1. Head_
    1. Link Tác Phẩm và Tác Giả
    2. Nhã Ca - Trần Dạ Từ (Vĩnh Phúc)

      2-3-2019 | VĂN HỌC

      Nhã Ca - Trần Dạ Từ

         VĨNH PHÚC
      Share File.php Share File
          

       


      Nhà thơ Trần Dạ TừNhã Ca

      Đáng lẽ phần này chỉ dành nói riêng về Nhã Ca, nhưng vì khi tôi đến nhà, được cả hai anh chị tiếp chuyện nên xin được dành phần này đề cập luôn tới Trần Dạ Từ, thay vì tách rời ra và đặt anh vào phần mẫu tự T.


      Nhã Ca và Trần Dạ Từ là hai tên tuổi đã quá quen thuộc với giới độc giả cũng như giới cầm bút từ trước năm 1975 ở trong nước. Tên thật của đôi uyên ương này là Trần Thị Thu Vân và Lê Hạ Vĩnh. Tuy Nhã Ca cũng làm thơ, nhưng người ta hay nhớ tới một Nhã Ca tiểu thuyết gia; và tuy cả hai anh chị cũng làm báo, song hình như Trần Dạ Từ được biết tới nhiều hơn như một thi sĩ, mặc dù anh tự nhận là chỉ làm thơ “lai rai và có mùa”.


      Trước hết tôi nhờ Nhã Ca cho biết sơ qua về diễn tiến của việc anh chị rời Việt Nam sang Thụy Điển, và rồi tại sao anh chị lại sang Mỹ:


      - Năm 1987 nhà tôi được thả ra khỏi nhà tù cộng sản và 1988 chúng tôi đi sang Thụy Điển. Chúng tôi sang được Thụy Điển nhờ sự vận động của PEN quốc tế và PEN Thụy Điển, và qua thủ tướng Evan Carson. Họ đã giúp đỡ, can thiệp với chính phủ Việt Nam lúc đó, và chúng tôi đến Thụy Điển vào tháng 9 năm 1988. Cái lý do rời Thụy Điển qua đây: thật ra ở Thụy Điển rất là yên tĩnh, nhưng mà cái sự yên tĩnh đó làm cho chúng tôi cảm thấy “vô công rồi nghề” quá và buồn quá. Chúng tôi kéo nhau sang Cali. Để đến với người Việt mình đông hơn, vui hơn; và hợp với công việc báo chí mà chúng tôi đang làm.


      - Xin chị Nhã Ca cho biết đã có những tác phẩm nào cho ra mắt từ hồi sang Thụy Điển cho tới giờ.

      – Thưa anh, lúc kê được cái bàn viết ở Thụy Điển thì tôi bắt đầu tập viết lại. Phải nói là “tập viết lại”, vì mười mấy năm không hề cầm bút ở Việt Nam. Không hề cầm bút, không hề đọc sách. Coi như là chữ nghĩa vắng bóng. Cho nên qua được bên Thụy Điển, chúng tôi kê cái bàn; được tự do, được viết lách, được suy nghĩ, thì tôi tập viết lại. Và tác phẩm đầu tiên của tôi là cuốn “Hoa Phượng Đừng Đỏ Nữa”. Cuốn sách đó in ở Hoa Kỳ. Năm đó chúng tôi được một số anh em mua cho hai vé máy bay sang Cali để trình diện cuốn sách. Sau đó tôi lại trở về Thụy Điển, và trong hơn một năm thì tôi viết cuốn “Hồi Ký Của Một Người Mất Ngày Tháng”. Rồi trong thời gian viết cuốn hồi ký, tôi cũng viết được một số truyện ngắn và tôi in cuốn “Sài Gòn Cười Một Mình”. Sau khi phát hành cuốn hồi ký thì tôi sang đây, có gặp chị Kiều Chinh. Bạn cũ gặp nhau, thấy cần phải làm việc với nhau; và tôi đã viết một phần cuốn “Saigon–Hanoi-Hollywood”, giới thiệu một phần đời của chị Kiều Chinh trong cuốn sách đó.


      - Thưa anh Trần Dạ Từ, chị Nhã Ca đã có một số tác phẩm rồi, còn phần anh?

      - Thưa anh, tôi chỉ là một người làm thơ tình. Thành ra từ hồi đó cho tới giờ ở trong tù thì cũng viết được dăm ba bài thơ, đi ra hải ngoại lâu lâu cũng viết một vài bài thơ, chứ chưa có dịp nào mà in thơ ra, thành ra tôi chưa có tác phẩm nào.


