Head

 

 

Tuc ngu Viet Nam

WHAT DOES IT MEAN?


   Tre già măng mọc

   Đục nước béo cò

   Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng

   Gà một mẹ đá nhau


:: Tre Già Măng Mọc


In Vietnamese, tre designates any of several species of bamboo that may grow as tall as 30 meters: its hollow, jointed stems, up to a foot in diameter, are used in making fumiture and all types of implements (baskets, coops for chickens and pigs, cooking utensils) and even in building boats or houses.

Bamboo grows from new shoots that sprout from the roots of mature plants: the shoots develop so quickly that, in some cases, a plant is apt to grow 36 inches in 24 hours. Most bamboo plants reach full height within a few months. The tender shoots, called măng, are eaten as vegetables. (The Vietnamese call asparagus măng tây or western shoots'.)

 

Tre già măng mọc: "As bamboos grow old, young shoots spring up."; Contrary to the generation gap cliché in modern English, the Vietnamese proverb stresses continuity between one generation and the next: it implies the hope that the young will carry on to completion what is left unfinished by the old. When a young person dies, the Vietnamese will express grief saying, Tre khóc măng: "The old bamboo mourns the young shoot."

In neutral terms, the proverb may also be quoted to report a changing of the guard: as a person or group exits a new one moves in and takes over.



:: Đục Nước Béo Cò


The English proverbial phrase, to fish in troubled waters, finds its equivalent in this Vietnamese folk saying: Muddy waters, fat herons.

As wading birds, herons () prey on small fishes that teem in the muddy or turbid (đục) waters (nước) of ponds and rice fields.

A confused state of affairs always gives opportunists a chance to make fat profits at the expense of the community.




:: Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng


In Vietnamese, the name trúc refers to a pecies of small, relatively short species of bamboo (as contrasted with the much larger and taller tre).

A bamboo stem has knots or nodes, and each section between two knots is called a đốt or joint. Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng (Even when the bamboo is burned, its straight joints stay straight and true): this proverb portrays an honest person whom neither misfortune nor persecution can divert from what is right. Throughout East Asia, the bamboo symbolizes unswerving devotion to principle.



:: Gà một mẹ đá nhau


Cocks from the same mother fíght each other. This proverb serves as a reminder that fratricidal strife has all too often marked and marred the history of the Vietnamese. The most tragic case was the protracted war between the Trịnh and the Nguyễn. The poet-statesman Nguyễn Trãi (1380-1442) once urged all his compatriots to work together and avoid quarrels either provoked or exacerbated by outsiders:

"A womb's own flesh and bone - strong brotherhood./ From one root spring all branches, north and south./ Chopped off, an arm or leg will not grow back./ Torn up, a shirt or skirt can be replaced./ Learn to give way and yield - all will go well./ Know both when to be hard, when to be soft."



 

 

Tho

 

   
 

  Thơ

 (Vietnamese Poetry translated into English)

 

Đàm Trung Pháp & Viên Linh dịch và chú giải:

 

Vịnh Hai bà Trưng (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)

Ăn Cỗ Đầu Người (Nguyễn Biểu)

Đoạt Sáo Chương Dương Độ (Trần Quang Khải)

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Thề Non Nước (Tản Đà)

Thi Nhiệt (Lý Đông A)

Vịnh Tranh Gà Lợn (Vũ Hoàng Chương)

 

Huỳnh Sanh Thông dịch:

 

Thăng Long (Nguyễn Du)

Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)

Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)

Thăng Long Thành Hoài Cổ

 (Bà Huyện Thanh Quan)

Chiều Hôm Nhớ Nhà (Bà Huyện Thanh Quan)

Lên Đèo Hải Vân (Huỳnh Mẫn Đạt)

Vịnh Bức Dư Đồ Rách (Tản Đà)

Màu Tím Hoa Sim (Hữu Loan)

Nhà tôi (Yên Thao)

Sóng (Xuân Quỳnh)

Hai Sắc Hoa Tigôn (T.T.Kh.)

 

Lê Đình Nhất-Lang & Nguyễn Tiến Văn dịch:

 

Cùng khổ (Bùi Chát)

Hoa sữa (Bùi Chát)

Bài thơ một vần (Bùi Chát)

Đèn đỏ (Bùi Chát)

Ai? (Bùi Chát)

Những người đáng trọng & những kẻ đáng khinh

 (Lý Đợi)

 

Các tác giả khác dịch:

 

Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (Nguyễn Đình Toàn)

 (Do Dinh Tuan dịch)

Bữa Tiệc Hòa Bình (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

Từ Một Cuốn Rún (Nguyễn Thị Thanh Bình)

 (Đinh Từ Bích Thúy dịch)

Vì Người Ta Cần Ánh Mặt Trời (Nguyễn Đắc Kiên)

 (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

 

  Thơ Cổ:

 

Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

Nguyễn Trãi Huyễn-Thực và Sắc-Không

 (GS. Trần Ngọc Ninh)

Quá Phong Khê, Một Bài Thơ Kỳ Tuyệt (Vô Ngã)

Bài Phú Sông Bạch Đằng (Nguyễn Hữu Tiến dịch)

Thơ Phạm Ngũ Lão (Thi Nham dịch)

Thơ Đặng Dung, Thuật Hoài (Trần Trọng Kim dịch)

Thơ Nguyễn Trãi (Giản Chi dịch)

Ngày Xuân Đọc "Đào Hoa Thi" của Nguyễn Trãi

(Trần Uyên Thi)

Thơ Lý Bạch (Đàm Trung Pháp)

Xuân Xưa, Thơ Trước, Hồn Ngàn Mùa (Viên Linh)

Giới thiệu - Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu

 (Trần Từ Mai)

 

  Thơ Tuyển:

 

Hai Chữ Nước Nhà (Trần Tuấn Khải)

Đói (Bàng Bá Lân)

Lời Mẹ Dặn (Phùng Quán)

Nước Tôi (Nguyễn Văn Cổn)

Thơ Tình Ngày Valentine (Nhiều tác giả)

Kỷ Niệm Chiến Thắng Đống Đa (Hoàng Phong Linh)

Thơ và Câu Đối Mừng Xuân (Nhiều tác giả)

Quốc Nam, Quốc Việt (Hồ Bạch Thảo)

Bài Thơ Vô Đề Viết Trong Trại Tù Tập Trung (Tú Kếu)

Thơ Tưởng Niệm Các Anh Hùng Tử Sĩ ở Hoàng Sa (Nhiều tác giả)

Thơ Tiền Chiến (Nhiều tác giả)

Bình Giảng: Đời Đáng Chán và Tống Biệt của Tản Đà (Thạch Trung Giả)

Tây Tiến (Quang Dũng)

Đêm Liên Hoan (Hoàng Cầm)

Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Cao Tiêu)

Biên Cương Hành (Phạm Ngọc Lư)

Thơ Xuân (Nhiều tác giả)

Đồng Lầy (Nguyễn Chí Thiện)

Ta Về (Tô Thùy Yên)

Trường Sa Hành (Tô Thùy Yên)

Kịch thơ: Hận Nam Quan (Hoàng Cầm)

 

  Tục ngữ (Proverbs)

 

Tre già măng mọc

Đục nước béo cò

Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng

Gà một mẹ đá nhau

 

  Danh Ngôn

  Đố vui (Puzzles)

 
 
 
© Hoc Xá 2002

© Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@hotmail.com)