1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      Thư viện Người Việt:
      NAM PHONG
      TRI TÂN
      THANH NGHỊ
      NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
       

       

    2. Thơ Tưởng Niệm Ngày 30 Tháng Tư Năm 1975 (Nhiều Tác Giả)
      29-04-2014 | THƠ

      Thơ Tưởng Niệm Ngày 30 Tháng Tư


      Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Cao Tiêu)

      Văn Chiêu Hồn 30 Tháng Tư (Nguyễn Phú Ninh)     Bài Ca Tháng Tư (Nguyễn Cố Nhân)

      Thơ Tháng Tư (Nguyễn Quan Hà)                                      Nhớ Mãi Tháng Tư 1975 (Ngứa Nhĩ)

      Khắc Cốt Tháng Tư (Trần Nguyên Anh)                    Xin Lỗi Tháng Tư (Bình Ngọc)

      Tưởng Niệm Tướng LÊ VĂN HƯNG và NGUYỄN KHOA NAM (Trần Nguyên Anh)

      Tứ Nguyệt Vọng Điếu NGUYỄN KHOA Tướng Quân (Nguyễn Quan Hà)

      Tưởng Niệm Tướng PHẠM NGỌC SANG (Nguyễn Duy Ân)

      Danh Thơm Ngũ Tướng (Phạm Cây Trâm)               Tự Sỉ (Nguyễn Quan Hà)

      Bài Thơ Không Tựa (Phạm Đức Nhì)                       Cảm Tạ Miền Nam (Phan Huy)

      Nỗi buồn tháng 4 (Huy Uyên)                  Những tháng tư buồn (Nguyễn Thị Hằng)

      Hẹn Anh Một Ngày Tái Ngộ (Ngô Minh Hằng)




      Văn Chiêu Hồn 30 Tháng Tư

       

       NGUYỄN PHÚ NINH

       

      (Trưởng ban Nghi lễ Hội Cao Niên Á Mỹ phụng soạn)

       

      Hỡi linh hồn trận vong chiến sĩ

      Đã hiến dâng cái chết tại sa trưởng

      Nam nhi da ngựa bọc xương

      Tình nhà nghĩa nước một đường vẹn hai.


      Tiếng súng nổ hình hài tan tác

      Những linh hồn lìa xác bơ vơ

      Quẩn quanh bám sát ngọn cở

      Hồn thiêng phiêu bạt chẳng bờ bến đâu.


      Hỡi uổng tử trên đường tỵ nạn

      Lướt phong sương trên biển trên rừng

      Bỏ thây xó núi ven đường

      Nằm trong bụng cá bềnh bồng nổi trôi.


      Hơn hai mươi năm còn hờn quốc hận

      Tháng tư đen oán giận bầm gan

      Chao ơi, nước mất nhà tan

      Gia đình chia rẽ muôn vàn lệ tuôn.


      Hình ảnh ấy gợi buồn tê tái

      Cảnh biệt ly nhớ lại đau lòng

      Người đi kẻ ở vời trông

      Hai bên giới tuyến vợ mong chồng chờ.


      Hương trời đất bàn thờ tưởng niệm

      Xin hồn linh chứng kiến lòng thành

      Về đây cho trọn nghĩa tình

      Quân dân cán chính kết tình đồng hương.


      Làn khói trắng tỏa bay nghi ngút

      Tạo phúc lành tác động muôn phương

      Cùng nhau đoàn kết tình thương

      Một ngày rực rỡ trên đường quê cha.


      Lời ước nguyện thiết tha kêu gọi

      Nhờ ánh trời chiếu rọi nơi đây

      Hoa thơm quả lạ mâm đầy

      Cầu xin chứng giám từ mây hồn về.

      Cẩn Cáo

      (Khởi Hành số 30, Tháng 4.1999)



      Bài Ca Tháng Tư

       

       NGUYỄN CỐ NHÂN

      Bảy lăm vận nước mạt rồi,

      Gà nhà bôi mặt liên-hồi đá nhau

      Sao chẳng biết nghĩ sau suy trước,

      Giặc ngoài sân lại rước vô nhà,

      Để rồi thương mả ông cha,

      Đau con xót vợ hối mà kịp sao!


      Ngoài mặt trận ra vào sanh-tử,

      Người chiến-binh gìn-giữ nước-non,

      Kiên-cường dạ sắt gan son

      Nước đìa gạo sấy vẫn ngon tháng ngày.

      Không kiêng mặn cũng chay mỗi bữa,

      Lương gửi về chưa đủ nuôi con,

      Thôi thì củ đắng lá non,

      Cha ăn chắc bụng sớm còn tiến quân.


      Cũng lắm lúc vừa ăn vừa chạy,

      Biết bao lần đêm dậy vượt sông,

      Lệnh trên truy-kích, tấn công,

      Mạng chưa chắc giữ miếng ăn dám nài.

      Tối đi ngủ biết mai có dậy,

      Qua đêm nay còn thấy mặt trời?

      Pháo thù chụp xuống khơi-khơi,

      Đá còn nát bụi thân người cứng sao!

      Sáng chốt địch Chu-Pao vừa bứng,

      Chiều đã về cứu Tống-lê-chân,

      Tử sinh qua lại mấy lần

      Sức thù khôn cản bước chân anh hùng.


      Ham muốn cũ cũng đành gạt bỏ,

      Mong hậu phương con vợ yên-vui.

      Tiếc thân mà giận cho đời,

      Máu xương ngăn giặc

      để người múa may!


      Chốn hậu-phương hết Thày đến Cố,

      Cộng một bầy ăn có theo đuôi,

      Nhân danh nào đạo nào đời,

      Nào kêu ngôn-luận nào đòi tự-do.

      Đứa trùm chăn nằm co bỗng dậy,

      Đứa câm mồm lại thấy bi-bô,

      Đứa đạo-sĩ đứa ni cô,

      Thừa cơ nước đục tha-hồ thả câu.


