theo thứ tự xuất bản các tác phẩm mà theo thứ tự khám phá các tác phẩm trong các thư viện ở Hoa Kỳ. Ví dụ tác phẩm đầu tay của Mai Thảo là Đêm Giã Từ Hà Nội lại đứng thứ 41 trong 54 tác phẩm. Ngoài ra, 54 tác phẩm đó gồm những tác phẩm sáng tác trước và sau 1975. Còn thiếu nhiều tác phẩm có trước 1975 chưa được sưu tầm, vẫn còn tản mát đây đó. Dù sao nhà nghiên cứu Phạm Trọng Lệ cũng có công sưu tầm rất đáng quý.


      Năm 1974, năm cuối cùng của miền Nam, Mai Thảo cho xuất bản năm truyện dài :

      Ánh Lửa Cuối Đường Hầm, Nxb Anh Lộc,

      Những Người Tình Tuổi Song Ngư, Nxb Hướng Dương,

      Ôm Đàn Tới Giữa Đời, Nxb Gìn Vàng Giữ Ngọc,

      Ngón Tay Đeo Nhẫn, Nxb Anh Lộc,

      Khi Chiều Giăng Lưới, Nxb Tiếng Phương Đông.

      Riêng truyện Khi Chiều Giăng Lưới được phát hành ngày 30 tháng 11 năm 1974, tức chỉ vài tháng trước khi miền Nam sụp đổ, hẳn cuốn truyện đã ra đời một cách lặng lẽ, không kịp đến với phần đông độc giả.


      Giờ đây ngược dòng thời gian, đọc lại Khi Chiều Giăng Lưới, chúng ta thấy lại hình ảnh của thành phố Sài Gòn trước 75, và khám phá một chủ đề mang tính triết lý : chủ đề đi tìm thời gian đã mất.


      Khi Chiều Giăng Lưới là một cuốn tiểu thuyết dài 261 trang, gồm 6 chương và một đoạn kết.


      I Đi tìm quá khứ


      Khi Chiều Giăng Lưới kể chuyện một người phụ nữ tên Mỹ Hạnh có hai đời chồng Mỹ, sáu đứa con, và sống ở Mỹ. Một hôm Mỹ Hạnh vội vàng trở về Việt Nam vì được tin người bố bị bệnh nặng. Trong chuyến hồi hương này, tình cờ Mỹ Hạnh gặp lại Niệm, một người bạn cũ. Cả hai cùng lập một chương trình đi thăm nhóm bạn thuở xưa đã từng một thời thức sáng đêm, vui chơi nhộn nhịp. Phần Niệm, tuy vẫn sống ở Sài Gòn, nhưng không có dịp gặp lại bạn bè, mỗi người có một cuộc sống riêng tư. Vậy Mỹ Hạnh và Niệm cùng vui vẻ đi thăm các bạn xưa.


      Mỹ Hạnh vẫn khỏe mạnh, tươi trẻ, sung sướng được tìm lại một thành phố mang đầy kỷ niệm thời xưa của mình :

      Với Mỹ Hạnh, Saigon (1) còn nguyên vẻ quyến rũ và đầy đặc những hấp dẫn mà nàng không tìm thấy ở bất cứ một thành phố nào khác trên thế giới. Nàng đã tới Paris, một tháng. Đã ghé Rome, hai tuần. Mấy năm ở Hoa Kỳ là một cơ hội kéo dài để nàng thăm viếng gần hết mọi tiểu bang. Las Vegas, kinh đô thế giới của cờ bạc và cuộc sống về đêm. New York, như một kỳ quan của văn minh, với cái rừng người quốc tế giữa những toà nhà chọc trời cao vút. Mỗi thành phố một khuôn mặt. Nhưng cái khuôn mặt đằm thắm và tình thân nhất vẫn là cái khuôn mặt Saigon chan hòa nắng gội. Một tháng trở về thăm Saigon kéo dài trong một hạnh phúc tràn đầy. (tr. 147)

      Hiện tại vì chiến tranh cho nên ban đêm ở Sài Gòn có giờ giới nghiêm. Nhưng trong ký ức của Mỹ Hạnh :

      Những đêm ở Saigon không thể quên. Đêm. Những đêm Saigon mà trí nhớ còn thơm hương, kỷ niệm còn nguyên vẹn. Mỹ Hạnh đã sống những đêm thế giới diễm ảo. Nhưng trong tâm hồn và rung động chung thủy của nàng, những đêm Saigon vẫn là những đêm đẹp nhất. (tr. 150)

      Trong khung cảnh Sài Gòn - Chợ Lớn, Mỹ Hạnh và Niệm đến thăm từng người bạn cũ và khám phá những thay đổi bất ngờ của mỗi người.