      - Anh vừa cho biết anh là thi sĩ chuyên làm thơ tình. Với số tuổi nay đã tăng thêm, với số ngày trong tù và với môi trường sống đã thay đổi rồi, thì nguồn cảm hứng của anh còn như cũ không, hay là anh vẫn tiếp tục làm thơ tình như hồi còn trẻ?

      – Thưa anh, tôi tin rằng nhìn cuộc sống, gặp bạn hữu với những người thân, luôn luôn cuộc sống là một cái đề tài lớn lao mà mọi người đều nhận được, và tôi tin bất cứ người nào muốn làm thơ thì bao giờ cũng nhận được những rung động, những tặng phẩm chính đáng của cuộc sống.


      - Thưa hiện giờ thỉnh thoảng anh vẫn làm thơ và cũng gửi cho một số tạp chí văn học ở đây chứ?

      - Vâng thưa anh cũng đôi khi.


      - Thưa chị Nhã Ca, được biết là bây giờ anh chị đang chủ trương một tờ báo?

      - Dạ vâng, chúng tôi đang làm tờ “Việt Báo Kinh Tê”, một tuần ra một lần vào ngày Thứ Bẩy.


      – Tờ báo chủ trương thiên về kinh tế hay là...

      - Vâng, kinh tế bây giờ nó “kinh” quá, khắp thế giới (cười). Thật ra tờ báo cũng chẳng có những đề tài gì to lớn lắm, mà là những cái vấn đề thường nhật, thuộc đời sống hàng ngày của người Việt trên đất Mỹ.


      - Tôi hỏi có thừa không: tại sao chị chọn tên là “Tuần Báo Kinh Tế”. Từ xưa tới giờ chị không làm kinh tế, chị là một nhà viết tiểu thuyết?

      - Thưa anh vì chán chính trị quá rồi (cười).


      Chị có gặp khó khăn khi tìm anh em cộng tác không?

      - Dạ lúc đầu chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn. Cũng may là sang đến đây cũng có một số bằng hữu cũ vốn là những nhà báo chuyên nghiệp như là anh Hồ Văn Đồng, anh Nguyễn Viết Khánh, anh Nguyên Sa, anh Nguyễn Hữu Đông rồi có một số bạn hữu góp vào (thỉnh thoảng thôi) như anh Cung Tiến, với một số những bạn bè cũ mỗi người góp vào một tay.


      - Thưa chị, phần chị có thấy nguồn cảm hứng thay đổi không, và đối tượng của những truyện của chị bây giờ có khác với hồi xưa ở Sài Gòn không?

      - Dạ thưa anh khác nhiều chứ ạ. Mình đã qua một thời gian dài thay đổi cả một nước, cái sự viết lách tôi thấy ngày xưa mình còn trẻ, mình viết cái gì cũng thấy là OK hết, nhưng mà bây giờ tôi thấy là độc giả càng ngày càng hiểu biết hơn, càng khó khăn hơn, cho nên tôi phải viết cẩn thận hơn.


      - Chị thấy cái số độc giả ở ngoài này so với ngày xưa ra sao? Do đó nó mang lại những vấn đề gì cho người cầm bút?

      - Dạ, thực ra chúng tôi chỉ còn trông vào cái số độc giả ở vào cái lứa tuổi với mình hoặc là từ 30 trở đi. Còn lớp trẻ bây giờ thì họ đọc sách Mỹ hay các ngôn ngữ mà bây giờ họ đang học, đang nói. Nhưng cũng không phải vì như vậy mà mình không viết, bởi vì công việc của mình phải viết. Cho nên tôi cứ nghĩ là mình cứ viết, còn tương lai, khi đất nước mình thay đổi thì còn cả triệu người lớp trẻ ở Việt Nam họ có thể đọc sách mình, nếu mình viết đàng hoàng cẩn thận và có lòng.


      – Còn như nếu tình trạng này (tôi giả sử thôi chứ không ai mong muốn như vậy) cứ kéo dài thêm độ 20 năm nữa thì chị thấy làm sao? Cái lứa độc giả cỡ tuổi mình già rồi, thì liệu có còn người đọc sách của quí anh chị nữa không?