      Vừa chặn vãi ở đâu Bình Triệu,

      Lại Bến-Thành nghêu-nghểu quạ ra,

      Có thanh-niên có đàn-bà,

      Có áo vàng có áo dà áo đen

      Có một lũ ăn xin bị gậy,

      Miệng chửi thề trán nhẫy mồ-hôi,

      Có Cầu Ông Lãnh góp lời,

      Vỗ mông vỗ háng chửi người be-be.

      Quý lãnh-đạo cười toe cười toét:

      "Thiệu phen này phải chết với ông!"


      Hỡi ôi! nếu chẳng phải khùng,

      Thì quân Việt-Cộng nằm vùng chẳng sai

      Lòng dân nản giặc ngoài thốc đánh,

      Thế nguy này tài thánh cũng thua.


      Hay là quỷ kế bạn xưa

      Tao đâu phản bạn mày thua tại mày?!


      (Khởi Hành 78, Tháng 4.2003)



      Thơ Tháng Tư

       

       NGUYỄN QUAN HÀ

      Thơ viết Tháng Tư mãi cứ buồn,

      Lần lần cất bút nét sầu vương.

      Chìm gươm gẫy súng đau khôn kể,

      Mất nước tan quân hận chẳng lường.

      Rời-rã tiếng cu tê đất khách,

      Lẻ-loi giọng Việt chạnh* quê-hương.

      Lòng ai đòi-đoạn ai chia-sẻ,

      Năm tháng ngày đêm ngợp chán-chường!

      03.06.12

      * ca dao:

      1. Chạnh thương chạnh nhớ chạnh sầu

      Vì ai nên nỗi cho trầu xa cau.

      2. Đêm nằm nghe vạc trở canh

      Nỗi lòng chạnh tưởng đến anh mà buồn.

      Khởi Hành số 186, Tháng 4.2012




      Nhớ Mãi Tháng Tư 1975

       

       NGỨA NHĨ


      I.

      Tháng Tư năm ấy đến năm này,

      Hai-bảy năm rồi - Bao đắng cay

      Nhớ lại vẫn còn đau đứt ruột

      Muốn quên, chẳng được, phải cau mày.

      Đầy đường súng đạn quăng như củi,

      Khắp nẻo người dân ngó tợ cây.

      Chết lịm nhìn nhau không khóc nổi,

      Đất trời mờ mịt khói tàu-bay.


      II.

      Như thế là xong một vở tuồng,

      Tương tàn Huynh Đệ chất đầy xương.

      Sông kia uất hận giòng ô-nhục,

      Núi nọ kêu gào - Ai bá vương?

      Hà-Nội ăn mừng dân khốn khổ

      Sài Gòn nuốt tủi nước tang thương

      Kìn kìn di-tản, tàu đen biển,

      Tướng bại, quân tàn giạt bốn phương.


      III.

      Nay đã nguôi-ngoai, túi nặng đô

      Trở về... góp vốn, Cộng hoan hô

      "Việt Kiều yêu nước", nghe xoang-xoảng,

      "Cách mạng vì dân", khéo phỉnh phờ

      "Chống Mỹ" van-nài xin Mỹ bỏ...!(*)

      "Đánh Tây", lạy lục cõng Tây thờ...!

      Miệng hùm, nọc rắn đầy nham hiểm

      Cảnh giác đừng quên Ngày Tháng Tư.

      (*) xin bỏ "cấm vận"


      Ai quên? Ai nhớ? Tháng Tư?


      I.

      Ai quên? Ai nhớ? Tháng Tư Tây?

      Năm ấy Miền Nam tớ bỏ Thầy

      Nhốn nháo Sài gòn ong vỡ tổ!

      Kinh hoàng Gia định khỉ rung cây!

      "Sao vàng" xiết cổ người vô tội!

      "Cờ đỏ" vô nhà chó chết lây!

      Cột điện vô-tri không biết chạy

      Nên đành ngơ ngác đứng trơ dây.


      II.

      Trời Đất chung quanh chẳng thấy gì,

      Một màu tang tóc nói năng chi?

      Đầy đường súng vứt - Đời vinh nhục,

      Khắp phố tăng càn - Kiếp thảm thê.

      Nón cối nghênh ngang kêu mở cửa! (*)

      Cán nô vênh váo bước qua lề.

      Bấm tay thấp thoáng Xuân Thu đã,

      Hai bảy năm rồi - dạ tái tê!


      III.

      Tái-tê không phải bị thua đau?

      Mà bởi quân Hồ mưu chúng sâu.

      Chiếm được Miền Nam vơ vét của,

      Để đem về Bắc trả Nga-Tàu

      Nợ bom, nợ đạn vay bằng máu,

      Nợ nhớt, nợ xăng ngập lút đầu

      Bắt đám dân đen làm mệt nghỉ,

      "Thiên Đàng" hai chữ - đống phân trâu!

      3.2002

      (*) Kêu mở cửa: CS viết báo, sách,sử, rêu rao "đại quân giải phóng tiến vào Sài gòn được dân chúng tưng bừng đón tiếp! Thực tế kẻ ngu này là một trong hàng triệu dân Sài gòn lúc đó khi nghe tin quân giải phóng đã vào đến Ngã tư Hàng Xanh, Bảy Hiền, Ngã năm Chuồng Chó thì nhà nhà đóng cửa, phố xá vắng tanh, cán bộ CS phải tới từng nhà bắt mở cửa đón chúng. Sự thật là thế.

      (Khởi Hành 66, Tháng 4.2002)



      Khắc Cốt Tháng Tư

       

       TRẦN NGUYÊN ANH

      Ba mươi năm trước Tháng Tư sầu,

      Ta mất Sài Gòn quá đớn đau!