      Người đầu tiên họ muốn đến thăm là Thu Hương. Thu Hương khi xưa là một loài hoa đêm say mê âm nhạc, đã từng yêu Niệm cháy bỏng, đã từng ngự trị trong tim nhiều chàng trai trẻ. Khi Niệm và Mỹ Hạnh tìm đến nhà Thu Hương trong một ngõ hẻm, thì Thu Hương lánh mặt, không muốn gặp lại các bạn xưa. Về sau, Niệm và Mỹ Hạnh được biết Thu Hương nay là một người đàn bà ốm đau, tiều tụy, mê cờ bạc, nợ nần chồng chất, sống trong một ngõ hẻm tồi tàn và bị một người chồng vũ phu hành hạ.


      Đến lượt Trình, thì từ một người đàn ông có một cuộc sống đầm ấm với vợ con, bỗng nhiên vì sự giàu có đột ngột, Trình trở thành một người phản bội vợ con, để sống ngụp lặn trong tiền bạc, rượu chè, ăn chơi đàn điếm ; người phụ nữ cuối cùng mà Trình chiếm đoạt được là Nicole, một cô gái lai xinh đẹp đã có một đời chồng. Trình ly dị vợ, nhưng không cảm thấy sung sướng, hạnh phúc, tâm hồn đầy u uất, bị mặc cảm tội lỗi dằn vặt, trong khi người vợ tên Lan ăn ở đàng hoàng, làm tròn bổn phận với hai đứa con. Thỉnh thoảng Trình tìm đến Lan, nhưng Lan thản nhiên, đối xử nghiêm trang với Trình, có lần Lan hỏi Trình : « Anh có khinh anh không ? » Lan là lương tâm của Trình, là tấm gương làm rơi mặt nạ của Trình, để lộ bộ mặt thật của Trình. Trình nghĩ : Tôi đã đi lên được rồi. Từ thành phố thấp đi lên thành phố cao. Từ tối tăm đi tới một chỗ đứng dưới mặt trời. Nhưng mặt trời nào đây ? Câu hỏi của Lan không bao giờ xóa bỏ được khỏi đầu óc : « Anh Trình, anh có khinh anh không ? » Địa ngục ở trên cao. Tôi đi lên, đi thẳng tới địa ngục. (tr. 86)


      Người thứ ba là Hoàn, một kẻ anh cả hào hoa trong làng chơi khi xưa. Từ ngày vợ mất, Hoàn cắt đứt mọi liên lạc với xã hội, không tiếp một ai, chỉ còn biết ngày ngày vào nghĩa trang đối thoại với người vợ quá cố. Sài Gòn đối với Hoàn là một sa mạc. Khi Mỹ Hạnh và Niệm đến thăm Hoàn, Niệm kinh ngạc thấy Chi, con gái của Hoàn, lớn nhanh, nay đã là một thiếu nữ xinh đẹp, ăn nói hồn nhiên. Niệm kinh ngạc hơn nữa là Chi nhớ đến chú Niệm như một người thân và tỏ với Niệm một cảm tình đặc biệt. Mỹ Hạnh tinh ý biết Chi yêu Niệm dù có sự chênh lệch tuổi tác.


      Rồi đến cặp Ngạc và Nhàn đã rời xa thành phố, cái thành phố đã làm hoen ố cuộc đời của họ, cả hai đã rơi xuống vực sâu của tuyệt vọng. Ở Sài Gòn, Ngạc kéo lê một cuộc sống vô vị, ăn chơi, rượu chè để đêm đêm trở về khách sạn với nỗi cô đơn. Ngạc gặp Nhàn, một cô gái sống về đêm, chờ khách dưới một gốc cây. Cả hai đều muốn tìm một lối thoát, để bắt đầu một cuộc đời mới. Ngạc bèn mua lại của một người bạn một khoản đất trống ở ngoại ô Chợ Lớn, nơi đây đã có dáng dấp một nông thôn chưa được khai khẩn. Ngạc cố gắng ra tay hì hục cuốc đất mỗi ngày, công việc thật vất vả đối với một người quen sống ở thành thị. Nhưng rồi dần dần Ngạc cũng cất được một nông trại với một mái nhà, dự định trồng trĩa và xây một hồ cá. Nay Ngạc và Nhàn đã thành đôi vợ chồng. Khi lập gia đình với Nhàn, Ngạc đã tỏ ra can đảm trước dư luận, và Nhàn đã đền đáp lại xứng đáng. Nay Nhàn mang thai, con đường trước mắt họ hứa hẹn nhiều hạnh phúc. Một khám phá lớn cho đôi bạn Niệm và Mỹ Hạnh khi đến thăm họ.