      - Thưa anh 20 năm nữa tôi có thấy gì nữa đâu, tôi chỉ có thấy đất (cười). Mong cho có sự thay đổi sớm hơn để tuổi trẻ có thể về quê nhà dựng lại đất nước và tìm hiểu lại nền văn học Việt Nam. Điều đó tôi nghĩ rằng ai cũng hy vọng hết. Nhưng mà anh nói 20 năm thì thật là không thấy gì nữa hết!


      – Tôi đưa ra một giả sử hơi quá đáng. Nhưng thưa chị, khi sáng tác ở hải ngoại này, chị tìm cảm hứng trong cuộc sống hàng ngày, trong môi trường mới, hay là chị vẫn hướng về Việt Nam như là trong những truyện trước kia?

      - Thưa anh thật ra nghề văn đối với một người cầm bút, thì tất cả những chuyện xảy ra trong đời sống là những tác phẩm của mình. Khi ở Việt Nam thì chúng tôi chỉ có viết quanh quẩn những chuyện xẩy ra hàng ngày ở Việt Nam. Nhưng khi qua Mỹ rồi thì dĩ nhiên cũng phải tìm hiểu và nhìn thấy để mà viết về cái đời sống ở đây. Tuy nhiên tôi mới sang, còn mới quá, chưa có đủ nhận xét để viết nhiều. Tôi hy vọng rằng trong thời gian tới, cũng sẽ có những tác phẩm viết về đời sống của người Việt Nam mình ở hải ngoại. Lúc đó chắc là tôi hiểu thấu đáo hơn, còn bây giờ còn mới quá (cười). Mới quá thì làm báo thôi anh.


      - Anh Trần Dạ Từ có cảm thấy nguồn cảm hứng bị ảnh hưởng lắm vì cuộc sống mới ở đây không?

      - Phải thưa thực với anh rằng chúng tôi là người làm thơ theo mùa. Lâu lâu trong đời của mình, vài ba năm tự nhiên có lúc mình làm thơ nhiều, rồi mình lại đi làm những công việc khác. Công việc làm thơ của chúng tôi nó không đều đặn gì. Thành ra, thưa anh, với chúng tôi lúc nào nó đến thì nó đến. Chúng tôi không bận tâm lắm chuyện đó.


      - Có một hiện tượng này nữa chị Nhã Ca à, một số cây viết nổi tiếng trước kia trong nước, bây giờ ra ngoài này, bỗng nhiên cảm thấy mình “hết hứng” rồi, vì một lý do nào đó. Chị nghĩ sao về hiện tượng các tác giả này như là muốn đi ở ẩn?

      - Thưa anh vì cái số độc giả ít quá và với sự viết lách sáng tác không đủ nuôi thân mình.


      - Vâng, đấy là một yếu tố thực tế. Nhưng có thể có yếu tố khác nữa không, ví dụ, họ như một cái cây đã bắt rễ quá sâu ở đất Việt Nam rồi, bây giờ bứng đi, đem trồng đất Mỹ, họ thấy lạ quá đi.

      - Vâng, tôi cũng nghĩ một phần như vậy. Nhưng mà tôi thấy có một số nhà văn tuy tác phẩm họ bây giờ chưa có trình làng vì in thì đắt mà bán thì không thu được vốn, nhưng mà công việc viết lách của họ thì họ vẫn cứ phải viết.


      - Còn phần chị thì không thấy có gì ảnh hưởng hết?

      - Dạ không ạ. Nếu lúc nào viết được thì tôi ngồi ngay vào bàn viết.


      - Thưa chị thế trong tương lai gần chị có định cho ra mắt một tác phẩm nào không?

      - Thưa anh ngay trong thời gian này (tháng 11/92) tôi vừa mới xong một cuốn: “Chớp Mắt Một Thời”. Một cái thời ở Việt Nam khi người Mỹ đến và người Mỹ đi, đã qua rồi, và những ảnh hưởng còn kéo dài cho đến khi người Việt Nam mình còn ở Cali này.


      - Phần anh Trần Dạ Từ thì sao ạ? Anh nói anh là “thi sĩ từng mùa”. Bây giờ đã đến mùa xuân chưa?

      - (Cùng cười) Thưa anh chưa. Đối với chúng tôi thì không có gì đặc biệt cả.