      Giận lão to đầu cam chịu nhục?

      Hận phường phản chủ muốn đào sâu.

      Bỏ cha, lìa mẹ, người theo Cộng,

      Góc biển, chân mây, kẻ xuống tàu.

      Phiêu giạt xứ người ôm hận tủi,

      Ngàn năm vong quốc, "quốc" kêu thâu!

      Surrey, Canada

      (Khởi Hành 115, Tháng 5.2006)



      Xin Lỗi Tháng Tư

       

       BÌNH NGỌC

      Thời trai trẻ, gác bút nghiên, gác mọi ước mơ ...lên đường "đánh Mỹ!"

      Cây súng trên vai, máu đỏ trong tim!

      Mụ lí trí! Hùng hục vượt Trường Sơn.

      Đêm nghỉ, ngày đi, giày vẹt gót, áo sờn vai thấm lạnh!

      Mẹ còng lưng vắt kiệt sức, mỏi mòn, thao thức đợi con về!

      "Ba mươi tháng Tư": Bên Thắng cuộc, hả hê!!!

      Con trở thành kẻ "kiêu binh!" trong đoàn "quân Giải phóng!"


      Nhưng! Ba mươi tám năm sau con vô cùng thất vọng!

      Không hiểu mình đi Giải phóng cho ai???

      Chễm chệ trên cao, toàn những kẻ bất tài!

      Đáy xã hội, nhiều "dân oan!" mất đất.

      Những nghịch lý, tai ương... chồng chất!

      Khoảng cách "sang, hèn" cứ rộng mãi ra.

      Người ở "quê" không còn tha thiết với "ao nhà".

      Tràn vào Miền Nam "ngoạ, chiếm, xâm canh... từ núi, rừng, chợ búa, thị thành, lầu cao, gác tía...!"


      Ngay như nhà ta thôi!

      Chỉ có mình tôi "gọi là: góp công giải phóng".

      Chẳng tước quan gì! Mà cũng cả xóm kéo vào.

      Người thì bán rau, lượm ve chai, giặt ủi, bán thịt chó, thuốc Lào...

      Thậm Chí có cả lừa gạt, bảo kê, hút chích, đĩ điếm, bụi đời...

      Đi đâu, ở đâu cũng gặp toàn người "ngoài ấy".

      Còn đố ai tìm thấy bóng dáng người "miền trỏng!" hiện diện trên quê hương mình đấy?

      Nhà cửa, ruộng vườn ngoài ấy họ bỏ hoang ???

      Quê Hương tôi, tên thật đẹp (làng Vàng).

      Cũng có đình, chùa, bờ xôi, ruộng mật!

      Không hiểu vì sao nhiều người "bỏ tất?" để vào Nam chen lấn, đua đòi?


      Riêng tôi

      Đã hơn sáu mươi năm, đang ở cuối cuộc đời.

      Vẫn cháy bỏng! Muốn được về nơi mình "chôn nhau, cất rốn!"

      Đã mấy năm nay, tôi đã làm kẻ "chạy trốn!"

      Trốn khỏi "sai lầm!" những năm, tháng... đã đi qua!

      Trở về quê hương, cất lại một nếp nhà!

      Tập làm nông, ngớ ngẩn tìm những mảnh gốm xưa, và "Hoài niệm!" thuở ấu thơ...

      Bỗng choàng tỉnh! Đôi khi tìm thấy mình trong đó.

      Cửa, cổng nhà tôi cứ mở toang! Kể cả khi trời đang nổi giông, nổi gió...

      Mỗi tháng Tư về tôi lại nhớ vào Nam!

      Xin lỗi! "tháng Tư!"

      Xin lỗi! Miền Nam, những việc tôi đã làm!

      Xin lỗi tất cả!

      Cả những người "bên thua cuộc!"


      Biết sao được !

      Mọi người chúng ta sinh ra, đâu có thể chọn được thời cuộc

      Nhưng: Lẽ đời, Đen, trắng phải phân minh!

      Xin lỗi! "Tháng Tư!"

      Hãy tha thứ cho mình! Rất chân thành, chứ không phải lời giả dối.

      (Nguồn: internet)



      Tưởng Niệm Tướng LÊ VĂN HƯNG và NGUYỄN KHOA NAM

       

       TRẦN NGUYÊN ANH

      I.


        Tướng Lê Văn Hưng

      Một thời An-Lộc nổi danh ông

      Chống cộng kiên cường một tiếng: Không!

      Không: Sợ Hy sinh vì giặc mạnh

      Không: Hề hèn nhát trước thù đông

      Không: Hàng - thà chết trong Danh Dự

      Không: Sống như thừa với Núi sông.

      Quyết lấy máu tô bờ cõi Việt

      Ngàn năm sử-sách sáng tên ông.


      II.

      Nguyễn Khoa Nam! Nguyễn Khoa Nam!

      Làm Tướng như Ông thật mới làm

      Giặc ép ra hàng - Thôi! Tự xử

      Thù chưa trả được - Sống? Không ham

      Hồn theo sông núi đành ân hận

      Xác trả sơn hà chết cũng cam

      Như Cụ Phan xưa liều tuẫn-tiết

      Sáng ngời sĩ khí Đất phương Nam.

      Canada, 3.2002

      (Khởi Hành 66, Tháng 4.2002)



      Tứ Nguyệt Vọng Điếu Nguyễn Khoa Tướng Quân

       

       NGUYỄN QUAN HÀ


        Tướng Nguyễn Khoa Nam

      Y hi đại chí công vô đạt,

      Tuẫn quốc anh hùng bất tích thân.

      Bi Trường Sơn thạch tồn công nghiệp,

      Lệ Hậu Giang ba vĩnh khấp quân.