      Khi có dịp vào ăn ở Chợ Lớn, Mỹ Hạnh và Niệm đến tiệm ăn của ông Duỷn, một ông Tàu có cái bụng thật to mà họ quen biết thời trước. Lại thêm một người xưa mà Mỹ Hạnh và Niệm thăm viếng. Thấy họ đến, ông Duỷn ân cần đón tiếp, lo món chim quay thật ngon để đãi khách. Khi Mỹ Hạnh và Niệm ra về, ông Duỷn đưa họ ra tận xe với cái vẻ quyến luyến.


      Chuyến trở về quê hương là một niềm vui quá đầy tràn cho Mỹ Hạnh, đồng thời Mỹ Hạnh cũng có những suy nghĩ về những biến đổi của đời mình. Khi thăm viếng nông trại của Ngạc và Nhàn, nhìn cảnh thôn quê, Mỹ Hạnh nhớ đến tuổi thơ của mình ở xứ Huế :

      Ở Huế. Bên cạnh giòng sông Hương. Dưới bóng núi Ngự Bình. Thời thơ ấu của nàng phẳng lặng như mặt nước sông Hương những buổi chiều mùa thu. Một lũy tre làng vây bọc lấy tuổi thơ của nàng như một vây bọc không bao giờ ra thoát. Mỹ Hạnh cũng tưởng thế. Tưởng rằng nàng sẽ sống với Huế, mãi mãi. Lấy chồng ở Huế. Làm mẹ ở Huế. Khi chết đi cũng nằm trong một thước đất của Huế. Vậy mà nàng đã lấy chồng Mỹ, đi khắp thế giới… (tr. 233-234)

      Cuộc đời của con người quả có lắm bất ngờ. Trở về với hiện tại, Mỹ Hạnh ý thức mình không còn ở lâu nơi quê nhà, phải lo chuyện lên đường về Mỹ, vì nhớ đàn con :

      …chỉ một vài ngày nữa thôi, khi một chiếc máy bay cất cánh khỏi phi trường Tân Sơn Nhất, nàng biết lúc đó, từ trên máy bay nhìn xuống Saigon và Chợ Lớn xa dần, nàng sẽ chảy nước mắt.


      Những giọt nước mắt lưu luyến. Những giọt nước mắt thương nhớ. Tâm trạng đó của người ly hương đánh thức nơi Mỹ Hạnh một tình thương yêu mãnh liệt hơn bao giờ. Tình yêu gởi cho nơi chốn nàng sắp rời bỏ… (tr. 238)

      Vào cuối truyện, Chi bất ngờ đến thăm Niệm và mạnh dạn tỏ cùng Niệm mối tình thắm thiết của mình. « Chú cháu » đã trở thành « Anh em ». Cả hai âu yếm cầm tay nhau.


      II Thời gian xưa đã mất hay vẫn còn ?


      Chúng ta theo dõi nỗi vui mừng của Mỹ Hạnh khi trở về quê hương, tìm lại được thành phố Sài Gòn của ngày xưa. Nhưng khi Mỹ Hạnh lên máy bay trở về với gia đình ở Hoa Kỳ, thì Mỹ Hạnh đã thật sự mất cái quá khứ của mình ở Việt Nam, thời gian đó đã thật sự mất, không trở lại nữa.


      Còn Niệm, người đã cùng đi tìm quá khứ với Mỹ Hạnh thì sao ? Lúc đầu chiều ý Mỵ Hạnh, Niệm cùng đi với Mỹ Hạnh đến thăm các bạn cũ, không có ý niệm gì rõ ràng về quá khứ. Từ trước đến giờ, Niệm vẫn sống ở Sài Gòn, vẫn nhìn thành phố một cách hờ hững, dửng dưng, không nghĩ đến bạn bè của thời xưa. Khi đi thăm các bạn cũ với Mỹ Hạnh, Niệm vẫn có cái nhìn tiêu cực, bi quan về quá khứ :