      *



      Cuối năm 1998, người viết dùng điện thoại viễn liên từ Luân Đôn gọi sang California để tìm hiểu xem đã có những biến chuyển gì đáng nói trong hoạt động cầm bút của anh chị Trần Dạ Từ--Nhã Ca, cũng như trong sinh hoạt văn hóa của cộng đồng người Việt ở vùng Nam Cali. Lần này vì chị Nhã Ca đang bận tiếp khách nên anh Trần Dạ Từ trả lời cho cả hai người. Dù ở xa tận Luân Đôn nhưng người viết cũng được biết rằng nay tờ Việt Báo Kinh Tế đã tiến bằng những bước của đôi hia bẩy dặm, nên đã vào đề ngay với câu hỏi liên quan đến tờ báo.


      – Thưa anh, cách đây 6 năm, khi chúng ta nói chuyện, được biết hồi đó anh chị mới chủ trương tờ tuần báo Việt Báo Kinh Tế. Nay tờ này đã biến thành nhật báo rồi. Như vậy, hẳn anh chị bận rộn lắm, và số báo ấn hành cùng số độc giả chắc phải tăng lên nhiều lắm rồi?

      – Thưa anh, tăng lên nhiều. Báo mà chúng tôi làm hiện giờ, gồm có tờ Việt Báo Kinh Tế, mỗi ngày đều có một ấn bản. Số phát hành lớn hơn trước nhiều. Gọi là lớn thôi, nhưng cũng bình thường mỗi ngày chừng 12 ngàn, còn cuối tuần độ 15 ngàn. Được cái là tờ báo đã đến được tận tay độc giả, chứ không còn tình trạng bị dư thừa. Ngoài Việt Báo Kinh Tế ra, chúng tôi còn làm thêm một nhật báo nữa, tờ Việt Báo USA ở vùng San Jose. Tờ đó làm cũng được 3 năm rồi, và ra 6 số một tuần.


      - Thế thì anh chị tài quá, và thành công lắm rồi!

      - Đó là do đông đảo anh em làm, chứ không phải một vài người. Cũng cực lắm.


      - Thưa anh, hai tờ báo của anh chỉ phát hành trong phạm vi tiểu bang Cali hay có đưa tới cả các nơi khác?

      - Thưa anh tờ VBKT có tới một số tiểu bang, khi có những đại lý ở đó họ mua, ví dụ như Hawaii hay Oklahoma. Nhưng đó là những nơi chúng tôi gửi báo cho họ thôi. Bình thường bên Mỹ quá rộng nên báo nào cũng chỉ thường bán ở địa phương của nó. Ví dụ như tờ báo của chúng tôi ở trên San Jose phải in ở trên đó.


      - Anh chị giao cho một người khác đại diện trong nom một tòa soạn ở trên đó?

      - Vâng, có một tòa soạn ở trên đó. Anh Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh hiện đang ở trên San Jose, làm đầu tầu ở trên đó.


      - Anh chị bận rộn như thế, thì nó có ảnh hưởng đến việc viết văn làm thơ của anh chị không?

      - Thưa chúng tôi cũng không biết nữa. Riêng với bà Nhã thì tôi thấy bà ấy vẫn viết đều đều, vì tờ báo buộc bà ấy phải viết một truyện dài đăng mỗi ngày. Rồi cái quan hệ với bạn hữu ở các nơi khác buộc phải viết mỗi năm một số truyện ngắn. Thành ra bà ấy cũng còn viết đều đều. Ngoài ra bà ấy cũng đã viết từ mấy năm nay rồi, và sắp kết thúc một bộ truyện, mang tựa là Đường Tự Do Sài Gòn, tức là con đường mà suốt những năm sau 1975, gia đình chúng tôi sống ở đó. Đã viết được chừng hơn 2000 trang rồi, và chúng tôi đang tính trong năm nay thu xếp cho in, mà không biết bà ấy có đủ thì giờ sửa chữa không.


      - Nội dung câu truyện nói về cái gì hả anh?

      - Nói về những thay đổi trong cuộc sống ở một khu phố Sài Gòn.


      - Còn phần anh thì sao? Lần trước anh nói với tôi rằng anh là một nhà thơ làm thơ có mùa. Bây giờ đã có mấy mùa hoa nở rồi?

      - Thưa anh, hình như là tôi chẳng có mùa nào cả. Lúc nào có thì giờ mà mình thích thì làm thôi.


      - Thế anh làm thơ thì cho đăng trên báo, hay làm rồi để đó?

      - Thú thật với anh, bây giờ mỗi năm tôi chỉ đăng độ một hai lần thôi. Chúng tôi có số báo Xuân. Mỗi năm chúng tôi có thực hiện một tờ báo Xuân, và chúng tôi có đưa lên hệ thống Internet một số tin tức hàng ngày. Địa chỉ là vietbao.com


      – Xin anh chị một vài nhận xét về sinh hoạt văn học ở miền Nam Cali. Trong vòng mấy năm qua có thay đổi ra sao.