      Bản dịch nôm:


      Tháng Tư Khóc Vọng Tướng Nguyễn Khoa Nam


      Chí lớn Tướng-quân thôi chẳng đạt,

      Anh-hùng theo nước tiếc gì thân.

      Đá Trường-Sơn nọ ghi công-nghiệp,

      Sóng Hậu-Giang kia mãi khóc ông.

      (Khởi Hành 115, Tháng 5.2006)



      Tưởng Niệm Tướng PHẠM NGỌC SANG

       

       NGUYỄN DUY ÂN


        Tướng Phạm Ngọc Sang


      (Người thề quyết trụ Phan Rang
      Thành nguy cố giữ không hàng chẳng lui)

      Lý tưởng vì dân trọn nghĩa tình

      Tận trung báo quốc buổi điêu linh

      Kiên gan chiến đấu trong nguy biến

      Tiết tháo không phai giữa ngục hình

      Tướng chết theo thành là hiển hách

      Tướng tù với lính đáng tôn vinh

      Sáng ngời tên tuổi, dù thua bại

      Bán nước, quân Hồ thắng cũng khinh.


      (Khởi Hành 78, Tháng 4.2003)



      Danh Thơm Ngũ Tướng

       

       PHẠM CÂY TRÂM

      Thơ làm dịp Ba Mươi Tháng Tư 2007 đế tưởng nhớ các tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Phạm văn Phú, Lê Văn Hưng, và Trần Văn Hai đã vị quốc vong thân trên ba mươi năm trước. Có lẽ trong Thế kỷ Hai Mươi không có một nước nào, - lại là một nước nhỏ bé như Việt Nam Cộng Hoà - có nhiều vị tướng tuẫn tiết như thế khi chính khí tan vỡ. Thành mất, tướng tuẩn tiết tưởng như là một truyền thống trong anh hùng ca thiên cổ, lại xảy ra tại Miền Nam Việt Nam cách đây không lâu. Hay thực ra, chuyện ấy, đã là chuyện thần thoại rồi? Trước đó khá lâu và từ sau 1975 cho tới bây giờ, có bao nhiêu tướng quân mất thành mà chết theo thành, trên thế giới? Hình như là không thấy một ai...

      Cảm ơn nhà thơ họ Phạm đã cảm tác những bài thơ chính khí cho trang sử miền Nam thêm rạng rỡ, một trang sử mà không những tướng chết theo thành, còn cả những cấp nhỏ hơn cũng đã tự xử một cách hào hùng, xứng danh tuấn kiệt. [Ghi nhận của Viên Linh.]


      Xả thân vị quốc nợ đền xong

      Năm tướng hào quang tỏa núi sông.

      NAM, VỸ anh hùng thời vận mạt

      PHÚ, HƯNG hào kiệt tấm lòng son.

      Tướng HAI gương sáng trang hùng sử

      Nước Việt hồn thiêng giống Lạc Hồng.

      Quốc sử nghìn thu danh rạng rỡ

      Muôn đời tưởng niệm ý dân mong.


      TƯỚNG NGUYỄN KHOA NAM


      Không đội trời chung Cọng sói lang

      Khoa Nam danh tướng chẳng qui hàng

      Ung dung tự sát tròn danh tiết

      Uy dũng nêu gương đẹp sử vàng.

      Hào kiệt khí thiêng - tâm diệt giặc

      Anh hùng truyền thống - chí trừ gian

      Sáng ngời vị quốc lòng trung nghĩa

      Bia tạc nghìn thu toả ánh quang.


      TƯỚNG Lê VĂN HƯNG


      Một thời An Lộc nổi danh trai

      Làm tướng như ông quả tướng tài

      Chống giặc kiên cường luôn thế thắng

      Giữ thành vững chắc chẳng ly sai.

      Bỗng dưng bỏ cuộc - đồng minh phản

      Rồi chốc hàng tan - hoạ hại dài

      Quê phố hoang mang đành nước mất

      Theo thành tuẫn tiết chết vinh ai.


        Tướng Phạm Văn Phú


      TƯỚNG PHẠM VĂN PHÚ


      Vì nước vì dân trọng nghĩa tình

      Hận lòng phản bội (bạn đồng minh?)

      Cao nguyên triệt thoái tan cơ nghiệp

      Làng phố đau thương thẹn phận mình.

      Thành mất sống thêm nhơ đất nước

      Nhà tan tuẫn tiết rạng tiên linh

      Một liều độc dược an phần số

      Dũng tướng lưu danh nước hiển vinh.


      TƯỚNG LÊ NGUYÊN VỸ


        Tướng Lê Nguyên Vỹ


      Sinh vi danh tướng, tử vi thần

      Quả thực phi thường, Vỹ tướng quân

      Tự sát tôn vinh lòng ái quốc

      Xả thân trách nhiệm nghĩa quân dân.

      Một thời chinh chiến không thua trận

      Muôn thủa tâm hùng chẳng tiếc thân

      Đất nước vẻ vang đời dũng tướng

      Anh hùng trang sử mãi thơm danh.


      TƯỚNG TRẦN VĂN HAI



        Tướng Trần Văn Hai

      Tư lệnh sư đoàn bảy bộ binh

      Vang danh bắn tướng Cọng hy sinh

      Giữ tròn danh tiết không thua chạy

      Tỏ sáng hùng tâm chẳng nể kinh

      Một dạ xả thân vì đất nước

      Trọn đời trách nhiệm với dân sinh

      Sáng ngời sĩ khí non sông Việt

      Vạn thuở anh hùng rạng sử xanh.

      Texas, 2007

      (Khởi Hành 126, Tháng 4.2007)


      Tự Sỉ

       

       NGUYỄN QUAN HÀ

      Thương mình ấu trĩ bấy lâu nay,

      Cứ tưởng anh hùng cứ tưởng hay.

      Bất-trí nghe người nên mất nước,

      Ngây-thơ tin giặc hóa sa lầy.