      Niệm cúi đầu, nghĩ đến những cuộc viếng thăm quá khứ chàng đang thực hiện cùng người bạn gái ở phương xa trở về. Có phải là chàng cũng đang như Hoàn ngày ngày viếng thăm một nấm mồ ? Có phải là chàng cũng như Trình ? Mà sống là một sự đánh lừa mình ? Có phải là chàng cũng đang như Thu Hương ? Mà phần đời còn lại là những ngày tháng dư thừa và vô ích ? Chàng chợt thấy những cuộc viếng thăm này chẳng đem lại một cái gì hết. Những quá khứ đã chết. Thành phố là một nấm mồ vĩ đại đã chôn vùi xong xuôi trong nó muôn vàn những quá khứ đã chết. (tr. 185-186)

      Nhưng rồi những suy nghĩ của Niệm dần dần hướng về thời gian đã trôi qua, và mang tính triết lý. Thời gian trôi qua một cách dữ dằn, như một trận gió lớn, quét đi đời sống con người và dệt nên quá khứ.

      Đứng dưới trời nắng chói chang không một thoáng gió mà Niệm lại nghĩ đến một trận gió. Một trận gió thật lớn thổi bay từng cuộc đời tan tác về từng phương hướng riêng tư. Trận gió mịt mùng. Trận gió tàn bạo. Người ta không nhìn thấy nhau nữa. Và rồi khi trận gió ngớt đi, tất cả đều mất tích trong một quên lãng mênh mông. (tr. 231-232)

      Nhưng vì cuộc sống của con người tùy thuộc thời gian, cho nên quá khứ thuộc tâm lý con người, dù muốn dù không quá khứ vẫn ở trong ký ức của chúng ta, cho nên Niệm cuối cùng thức tĩnh, đi tìm quá khứ, đi tìm thời gian đã mất :

      Và quá khứ nào cũng mang một khuôn mặt giống nhau. Những nếp nhăn nói lên sự tàn phá của thời gian. Một tàn phá âm thầm, không tiếng nhưng mãnh liệt ghê gớm. Những sợi bạc trên một mái tóc. Những sợi bạc nói những lượng nước chảy xuôi qua một chân cầu tự đó, và nước chảy xuôi không bao giờ trở lại. Những cái nhìn và những ngày vui đã hết và mỗi ngày tháng mới chất cao thêm một khối buồn bã bâng khuâng. Nên để cho quá khứ ngủ ngon. Nên chặt đứt những cây cầu bắc qua những bờ sông cũ. Nhưng chúng tôi không làm như thế. Niệm nhủ thầm. Chúng tôi đã tìm quá khứ. Đánh thức nó khỏi giấc ngủ bằng bặt. (tr. 243-244)

      Niệm đi tìm thời gian đã mất, và Niệm tìm ra được cái thời gian mất đó, với tình yêu của Chi, một thiếu nữ trẻ. Trái tim của Niệm chưa cằn cỗi nên được tình yêu đem lại cái thời gian của tuổi trẻ thời xưa của Niệm tưởng đã mất.


      Khi Chiều Giăng Lưới, tựa đề của truyện, có thể được hiểu theo lối biểu tượng : chiều giăng lưới, chiều xuống là hoàn hôn của cuộc đời đã đến. Niệm đã đi ngược dòng đời, đi ngược hoàn hôn, trở về quá khứ, và tìm lại được cái thời gian đã mất nhờ tình yêu của tuổi trẻ.


      Đọc xong Khi Chiều Giăng Lưới độc giả có thể nghĩ rằng qua nhân vật Mỹ Hạnh, Mai Thảo đã nói lên lòng thương yêu của mình đối với Sài Gòn, một thành phố mang nhiều kỷ niệm, đã nuôi dưỡng nguồn sáng tạo của Mai Thảo, Sài Gòn mà trong một bài tùy bút Mai Thảo gọi là Thủ đô văn hóa. Mai Thảo đã vĩnh biệt Sài Gòn với tác phẩm cuối cùng : Khi Chiều Giăng Lưới.