      - Thú thật với anh, chúng tôi không theo dõi được sinh hoạt văn học một cách chu đáo. Thành ra không dám có một nhận xét nào cả.


      - Vâng tôi biết anh chị bận lắm. Nhưng về báo chí thì anh rõ lắm chứ?

      - Báo chí Việt ngữ ở Nam Cali cũng như ở Hoa Kỳ nói chung, tôi thấy là nhìn chung, đã bước được những bước dài lắm rồi. Thí dụ như ở đây chẳng hạn, anh em làm tờ Người Việt, so với bảy tám năm trước, mức độ nhà nghề của họ, sự phát triển của họ, đã đạt được những bước tiến bộ xa lắm rồi. Và tôi nghĩ rằng trên phạm vi văn học, cũng có những biến chuyển tương tự như thế.


      - Anh có thấy tên tuổi nào mới xuất hiện không?

      - Thưa anh, những tác giả viết và in sách thì rất nhiều... thú thực với anh, chúng tôi không theo dõi được chu đáo, nhưng chúng tôi cũng tin tưởng rằng cũng có nhiều người viết mới, viết cũng hay lắm. Tình hình chung thì như anh đã biết, so với từ hồi năm 75 thì một phần tư thế kỷ đã qua rồi. Đã đến lúc để cho một thế hệ thứ hai bước vào mọi lĩnh vực. Ví dụ như trong lãnh vực điện ảnh chẳng hạn, hồi năm 75 khi những người thuộc thế hệ cũ đến đây mà tham dự được vào sinh hoạt thuộc lĩnh vực này, hình như quá ít oi, không có gì. Nhưng bây giờ bắt đầu có những người đạo diễn trẻ người Việt chỉ chừng 25, 26 tuổi. Họ viết truyện, làm phim, thực hiện phim và đạt được nhiều thành tích lớn. Ngay chính những bạn người Mỹ đồng lứa với họ, tôi nghĩ, cũng không thể hơn được. Tôi tin rằng thế hệ mới người mình, bước vào lãnh vực văn học nghệ thuật, mỗi lúc một trưởng thành hơn. Chúng ta có thể vững tin rằng, những lớp sóng sau bao giờ cũng lớn hơn.


      - Thưa anh, như thế tôi có thể hiểu được rằng những người thuộc thế hệ lớn tuổi như chúng ta, những người đã cầm bút từ trước năm 75, nay nguồn cảm hứng đã giảm, đã nguội lạnh bớt?

      - Thưa anh tôi không nghĩ như thế. Theo tôi, có những người viết lặng lẽ họ vẫn làm việc. Nếu coi rằng những công việc viết lách, in sách, tổ chức ra mắt sách thì không nói làm gì. Nó chỉ có tính cách như một thú tiêu khiển, một hobby thôi. Nhưng có những anh em viết lách thận trọng, họ vẫn làm việc.


      - Tôi thấy khi còn sống Duyên Anh có nói đại khái rằng một người cầm bút được sống trong một hoàn cảnh tự do không bị cấm đoán mà không viết được thì cảm thấy đau đớn lắm. Theo anh, anh có thấy bứt rứt khi vì một lý do nào đó, nay bận rộn quá chẳng hạn, mà không viết được nhiều như ngày xưa nữa?

      - Như chúng tôi thì vẫn thấy bình thường không có chuyện gì. Vốn dĩ ngày xưa chúng tôi cũng đã sống chẳng nhàn nhã gì. Lúc nào cũng vất vả. Còn như tôi thì viết lách lăng nhăng, làm thơ thì lúc nào thích thì làm, không thích thì thôi.


      - Nhưng như chị Nhã Ca thì ngày xưa viết hăng lắm?

      - Thưa anh tôi nghĩ bây giờ bà ấy cũng vẫn viết nhiều như vậy. Tôi không thấy có cái gì khác đối với những người như chúng tôi.


      - Còn vấn đề hội nhập vào cuộc sống ở Mỹ thì giới cầm bút mình có thấy gì trở ngại không? Anh có thấy người cầm bút Việt Nam có tìm hiểu về nền văn hóa của Mỹ, và có tham gia vào sinh hoạt văn hóa đó không, hay vẫn đứng biệt lập và chỉ hoạt động trong sinh hoạt văn hóa của người Việt thôi?