      Chiến-trường đã tiếc thân cơm-áo,

      Tù-ngục còn than kiếp đọa-đầy!

      Kìa Cẩn Hưng Nam kìa Vỹ Phú

      Oanh-oanh liệt-liệt đáng râu mày.

      (Khởi Hành 115, Tháng 5.2006)



      Bài Thơ Không Tựa

       

       PHẠM ĐỨC NHÌ

      Tự do như muối

      Hạnh phúc như đường

      Khi còn đang ăn đủ miếng ngọt miếng ngon

      Khó thấy giá trị của hạt đường hạt muối


      tôi sống ở miền Nam

      nhìn dòng đời trôi nổi

      nở lại tàn

      bao nhiêu mùa hoa

      hai nền Cộng Hòa

      một cuộc chiến tranh dài đẫm máu

      tôi đã dốc lòng chiến đấu

      bảo vệ tự do

      dưới lá cờ

      nền vàng ba sọc đỏ


      tiếc thay trong đội ngũ

      chúng tôi có ít những Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam

      mà lại khá nhiều Nguyễn Vĩnh Nghi, Nguyễn Văn Toàn

      nên lính mất niềm tin

      dân chán nản

      những kẻ có lòng

      lắc đầu ngao ngán

      rồi nước Mỹ đồng minh, xưa là bạn

      nay trở mặt lọc lừa

      quên lời hứa năm xưa

      bỏ mặc “tiền đồn của thế giới tự do“

      thất thủ


      kẻ thù đưa tôi lưu đày biệt xứ

      rồi khua chiêng gióng trống ăn mừng

      đám trí thức, sinh viên, học sinh

      xưa trốn vô bưng

      mơ một thiên đường trên trái đất

      nay ngồi trên khán đài nghếch mặt

      “Thiên đường đang ở trong tầm tay“

      Má Hai

      xưa đào hầm nuôi cán bộ

      nay hớn hở

      “Tụi nó dzià mình chắc có tương lai“

      bà Tám con chết trận Đồng Xoài

      hãnh diện lãnh bằng gia đình liệt sĩ

      những nhà văn, nhà thơ, xưa chống “cuộc chiến tranh phi lý“

      (đâm sau lưng người lính Cộng Hòa)