      Liễu Trương


      (1) Trong toàn thể các tác phẩm của Mai Thảo, tác giả viết « Saigon » thay vì « Sài Gòn »

      Liễu Trương

      Nguồn: Tác giả gởi

      Ad-22 Ad-22


      Cùng Tác Giả

      Cùng Tác Giả:

       

      - Mai Thảo và Hành Trình Đi Tìm Thời Gian Đã Mất Liễu Trương Nhận định

      - Võ Phiến Và Tâm Trạng Kẻ Lưu Đày Liễu Trương Nhận định

      - Trần Mộng Tú, Một Dòng Thơ Tuôn Chảy Ngoài Quê Hương Liễu Trương Nhận định

      - Khu Rừng Lau Của Doãn Quốc Sỹ Cuộc Hành Trình Đi Tìm Tự Do Liễu Trương Nhận định

      - Nụ Cười Của Nàng Joconde Liễu Trương Nhận định

      - Hiện tượng sách dịch ở miền Nam thời 54-75 Liễu Trương Nhận định

      - Truyện "Bóng Đè" của Đỗ Hoàng Diệu một huyễn tưởng của vô thức Liễu Trương Nhận định

      - Mười Nhà Văn Miền Nam Đến Với Độc Giả Pháp Liễu Trương Giới thiệu

      - Sứ Mạng Của Người Cầm Bút Theo Linh Mục Thanh Lãng Liễu Trương Nhận định

      - Đi Vào Giấc Mơ Thổ Với Trần Vũ Liễu Trương Nhận định

    3. Bài Viết về nhà văn Mai Thảo (Học Xá) Ad-31 Ad-31 = QC_250-250 (Học Xá)

       

      Bài viết về Mai Thảo

       
      Cùng Tác Giả (Link-1)

      Mai Thảo và Hành Trình Đi Tìm Thời Gian Đã Mất (Liễu Trương)

      Mai Thảo và Bút Pháp (Doãn Cẩm Liên)

      Vài Ghi Nhận Về Mai Thảo (Nguyễn Hưng Quốc)

      Miên Trường (Hồ Đình Nghiêm)

      Phỏng vấn nhà văn Mai Thảo (Nguiễn Ng. Í)

      Với Nhà Văn Mai Thảo: Thơ Như Đường Gươm Múa Lượn... (Trần Văn Nam)

      Mai Thảo (Học Xá)

      Mai Thảo người kể chuyện bằng văn (Trần Thanh Hiệp)

      Mai Thảo (Hợp Lưu)

      Hành Trình Đến Tự Do Nhà Văn Thuyền Nhân Mai Thảo (Ngô Thế Vinh)

      Nói Chuyện Với Nhà Văn Mai Thảo

       (Thụy Khuê & Trần Vũ)

      Vài ghi nhận về Mai Thảo (Nguyễn Hưng Quốc, Tiền Vệ)

      Gối đầu lên chữ nghĩa (Hoàng Khởi Phong, Talawas)

       

      Tác phẩm của Mai Thảo

        Cùng Tác Giả (Link-2)

      Màu lụa Hà Đông trong thơ Nguyên Sa (Mai Thảo)

      Những Ca Khúc Tiền Chiến (Mai Thảo)

      Ngôi Sao Hàn Thuyên (Mai Thảo)

      Nhật Tiến Vẫn Đứng Ở Ngoài Nắng (Mai Thảo)

      Tiếng hát Thái Thanh (Mai Thảo)

      Mặc Đỗ Quy Ẩn (diendantheky.net)

      Bản Chúc Thư Trên Ngọn Đỉnh Trời

      (sangtao.org)

      Nhân Cách Bình Nguyên Lộc  

      (diendantheky.net)

      Chuyến tàu trên sông Hồng, Mưa núi,

      Thơ: Ta thấy hình ta những miếu đền

      (Talawas)

      Tác phâm trên mạng:

      - vantuyen.net   -  sangtao.free.fr

       

      Bài Viết về Văn Học (Học Xá)

       

      Bài viết về Văn Học

        Cùng Mục (Link)

      Mai Thảo và Hành Trình Đi Tìm Thời Gian Đã Mất (Liễu Trương)

      Đời Thủy Thủ 2: Chương 16: Vịnh Gành Rái (Vũ Thất)

      Đi Lễ Giao Thừa (Nguyễn Công Khanh)

      Nhà văn Đặng Thơ Thơ, một tiếng nói nữ quyền - diễn ngôn trong văn chương Việt hải ngoại đương đại (Vũ Khắc Tế)

      Tam giáo đồng hành (Nguyễn Đặng Bắc-Ninh)


       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

       

      Văn Học (Học Xá)

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Danh Mục Tác Giả: Cùng Chỉ Số (Link-2) Aí Điểu,  An Khê,  Andrew Lâm,  Andrew X. Phạm,  Au Thị Phục An,  Bà Bút Trà,  Bà Tùng Long,  Bắc Phong,  Bàng Bá Lân,  Bảo Vân,  Bích Huyền,  Bích Khê,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Bích Hà,  

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)