      - Tôi tin tưởng rằng hầu hết những anh em cầm bút Việt Nam đều có đọc. Họ có nhu cầu đọc cũng như nhu cầu viết. Tôi tin tưởng rằng họ có cái hiểu biết, và không cần phải chờ tới khi sống ở Mỹ hay Pháp họ mới biết văn chương của Mỹ hay Pháp. Họ vốn dĩ đã có cái hiểu biết đó từ lâu rồi. Nhưng còn việc viết về đề tài và cuộc sống thực tế của cái đất nước họ đang sống thì tôi tin rằng còn cần phải mất một thời gian nữa. Văn chương của Việt Nam, văn chương đất nước, tôi nghĩ rằng nó cũng có cái số phận chung với người sống. Trong số anh em cầm bút mình sang đây, ví dụ như chúng tôi làm báo chẳng hạn. Nhiều người thường nghĩ rằng mình làm báo là như làm báo cho số độc giả của một quốc gia đọc. Sự thực thì trong lòng mình, ai cũng bị thôi thúc bởi cái đất nước xa xôi kia. Nhưng thực tế thì, ví dụ như chúng tôi sản xuất một tờ báo, hay in ra một cuốn sách bằng Việt ngữ, tôi cho rằng cái phạm vi hạn hẹp của nó là: nó cũng giống như số phận của một cây ổi, cây chanh đặc sản mà bà Vĩnh Phúc đem về trồng sau vườn vậy thôi, chứ không nên coi nó như là một việc gì lớn lao.


      - Thưa anh thỉnh thoảng tôi thấy có ý kiến cho rằng có vẻ như người Mỹ họ kỳ thị văn hóa Việt Nam, không muốn cho văn hóa Việt Nam ngóc đầu lên được trên đất Mỹ. Theo anh, có chuyện đó không? Và tại sao tới giờ này chưa thấy có một tác phẩm nào của người Việt thuộc loại best seller?

      - Thưa anh tôi nghĩ rằng cái hàng rào về ngôn ngữ và lề lối làm việc nó giới hạn nhau vậy thôi, chứ không có bất cứ một sự kỳ thị nào cả. Tôi nghĩ rằng sách của chúng ta không đáp ứng được nhu cầu của người đọc bên Mỹ. Rồi cái lối thực hiện ấn bản, lối phiên dịch của chúng ta, hoặc người viết trực tiếp bằng Anh ngữ chưa đủ thì giờ để đáp ứng được nhu cầu, đáp ứng được thị trường. Mà tôi nghĩ rằng đây là một thị trường hoàn toàn tự do. Cũng tội nghiệp cho người Mỹ nếu cái gì chúng ta cũng đổ tội cho họ. Cách đây mới khoảng hai-ba tháng thôi, tôi đọc những tin tức về điện ảnh, thấy có một anh đạo diễn người Việt 26 tuổi tên là Tony Bùi. Anh làm cuốn phim Three Seasons, được đến ba giải thưởng lớn của đại hội điện ảnh mà chính anh là người viết truyện phim kiêm đạo diễn. Rồi còn một người trẻ khác là một người Việt gốc Hoa, làm một cuốn phim khác, cũng đoạt hai giải thưởng. Thì tôi thấy rằng, cái biên giới văn chương, sách vở nó khó khăn, nhưng cái biên giới điện ảnh cũng không phải dễ dàng, nhất là nó đòi hỏi nhiều chuyên môn hơn, nhiều vốn liếng hơn. Vậy mà những người trẻ gốc Việt vẫn phá được cái hàng rào để xâm nhập thị trường Mỹ. Và thị trường Mỹ họ cũng chấp nhận chuyện đó. Tôi nghĩ rằng sách vở, nếu chưa có là tại vì chúng ta sốt ruột thôi.


      - Thưa anh, trong lần nói chuyện trước chị Nhã Ca có nói rằng chị vẫn có rung động nhưng vì hoàn cảnh sống chưa thể tìm hiểu kỹ về xã hội Mỹ nên chưa viết những truyện lấy bối cảnh là xã hội Mỹ. Nay sau sáu năm rồi thì chị đã chuyển hướng sáng tác chưa?