      nay chìa bút ra

      xin viết bài ngợi ca chế độ mới

      đám thanh niên xưa trốn chui trốn nhủi

      ở hậu phương

      xanh mặt khi nghe nhắc tới chiến trường

      nay tự nhận đã yêu thầm cách mạng

      những người dân bình thường

      xưa gặp lính khi ghét khi thương

      lúc buồn ngồi chửi đổng

      “Tao chửi cả thằng Tổng Thống

      xá gì lính tráng tụi bay“

      nay cũng ngập ngừng vỗ tay

      nhưng mắt nhìn quanh lấm lét

      họ chưa có câu trả lời dứt khoát

      muốn đợi một thời gian


      sau vài năm

      cuộc hôn nhân qua tuần trăng mật

      đã đầy nước mắt

      và những tiếng nấc nghẹn ngào

      đám trí thức vô bưng năm nào

      tức giận thấy mình bị bội phản

      buông lời phản kháng

      kẻ vô khám Chí Hòa

      người bị quản thúc tại gia

      đưổi gà cho vợ

      thiên đường ước mơ sụp đổ


      má Hai

      đã quen dần với bo bo, với sắn với khoai

      như người dân miền Bắc

      những cán bộ xưa má nuôi trong hầm bí mật

      đã ra lệnh bắt má mấy lần

      má không đủ ăn

      lấy đâu đóng thuế


      bà Tám ôm tấm bằng Gia Đình Liệt Sĩ

      bụng đói meo

      làng trên xóm dưới ai cũng nghèo

      tình người hiếm hơn hồi đó

      bà ra mộ con ngồi nhổ cỏ

      khóc thầm


      những văn nhân

      một thời phản chiến

      “ngộ biến tòng quyền“

      cố bẻ cong ngòi bút

      nhưng với văn thơ, với nhạc

      quen phóng túng tự do

      sao chịu nổi gông xiềng

      lại tiếc những ngày trời rộng thênh thang

      múa bút


      đám thanh niên hèn, khoác lác

      tưởng được chế độ mới tin dùng

      bị đi lao động quốc phòng

      thanh niên xung phong

      làm việc không công nơi rừng sâu nước độc

      cháy da vàng mắt

      đói lòng


      những người dân

      xưa chửi vung chửi vít

      nay im thin thít

      chẳng dám hé môi

      một số kẻ lỡ lời

      bị đi “tù không án“

      khi cán bộ xưng tụng bác Hồ, ca ngợi Đảng

      họ cao giọng hoan hô

      vỗ tay thật to

      nhưng bụng thầm ao ước được sống lại những ngày xưa cũ


      sau ba mươi tháng tư, đớn đau tủi hổ

      là gia đình người lính Cộng Hòa

      kẻ bị cướp nhà

      người bị cướp đất

      con bị đuổi học

      vợ mất sở làm

      chồng đi tù biệt tăm

      đi họp, cán bộ Cộng Sản mỉa mai nhiếc móc

      ra đường bị lườm dọc nguýt ngang


      đến khi ruộng vô tập đoàn

      gạo vải sữa đường bán theo tiêu chuẩn

      nhà máy công ty hãng xưởng

      trở thành quốc doanh

      công an khu vực đầy quyền hành

      thực thi chính sách nhân hộ khẩu

      người dân chịu đời không thấu

      mà chẳng dám than vãn kêu ca

      bấy giờ gia đình người lính Cộng Hòa

      mới nhận được những tia nhìn thiện cảm

      nghĩ đến con, đến chồng, đến cha

      trong nhà tù Cộng Sản

      họ hãnh diện ngẩng đầu


      hôm nay giữa trời cao

      được thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ

      phất phới bay trong gió

      tôi muốn khóc thật to

      tôi muốn hét lên

      “Đây hạnh phúc! Đây tự do!“

      Mà thuở nào tôi đã buông tay đánh mất

      để phải chôn tháng năm tươi đẹp nhất

      của cuộc đời

      trong các trại tù rải rác khắp nơi

      trên đất nước

      họ hàng tôi, đồng bào tôi

      những ai không đi được

      mấy chục năm trường

      gánh chịu đau thương

      uất hận tủi hờn

      nhìn quê hương tan nát

      mẹ Việt Nam ơi! Những đứa con lưu lạc

      đã nhận rõ lỗi lầm

      đang đấu tranh âm thầm

      cho một ngày quang phục


      sẽ còn nhiều khó nhọc

      để dành lại giang san

      từ tay bọn Cộng Sản tham tàn

      nhưng kìa! Phất phới bay trong gió

      vẫn như ngày nào

      lá cờ vàng ba sọc đỏ

      mà sao hôm nay chính nghĩa sáng ngời

      chẳng cần một lời luận bàn lý giải


      tôi đứng lặng nhìn, lòng khoan khoái

      lá cờ vẫn còn đây

      thì quê hương ơi! Sẽ có một ngày.

      Viết tại San Leon sau một lần dự lễ dựng kỳ đài tại Houston.

      Nguồn: Internet



      Cảm Tạ Miền Nam

       

       PHAN HUY

      Đã từ lâu, tôi có điều muốn nói

      Với Miền Nam, miền đất mới thân quen

      Một lời cảm ơn tha thiết chân tình

      Của Miền Bắc, xứ ngàn năm văn vật.


      Tôi còn nhớ sau cái ngày “thống nhất”

      Tôi đã vào một xứ sở thần tiên

      Nếp sống văn minh, dân khí dịu hiền

      Cơm áo no lành, con người hạnh phúc.

      Tôi đã ngạc nhiên với lòng thán phục

      Mở mắt to nhìn nửa nước anh em

      Mà đảng bảo là bị lũ nguỵ quyền

      Áp bức, đoạ đày, đói ăn, khát uống.

      Trước mắt tôi, một Miền Nam sinh động

      Đất nước con người dân chủ tự do

      Tôi đã khóc ròng đứng giữa thủ đô

      Giận đảng giận đoàn bao năm phỉnh gạt.

      Sinh ra lớn lên sau bức màn sắt.


      Tôi chẳng biết gì ngoài bác, đảng “kính yêu”

      Xã hội sơ khai, tẩy não, một chiều

      Con người nói năng như là chim vẹt.

      Mở miệng ra là: “Nhờ ơn bác đảng

      Chế độ ta ưu việt nhất hành tinh.

      Đuốc soi đường chủ nghĩa Mac Lenin

      Tiến nhanh tiến mạnh lên thiên đường vô sản.”


      Hai mươi mốt năm trên đường cách mạng

      Xã hội thụt lùi người kéo thay trâu

      Cuộc sống xuống thang tính bằng tem phiếu

      Nhân phẩm con người chẳng khác bèo dâu.

      Cảm tạ Miền Nam phá màn u tối

      Để tôi được nhìn ánh sáng văn minh

      Biết được nhân quyền, tự do dân chủ

      Mà đảng từ lâu bưng bít dân mình.


      Cảm tạ Miền Nam khai đường chỉ lối

      Đưa tôi trở về tổ quốc thiêng liêng

      Của Hùng Vương, quốc tổ giống Rồng Tiên

      Chớ không là Cac Mac và Le nin ngoại tộc.

      Cảm tạ Miền nam mở lòng khai sáng

      Đưa tôi hội nhập cùng thế giới năm châu

      Mà trước đây tôi có biết gì đâu

      Ngoài Trung quốc và Liên xô đại vĩ

      Cảm tạ Miền Nam đã một thời làm chiến sĩ

      Chống lại Cộng nô cuồng vọng xâm lăng

      Hầu giúp cả nước thoát bầy ác quỷ

      Dù không thành công cũng đã thành nhân.

      Phan Huy, Hanoi

      (Nguồn: vietthuc.org)



      Nỗi buồn tháng 4

       

       HUY UYÊN


      Đóng cửa nỗi buồn tháng 4 trong tim

      Bốn mươi hai năm xót đau Tổ-Quốc

      Mới ngày nào lăn trào nước mắt

      Sông suối quê-hương xiết chảy tuôn.


      Mới tháng 4 năm 75

      Mặt người bôi tro quỉ dữ

      Đốt cháy quê làng xóm chợ

      Đạn bom, mìn súng lọc lừa.


      Bầu trời xám, cờ màu đỏ bay cao

      Từ đây chôn triệu người miền Nam khốn khổ

      Thây người biển đông chìm xác

      Những thân còm đói ốm lầm than.


      Bỏ lại nỗi buồn Việt-Nam

      Lất lây biển rừng, đầu đường xó chợ

      Triệu ngã ba, ngã tư đứng ngó

      Linh-hồn mang vết sẹo suốt đời.


      Đã câm nín ngày đó tháng 4

      Ngửa mặt nhìn trời la thét

      Quê hương ngập chìm cùng cực

      Một bầy người đã hóa kiếp thây ma.


      Tháng 4 không cửa không nhà

      Ngọn đèn mù cạn dầu tăm tối

      Trùng dương bao vây bốn lối

      Thôi đâu trời thấy ánh sao sa.


      Lặng thầm làm đám giỗ tháng 4

      Lấp đầy nghĩa-trang trăm ngàn thây xác …


      (tháng 4-1975/4-2017)

      (Nguồn: sangtao.org)



      Những tháng tư buồn

       

       NGUYỄN THỊ HẰNG


      sao là tháng tư hỡi em

      ngày anh chạm vào những thiên đường mù

      không lối thoát

      ngày anh đành làm người thua cuộc

      đi trong đất nước mình

      mà lạ lẫm những bước chân


      sao là tháng tư vong thân

      anh mang ba lô biến thành người cải tạo

      những người tù không số

      què quặt ngồi nhìn mình

      sau hàng rào kẽm gai


      sao là tháng tư không có ngày mai

      chiều anh chôn xác tù xấu số

      để rồi lòng tự hỏi

      bao giờ đây

      bao giờ đây sẽ đến lượt mình


      sao là tháng tư lênh đênh

      sáng mót củ khoai

      chiều bắt từng con cóc nhái

      đêm nằm không ngủ được vì bụng đói

      chút nhân phẩm cuối cùng đành đổi miếng ăn


      ôi những tháng tư buồn tênh

      từng đứa bạn nghe tin

      vợ bỏ đi lấy chồng xứ khác

      mà không trách người ta yêu bội bạc

      nỗi sợ nào bằng nỗi sợ cô đơn


      những tháng tư hờn căm

      trên mặt người biến sắc

      từng chiếc tàu ra đi rồi biến mất

      xác rã nằm giữa biển cả mênh mông


      những tháng tư ngủ đông

      đến bao giờ mới tỉnh

      đến bao giờ dân ta cùng nắm tay lên tiếng

      đòi tự do cơm áo hòa bình…


      đến bao giờ đất nước mới hồi sinh…

      tháng 4/2017

      Nguồn: sangtao.org



      Hẹn Anh Một Ngày Tái Ngộ

       

       NGÔ MINH HẰNG


      (Tháng Tư, Ðể nhớ về bức tượng THƯƠNG TIẾC như một lời tạ ơn,
      kinh dâng các Anh Linh Tử Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.)

      Gặp anh trong chiều tiễn biệt

      Dáng anh lặng lẽ trầm tư

      Anh ơi, anh từ chiến tuyến

      Về đây ngồi tự bao giờ???


      Anh từ điạ đầu Bến Hải

      Khe Sanh, An Lộc, Hạ Lào?

      Pleiku, Tam Biên, Darlac?

      Đông Hà, Quảng Trị? Chu Pao??


      Hay từ Cà Mau, Đồng Tháp

      Định Tường, Cái Nước, Năm Căn?

      Hoàng Sa? U Minh? Rừng Sát?

      Súng rơi giữa cuộc quân hành?


      Anh về từ đâu chăng nữa

      Cũng hồn trong mạch non sông

      Anh về bao giờ chăng nữa

      Cũng thân đẵm máu Lạc Hồng!!!


      Tôi biết anh vì lý tưởng

      Hào hùng, chiến trận xông pha

      Chẳng mơ công hầu, khanh tướng

      Chỉ mong mạnh nước, an nhà!


      Anh đi vì yêu sông núi

      Yêu đời Hải, Lục, Không Quân

      Mong ngày ba miền vào hội

      Mừng nhau quét sạch vô thần


      Anh tự bao giờ, trầm lặng

      Ngồi đây thương bạn, nhớ rừng?

      Súng nằm ngang đùi, sưởi nắng

      Ba lô thiếp ngủ triền lưng!


      Mắt anh, dòng sông suy tưởng

      Dưới vành nón sắt, xa xăm

      Là anh ??? Anh là pho tượng???

      Cho đời ngưỡng phục ngàn năm!


      Cho đời vô cùng thương tiếc

      Tinh hoa nòi giống Lạc Hồng

      Tóc vừa xanh màu mây biếc

      Mà hồn đã núi, đã sông!


      Mà hồn hòa trong nhịp thở

      Biển, rừng, hoa, lá, cỏ, cây

      Ơn anh, sơn hà ghi nhớ

      Thương anh mắt lệ vơi đầy!


      Gặp anh chiều xưa tiễn biệt

      Rồi xa, trăm nhánh sông đời

      Quê hương, một ngày giặc chiếm

      Và anh ngã xuống....Than ơi!!!


      Người ta trả thù hèn hạ

      Cả ngay bức tượng nữa sao?

      Nghe tin, tôi đau đớn quá!

      Thương anh khôn xiết nghẹn ngào!!!


      Thế rồi một chiều bụi đỏ

      Tìm anh, tôi đến chốn xưa

      Anh ơi, chỉ còn đổ vỡ

      Hoang tàn theo với nắng mưa...


      Hỡi anh, những hồn Anh Kiệt!

      Một đời tận hiến non sông

      Hẳn nghe Bình Than hội kiến

      Hẳn nghe trống giục Diên Hồng???


      Hẹn anh một ngày tái ngộ

      Là ngày quang phục quê ta

      Có anh ngồi trên nền cũ

      Có tôi dâng một vòng hoa.


      Nguồn: thongominhhang1.blogspot.com



    3. Tho

       

       

        Thơ:

       

      Những Dời Đổi Địa Hình và Mối Hoài Cảm Thi Ca (Trần Văn Nam)

      Đất Nước Của Ma Quỷ (Bùi Chí Vinh)

      Thời Đại Tôi Đang Sống (Nguyễn Thị Thanh Yến)

      Bài thơ độc vận “ơ” làm trong men rượu say (Trần Thoại Nguyên)

      Đất nước mình ngộ quá phải không anh (Trần Thị Lam)

      Những đôi mắt ngủ quên (Trương Đình Phượng)

      Con đường mới | Mở cửa (Trương Đình Phượng)

      Mưa lạnh trên đèo (Xuân Thao)

      Ân Tình Mẹ (Trần Kiêm Đoàn)

      Mùa Xuân Và Linh Hồn Mới (Trần Mộng Tú)

       

        Thơ Dịch:

       (Vietnamese Poetry translated into English)