      - Thưa anh tôi thấy bà ấy vẫn viết với những đề tài, những câu chuyện của những nhân vật hiện tại và bối cảnh là Việt Nam. Có một số truyện ngắn bà ấy viết với bối cảnh Mỹ, thí dụ như một phần trong cuốn truyện dài Chớp Mắt Một Thời cũng như một số truyện ngắn viết sau này. Nhưng nhìn chung thì cũng chỉ là những chuyện về những người Việt Nam sống ở Mỹ. Mà người Việt Nam sống ở Mỹ nó khác với người Việt ở những vùng Tây Âu, vì ở đây số người Việt đông hơn thành ra họp lại được thành một cái cộng đồng. Gọi là thành công thì cũng đúng vì tái tạo được những sinh hoạt về ăn uống, đọc, nghe có đài truyền hình, đài phát thanh, có nhật báo, có tuần báo, có sách vở... Rồi làm ăn phồn thịnh, nên gọi là thành công thì cũng được. Nhưng nếu gọi là thất bại thì chắc cũng không sai. Vì nếu coi sự hội nhập vào giòng sinh hoạt của xã hội Mỹ như cá của một giòng nước ngọt tuôn ra biển, lao vào biển lớn. Nếu coi đó là sự thành công, thì cộng đồng cũng như báo chí mà chúng tôi làm, sản phẩm của cộng đồng cá nước ngọt, trên đường bị đẩy ra khỏi giòng sông của mình, tụ lại ở vùng nước lợ ven biển, ở đó được thương, vui với nhau, rồi chờ cho khi chính mình có đủ sức lực, hoặc là chờ cho thế hệ kế tiếp có đủ sức lực, mới vào được cái giòng chính. Thì tôi nghĩ mình vội vàng đâu có được, thưa anh.


      – Thưa anh, tôi thấy trong vòng dăm bảy năm nay có một đề tài gây tranh luận, đó là chuyện hợp lưu, giao lưu văn hóa. Anh chị nhận xét ra sao?

      - Tôi nghĩ rằng trong thực tế nay đã hết cái thời ao tù đọc và viết rồi, mặc dù còn có cái bờ ở đó. Nhưng với phương tiện truyền thông càng ngày càng bùng mở thì giao lưu đương nhiên là phải có. Nhưng mà nói về sự giao lưu bình thường, có sự trao đổi, thì tôi nghĩ rằng còn phải rất lâu. Khi nào cái chế-độ-chủ-trương-ngược-hẳn-với-những-quyền-tự-do căn bản thay đổi, thì mới có sự giao lưu chính thức. Bây giờ ảnh hưởng của những người Việt ở Mỹ hay các nơi trên thế giới, không phải là không có ở Việt Nam. Còn những tin tức chuyển đi từ Việt Nam đến khắp thế giới, đã khác hẳn cái thời còn bức-màn-tre rồi. Thì sự giao lưu tự nó, sẽ có. Còn nghĩ rằng có “chủ trương giao lưu không”, thì tôi nghĩ rằng chẳng ai cần chủ trương cái việc đó. Hiện bây giờ những người cầm quyền ở Việt Nam còn ngăn cấm những sách vở từ bên này gửi về trong nước. Họ còn phong tỏa ngay cả những trang website không cho dân chúng trong nước sử dụng internet một cách tự do, nên nếu nói giao lưu một cách chính thống, thì đâu có nói là giao lưu được. Nhưng nếu nói là họ thành công trong việc đó, thì tôi nghĩ họ chẳng thể nào thành công được. Họ muốn cấm đoán cũng chẳng được.


      - Thế còn những người chủ trương giao lưu có thành công không?

      - Anh cứ hình dung giữa một biến nước có một cái hồ nhỏ. Hồ đó đắp đập để ngăn không cho nước ở ngoài chảy vào. Thế nhưng không phải vì như vậy mà nước bên trong hồ không bị thẩm thấu và không đổi màu. Tôi nghĩ rằng ảnh hưởng của đời sống và cái lối nhìn bên ngoài này cũng tạo ảnh hưởng rất sâu sắc ở Việt Nam.


      - Cách đây sáu năm, chị có vẻ bi quan về hiện tượng là số người đọc càng ngày càng sụt giảm vì giới trẻ lớn lên ở Mỹ không chịu đọc tiếng Việt, còn giới già như chúng ta càng ngày càng bớt đi, thành ra số độc giả giảm nhiều, rất ảnh hưởng đến việc viết lách của những người cầm bút. Thưa anh, sau sáu năm qua, hiện tượng đó nay vẫn như thế hay có tăng, giảm?

      – Thưa anh tôi cũng không hoàn toàn đồng ý với bà Nhã nếu quả bà ấy có nói như thế. Tôi là một người làm công việc chuyên nghiệp về xuất bản và phát hành từ ở Việt Nam cho tới bây giờ. Vào thời còn chiến tranh, chúng ta có một nửa đất nước ở Miền Nam, cũng không thiếu những tập thơ, những truyện dài, truyện ngắn được in ra, với số in 1000 (một ngàn) cuốn bán cũng không hết. Mà bây giờ ở hải ngoại, ví dụ lấy cái khu vực mà chúng tôi đang sống ở đây, vùng Nam Cali này có chừng 300 ngàn người, vùng Bắc chừng 200 ngàn. Chỉ có 500 ngàn người thôi, mà phương tiện gửi sách đi các vùng xa rất là hạn chế vì cước phí đắt đỏ, không có một sự ưu đãi nào. Nếu số sách in ra mà bán được độ 200, 300, hay 400 cuốn, thì cái tỷ lệ người đọc như thế không phải là giảm sút. Huống hồ, có những cuốn sách tôi biết là khi in ra vài ba ngàn cuốn, bán hết vù! Như thế nếu tính tỷ lệ thì số người đọc đáng lạc quan, không có giảm sút. Còn nếu than phiền rằng sách này, sách kia bán không được, thì cũng đúng chứ không sai. Trước kia ở quê hương chúng ta có một ngàn hiệu sách, còn bây giờ chúng ta chỉ có 30 hiệu thôi, thì làm sao được!


      - Tôi biết rằng anh chị nay bận rộn lắm, một tuần làm việc cả bẩy ngày, vì báo của anh chị ra bẩy ngày trong tuần. Như thế anh chị có thì giờ để đọc một tác phẩm nào từ trong nước gửi ra không?

      - Đã lâu lắm rồi, chúng tôi không có đọc cuốn sách nào từ trong nước gửi ra. Nhưng thỉnh thoảng chúng tôi cũng có đọc một vài truyện ngắn. Gặp đôi ba bài thơ của các bạn, cũng đọc.


      - Còn sự liên lạc với những anh em cầm bút cũ còn ở trong nước?

      - Chúng tôi hoàn toàn không giữ một sự liên lạc nào. Vì điều thứ nhất là số bạn thân ở bên nhà chỉ còn vài ba người. Một số trong đó ở trong tình trạng mà sự liên lạc của chúng tôi tạo nguy hiểm cho họ. Thành ra cũng cần thận trọng, không muốn làm rộn cuộc sống của các bạn, nhưng trong lòng bao giờ cũng vẫn quý mến nhau.


      Vĩnh Phúc

      Nguồn: ĐỐI THOẠI (13 văn thi sĩ nói về mình và văn học)
      Nxb Văn Nghệ, 2001




      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Nhã Ca - Trần Dạ Từ Vĩnh Phúc Phỏng vấn

      - Hà Thượng Nhân Vĩnh Phúc Phỏng vấn

      - Nguyễn Xuân Hoàng Vĩnh Phúc Phỏng vấn

      - Nguyên Sa Vĩnh Phúc Phỏng vấn

      - Nguyễn Thị Thanh Bình Vĩnh Phúc Phỏng vấn

      - Nhã Ca - Trần Dạ Từ Vĩnh Phúc Phỏng vấn

    3. Bài viết về nhà thơ Nhã Ca Bài viết về nhà thơ Trần Dạ Từ Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Trần Yên Hòa hơn 55 năm làm thơ (Thanh Phong)

      - Duềnh Quyên (Trịnh Y Thư)

      - Văn Thơ Giáng Sinh (Nguyễn Mạnh Trinh)

      - Giáo Sư Đặng Ngọc Thiềm (Nguyễn Duy Chính)

      - Thông cáo: Giải Văn Học Phan Thanh Giản

      (Phan Thanh Tâm)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Những bậc Thầy Của Tôi (Xuân Vũ)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Tạp Văn (Nguyễn Kim Phượng)

      - Văn học miền Nam ở hải ngoại (Viên Linh)

      - Văn Học Miền Nam 1954-1975: Nhận Định, Biên Khảo, Thư Tịch (Nguyễn Vy Khanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Vĩnh Phúc,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Cao Tiêu,  Cao Đông Khánh,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Chu Tử,  Diễm Phượng,  Diên Nghị,  Doãn Dân,  Du Tử Lê,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)