       

      Đàm Trung Pháp & Viên Linh dịch và chú giải:

       

      Vịnh Hai bà Trưng (Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập)

      Ăn Cỗ Đầu Người (Nguyễn Biểu)

      Đoạt Sáo Chương Dương Độ (Trần Quang Khải)

      Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

      Thề Non Nước (Tản Đà)

      Thi Nhiệt (Lý Đông A)

      Vịnh Tranh Gà Lợn (Vũ Hoàng Chương)

       

      Huỳnh Sanh Thông dịch:

       

      Thăng Long (Nguyễn Du)

      Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du)

      Hồ Hoàn Kiếm (Vô Danh)

      Thăng Long Thành Hoài Cổ

       (Bà Huyện Thanh Quan)

      Chiều Hôm Nhớ Nhà (Bà Huyện Thanh Quan)

      Lên Đèo Hải Vân (Huỳnh Mẫn Đạt)

      Vịnh Bức Dư Đồ Rách (Tản Đà)

      Màu Tím Hoa Sim (Hữu Loan)

      Nhà tôi (Yên Thao)

      Sóng (Xuân Quỳnh)

      Hai Sắc Hoa Tigôn (T.T.Kh.)

       

      Lê Đình Nhất-Lang & Nguyễn Tiến Văn dịch:

       

      Cùng khổ (Bùi Chát)

      Hoa sữa (Bùi Chát)

      Bài thơ một vần (Bùi Chát)

      Đèn đỏ (Bùi Chát)

      Ai? (Bùi Chát)

      Những người đáng trọng & những kẻ đáng khinh

       (Lý Đợi)

       

      Các tác giả khác dịch:

       

      Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi (Nguyễn Đình Toàn)

       (Do Dinh Tuan dịch)

      Bữa Tiệc Hòa Bình (Nguyễn Thị Thanh Bình)

       (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

      Từ Một Cuốn Rún (Nguyễn Thị Thanh Bình)

       (Đinh Từ Bích Thúy dịch)

      Vì Người Ta Cần Ánh Mặt Trời (Nguyễn Đắc Kiên)

       (Nguyễn Ngọc Bích dịch)

       

        Thơ Cổ:

       

      Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào? (Trần Từ Mai)

      Đọc lại một số thi phẩm của Phan Châu Trinh (Phan Thành Khương)

      Nhất Chi Mai - Chất Người Muôn Thuở (Phan Trang Hy)

      Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt)

      Nguyễn Trãi Huyễn-Thực và Sắc-Không (Trần Ngọc Ninh)

      Quá Phong Khê, Một Bài Thơ Kỳ Tuyệt (Phạm Khắc Hàm)

      Giới thiệu Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu (Trần Từ Mai)

      Xuân Xưa Thơ Trước, Hồn Ngàn Mùa (Viên Linh)

      Bạch Đằng Giang Phú (Trương Hán Siêu)

      Thuật Hoài (Phạm Ngũ Lão)

      Thuật Hoài (Đặng Dung)

      Lâm Cảng Dạ Bạc (Nguyễn Trãi)

      Ngày Xuân Đọc "Đào Hoa Thi" của Nguyễn Trãi (Trần Uyên Thi)

      Thơ Lý Bạch (Đàm Trung Pháp)

       

        Thơ Tuyển:

       

      Tình yêu mẹ - Tình yêu con (Nguyễn Thu Hằng)

      Lòng Mẹ (Nguyễn Bính)

      Hẹn Anh Một Ngày Tái Ngộ (Ngô Minh Hằng)

      Những tháng tư buồn (Nguyễn Thị Hằng)

      Nỗi buồn tháng 4 (Huy Uyên)

      Khởi Hành (Trần Thúc Vũ)

      Quà Tặng Trong Chiến Tranh (Trần Mộng Tú)

      Mã Viện (tác giả: Vô Danh) (Nguyễn Văn Ngọc)

      Mẹ và sự lặng im (Trần Mộng Tú)

      Thơ Về Mẹ (Nhiều tác giả)

      Hai Chữ Nước Nhà (Trần Tuấn Khải)

      Đói (Bàng Bá Lân)

      Lời Mẹ Dặn (Phùng Quán)

      Nước Tôi (Nguyễn Văn Cổn)

      Thơ Tưởng Niệm Ngày 30 Tháng Tư (Nhiều tác giả)

      Thơ Tình Ngày Valentine (Nhiều tác giả)

      Kỷ Niệm Chiến Thắng Đống Đa (Hoàng Phong Linh)

      Thơ và Câu Đối Mừng Xuân (Nhiều tác giả)

      Quốc Nam, Quốc Việt (Hồ Bạch Thảo)

      Bài Thơ Vô Đề Viết Trong Trại Tù Tập Trung (Tú Kếu)

      Thơ Tưởng Niệm Các Anh Hùng Tử Sĩ ở Hoàng Sa (Nhiều tác giả)

      Thơ Tiền Chiến (Nhiều tác giả)

      Bình Giảng: Đời Đáng Chán và Tống Biệt của Tản Đà (Thạch Trung Giả)

      Tây Tiến (Quang Dũng)

      Đêm Liên Hoan (Hoàng Cầm)

      Văn Tế Trận Vong Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Cao Tiêu)

      Biên Cương Hành (Phạm Ngọc Lư)

      Thơ Xuân (Nhiều tác giả)

      Đồng Lầy (Nguyễn Chí Thiện)

      Ta Về (Tô Thùy Yên)

      Trường Sa Hành (Tô Thùy Yên)

      Kịch thơ: Hận Nam Quan (Hoàng Cầm)

       

        Tục ngữ (Proverbs)

       

      Tre già măng mọc

      Đục nước béo cò

      Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng

      Gà một mẹ đá nhau

       

        Danh Ngôn

        Đố vui (Puzzles)

       
       
  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)